[Trinh Thám] Mô Kim Quyết - Quỷ Môn Thiên Sư - Thiên Hạ Bá Xướng

Lười Biếng Vô Tận

Thanh Phong 37
Tham gia
5/4/19
Bài viết
21
Điểm cảm xúc
74
Điểm
13
Dịch: Đặng Nam

Tôi sợ hết hồn, lắp bắp nói: “Tôi nào có trêu chọc gì tỷ, cớ sao tỷ lại chỉ ngón tay vào mặt tôi?” Bỗng nhiên nghĩ tới cây đèn dầu đang cầm trong tay, phải chăng nữ thi áo đỏ đó không phải chỉ tôi mà là muốn chỉ vào cây đèn? Tôi trộm nghĩ: Cô ta muốn cây đèn này của mình à? Nửa đêm lại đi mượn đèn, có mỗi một cái cô mượn mất rồi thì tôi dùng bằng cái gì?

Lúc ấy tôi định lui ra, nhưng chợt phát hiện sau lưng thế nào mà lại là vách tường, giật mình một cái như tỉnh khỏi cơn mê, thì ra nãy giờ tôi vẫn ở nguyên trong Tây phòng, chưa bước nửa bước ra đến ngoài, lúc trước ngồi nói chuyện với hai người kia mãi một hồi lâu đâm ra vừa mệt vừa buồn ngủ, trong lòng tự nhủ chớ có ngủ quên nhưng cơ thể sớm đã không chịu nổi nữa rồi, bất tri bất giác chợp mắt lúc nào không hay, tình hình xảy ra trong mộng quá là quỷ dị, cây đèn dầu kia phải chăng có điểm nào đó đặc biệt? Tôi vội vàng muốn đứng lên, nhưng nhất thời đầu óc choáng váng xây xẩm, những hình ảnh quái dị cứ hiện lên như một bộ phim được tua lại, lúc thì là nữ thi ở gian phòng phía Đông kia, lúc lại là Lục Quân với cái đầu nát bét, hay cỗ hành thi bị dòi bám đầy mặt, con rết khổng lồ trên đỉnh mộ, Thái Hậu trong quách đá, đồng nữ tuẫn táng, con hồ ly đã dẫn chúng tôi chạy vào cổ mộ, tên chuột đất âm hiểm xảo trá, từng khuôn mặt không biết là người hay quỷ nối tiếp nhau vụt qua trước mắt tôi, xoay vòng vòng như một xoáy nước vô tận, mơ hồ nhìn giống đồ hình nhãn cầu được vẽ trên bức bích hoạ, tôi càng ngày càng bị cuốn sâu vào trong vòng xoáy, giống như là bị bóng đè, toàn thân trên dưới cứng đờ không thể cử động, miệng há to muốn nói nhưng nửa câu ú ớ cũng không thoát ra được, đúng vào lúc này, từ ngón chân bỗng truyền đến một loại cảm giác như bị thứ gì đó cắn xé! Tôi liều mạng giãy giụa điên cuồng, đột nhiên bật dậy được, chỉ nghe thấy tiếng bầy chuột đang gặm cửa vang lên không dứt bên tai, truyền đến từ cả cửa trước lẫn trần nhà. Hai chân tôi vẫn tạm thời chưa nhúc nhích được, không thể để im cho nó đem chân mình gặm thành xương trắng, bất quá con chuột này lớn kinh khủng, phải to ngang ngửa một con mèo, có lẽ nó đã sống được khá lâu cho nên dải lông trên sống lưng toàn bộ đều bạc trắng, lúc này đang ra sức cắn xé chiếc giày lính của tôi!

Thì ra mấy gian nhà trong thôn vốn không chắc chắn như chúng tôi vẫn tưởng, những con chuột ăn thịt người chỉ cần leo lên chóp tường, từ trên trần nhà gặm ra một cái lỗ lớn là đã có thể dễ dàng chui vào bên trong, con chuột đang cắn chân tôi chính là con đầu tiên mở đường xung phong, chung quanh tiếng chuột kêu chít chít cùng tiếng gặm gỗ phá cửa roàn roạt liên tục nện vào trong óc thật chẳng phải thứ gì dễ chịu, cũng không biết bầy chuột này rốt cuộc kéo tới bao nhiêu con nữa. Tôi vội vàng gọi Tuyền béo cùng Tiêm Quả đứng dậy, đồng thời tung người lên, giơ chân dùng sức hất một cái, đem con chuột kia đá văng ra ngoài. Hai người kia lúc này mới chợt bừng tỉnh, chỉ thấy trên nóc nhà lẫn dưới khe cửa liên tiếp có chuột bò vào, có con lao tới cắn đèn dầu, có con vồ tới hòng cắn người. Chúng tôi cũng không phải loại người mê tín, không hề tin vào khôi tiên gia gì gì đó, trước giờ chỉ thấy người đánh chuột chứ nào có thấy chuột gì mà lại dám đi cắn người? Ba người huy động mọi thứ có trong tay, xẻng công binh lẫn báng súng liên tục được giơ lên đập xuống, nhưng bầy chuột này không chỉ toàn thân lớn lên doạ người mà bản tính còn cực kỳ hung ác, hàm răng sắc bén, cửa gỗ cũng gặm nát, xẻng đập chẳng ăn thua!

Đúng vào lúc này, có một con chuột lớn phóng vọt nhảy lên bàn, lại không sợ bị bỏng, há miệng cắn vào cây đèn dầu. Một khi đèn tắt toàn bộ không gian trong phòng sẽ trở nên tối đen, chúng tôi hoàn toàn không thể đối phó với bầy chuột đang khắp nơi kéo đến kia được. Cũng may có Tuyền béo nhanh tay lẹ mắt, một xẻng vung lên liền đánh hạ được nó. Con chuột kia bị xẻng công binh đập cho một cái máu tươi phun tung toé khắp nơi, rơi xuống đất lộn mấy vòng, nhưng nó vẫn chưa hề từ bỏ ý định, tiếp tục xoay người đứng dậy hướng về phía bàn nhảy tới, Tuyền béo lao lên tung một cước, đem nó đá văng lên nóc nhà.

Đầu tôi như nổ “oanh" một tiếng, cuối cùng thì tôi cũng đã biết được lý do vì sao toàn bộ thôn dân lại bị bầy chuột ăn thịt rồi, tất cả đều là từ những cây đèn dầu mà ra! Có một con chuột chui vào trong phòng gặm giày của tôi chính là bởi vì lúc trước khi đang thắp đèn, tôi có sơ ý để vương một chút dầu lên trên mũi giày. Đèn dầu mà đám kim phỉ sử dụng ở trong thôn lẫn trong động đều là loại kình ngư cao thượng đẳng, đến cả nến cũng là làm từ kình ngư cao chứ không phải mỡ bò mỡ lợn thông thường, loại mỡ này chất lượng tuyệt hảo, thứ nhất đốt lên không làm người ta bị sặc, thứ hai lại không cay mắt, còn toả ra một mùi thơm thoang thoảng nhẹ nhàng, so với đèn dầu mà nông thôn hay dùng xịn hơn không biết bao nhiêu lần, nhưng không ai nghĩ tới chính nó lại hấp dẫn một bầy chuột đông như này kéo tới, bình thường người ta hay lấy kình ngư cao để châm đèn, dần dần khiến cho bầy chuột tưởng lầm, ở trong mắt bọn chúng thôn dân bây giờ chẳng khác gì mấy cây mỡ thịt di động, cho nên mới bắt đầu ăn thịt người, lâu ngày thành nghiện. Năm đó nhà cửa vườn tược rơi vào trong khe nứt, thôn dân cùng dầu đèn trong nhà đều bị bầy chuột chén sạch, mà nay chúng tôi châm dầu đốt đèn, chẳng khác gì mời gọi chúng đến. Còn như nữ thi áo đỏ trong Đông phòng kia, vì sao lại không bị bầy chuột động tới, nguyên nhân có lẽ là do trong đó không đốt đèn dầu. Tuy nhiên vẫn còn một khả năng khác có thể xảy ra, trước hết, nơi này ở sâu bên dưới khe nứt quanh năm âm u ẩm ướt, vậy tại sao cô ta sau khi chết lại khô quắt như thế được? Năm ấy binh hoang mã loạn, chiến tranh liên miên, lại ở nơi rừng thiêng nước độc rất hiếm khi có người qua lại như này, tìm đâu ra người để mua? Nói không chừng cái xác ấy là do kim phỉ đào ra từ trong một cái cổ mộ nào đó, thay áo đỏ treo đèn lồng giăng câu đối, tổ chức ra một cái đám cưới rồi ném vào trong động cho khôi đại tiên.

Tôi mới vừa rồi chợp mắt một chút, lại mơ thấy nữ thi áo đỏ tay chỉ cây đèn dầu, phải chăng là cô hồn dã quỷ muốn báo mộng? Hay là trong tiềm thức của tôi đã phát giác ra việc chính đèn dầu là nguồn gốc hấp dẫn bầy chuột mò đến? Tôi dù cho lá gan có lớn mấy đi chăng nữa cũng không dám nghĩ tiếp, chỉ thấy số lượng chuột chui được vào trong phòng càng ngày càng nhiều, vội vàng lên tiếng huýt sáo, tỏ ý bảo hai người kia cùng xông ra, vừa mới chạy tới trước cửa, chợt nghe một tiếng “ầm”, cánh cửa bị một thứ gì đó to lớn từ bên ngoài đẩy tung, một con chuột ăn thịt người còn lớn hơn cả con nghé trèo qua cánh cửa bị đẩy đổ bò vào, trên thân mọc ra hai cái đầu, một to một nhỏ, đôi mắt lấp loé giống như hồng bảo thạch.

Con chuột hai đầu tuy hành động chậm chạp, nhưng được cái ngu si thì tứ chi phát triển, ỷ vào cơ thể to lớn mà đẩy tung cánh cửa, có vài con nhỏ hơn nhảy vọt qua trước mặt nó đều lập tức bị cắn chết. Con chuột hai đầu hướng về phía chúng tôi một đường bò tới, tôi cùng Tuyền béo nhất thời bị nó đẩy ngã, hai cái đầu của nó chia ra hai hướng nhằm mỗi thằng mà cắn, hai chúng tôi vội vàng lăn một vòng về phía sau để né cú tấn công bất ngờ của nó. Tiêm Quả thấy tình hình bên này không ổn, xẻng công binh trong tay nhanh chóng vung lên đập bừa. Con chuột ăn một xẻng vào đầu, nhưng dường như chẳng thấm vào đâu so với nó, ngược lại còn quay đầu cắn chặt xẻng công binh. Một xẻng này Tiêm Quả đã dùng toàn lực mà thi triển, không còn sức đâu mà giật lại chiếc xẻng từ trong miệng con chuột hai đầu, lập tức bị nó kéo ngã, cái đầu còn lại nhe ra cặp răng cửa nhọn hoắt, hung hăng cắn về phía Tiêm Quả.

Giữa lúc ngàn cân treo sợi tóc, khẩu súng lục trong tay Tuyền béo bỗng nổ vang, “đoàng đoàng đoàng” liên tiếp ba phát súng bắn vào con chuột hai đầu, khiến nó phải rụt người lại về sau, nhả xẻng công binh ra. Tiêm Quả bên này tay vẫn túm chặt lấy cái xẻng đang cố gắng kéo ngược về sau, bị con chuột bất ngờ buông tha liền không tự chủ được lảo đảo mấy bước suýt ngã, cũng may va phải vách tường sau lưng. Con chuột hai đầu kia chỉ thoáng lui lại vài bước, tiếp đó hai đầu của nó liền phát ra một thứ âm thanh ghê rợn, lần nữa phá cửa mà vào. Ba người đều ở trong phòng, không gian chật hẹp, một khi nổ súng sẽ rất dễ ngộ thương đồng đội. Tôi cùng Tuyền béo nhanh trí, dùng chân đạp đổ cái chum bên cạnh giường đất, dầu đèn bên trong đổ tung toé khắp mặt đất. Bầy chuột trong phòng chen nhau bò lên, tranh nhau liếm dầu đèn. Tuyền béo đưa tay bắt lấy cây đèn trên bàn, đổ ụp lên đầu con chuột tinh kia, ngọn lửa lập tức bén tới rồi cháy bùng lên, đem bầy chuột lớn nhỏ đốt thành những quả cầu lửa, điên cuồng chạy toán loạn khắp phòng, từng tiếng kêu “chít chít” thảm thiết vang lên, toả ra một mùi hôi thối ghê tởm khiến người ta phải lợm giọng.
Tôi đem toàn bộ số dầu đèn dự trữ trong balo đổ ra, vẩy khắp xung quanh khiến cho những con đang bò sát gần ba người đều dính không ít dầu, nhất thời ngọn lửa bùng lên càng dữ dội hơn. Chúng tôi vội tranh thủ thời cơ chọc thủng lớp cỏ tranh lót trên trần nhà, vượt qua chóp tường thoát ra ngoài, bật đèn pha trốn vào trong khu rừng rậm bên ngoài thôn. Mấy người cắm đầu cắm cổ chạy loạn trong rừng một hồi, thẳng đến khi không còn thấy ánh lửa trong thôn đâu nữa, xung quanh tràn ngập sương mù, cũng không biết hiện tại đang ở nơi nào. Ước chừng năm đó, bầy chuột phải có số lượng nhiều hơn so với chúng tôi vừa gặp gấp trăm lần, sau khi không còn thức ăn lại bị vây khốn trong khe nứt này, bọn chúng chỉ còn cách quay ra tàn sát lẫn nhau, cho đến bây giờ cũng chẳng còn lại mấy, nếu không chúng tôi chưa chắc đã thoát ra được để mà chạy tới nơi này.

Ba người chúng tôi chạy liên tục một hồi lâu, sớm đã mệt đứt cả hơi, ngồi nghỉ một lúc mới cảm thấy đỡ hơn, đưa mắt quan sát xung quanh, chỉ thấy khắp nơi đều là đại thụ cao chọc trời, mặt đất bị một tầng lá mục thối rữa lâu năm phủ kín, lại có sương mù bốc lên dày đặc, rất khó để có thể phân biệt được Đông Tây Nam Bắc. Số đèn dầu lẫn kình ngư cao lấy được trong thôn lúc trước cuối cùng đều phải mang ra ném sạch, thứ có thể dùng để chiếu sáng được bây giờ chỉ có chiếc đèn pha cầm tay cùng chiếc đèn bão lấy được từ trong Liêu mộ. Ở trên núi còn có thể thông qua vị trí các chòm sao, dấu vết của động vật để xác định phương hướng, nhưng nơi này lại bị vùi lấp bên trong khe nứt trên núi, không chỉ không tìm được phương hướng cụ thể mà ngay cả bí thuật phong thuỷ tổ phụ tôi truyền lại cũng không mang ra sử dụng được. Trong đầu tôi mọi thứ loạn cào cào hết cả lên, cửa mộ dẫn xuống lòng đất nằm ở chính Bắc, khe nứt này lại chạy dọc theo trục Đông - Tây, lúc trước chúng tôi trông thấy luồng ánh sáng thần bí kia là ở phía Tây, vậy hẳn là nên tiếp tục đi về phía Tây. Nhưng nói thật, tôi cũng không biết nguồn gốc của luồng ánh sáng kia là thứ gì, tại sao lại lúc có lúc không, hơn nữa luồng ánh sáng kia quá lớn, cơ hồ xuyên thấu cả khe nứt, sâu trong khu rừng già này làm sao có thể kéo điện đến được, tuyệt đối sẽ không có thiết bị chiếu sáng nào lớn như thế!

Lại nói sau khi luồng ánh sáng kia biến mất, chúng tôi nếu cứ cố mò mẫm đi tìm, nói không chừng còn chẳng tìm thấy thứ gì, quanh đi quẩn lại có khi lại trở về chỗ cũ. Ngay cả khi thoát được khỏi nơi này thì những vấn đề mà tôi sẽ phải đối mặt sau đó cũng không phải là dễ dàng gì, đầu tiên là việc Lục Quân bỏ mạng bên dưới bức hoạ cửu vỹ hồ ly, sau là chuyện mấy người thanh niên tri thức tới tìm chúng tôi nhưng cuối cùng lại bị lưu sa chôn sống, lại không bắt được chủ mưu là tên chuột đất kia, nói mà không có căn cứ hay bằng chứng thì ma nào nó tin. Đang khi chúng tôi quanh quẩn một chỗ đắn đo suy nghĩ xem nên đi tiếp hay thế nào thì xung quanh bỗng nhiên sáng bừng lên, luồng ánh sáng kia lại xuất hiện trở lại, hơn nữa cách chỗ chúng tôi cũng không xa lắm, chẳng qua là ở trong sương mù nên nhìn không rõ. Sâu trong khu rừng im lặng như tờ, ba người bị luồng sáng to lớn kia chấn động, người nào người nấy đều là trợn mắt há mồm. Trong núi lớn đến một cái bóng đèn 20 Watts còn chẳng có, nào đã được thấy cái gì sáng khủng khiếp như thế này?

Tôi nói với Tuyền béo: “Để tôi đi lên trước nhìn một chút, vạn nhất nếu có tình huống nguy hiểm gì, hai người không cần đợi tôi, cứ nhanh chóng chia ra đột phá vòng vây, bảo vệ ngọn lửa cách mạng!”

Tuyền béo tỏ vẻ không đồng ý: “Cậu lại khoe tài rồi Nhất ạ, chúng tôi có thể chạy đi đâu mà phá vòng vây? Ba người chúng ta hiện tại chỉ như châu chấu đá xe, nếu thật có tình huống không đối phó nổi, người nào cũng đừng hòng chạy thoát được!” Trong lúc nói chuyện, đã có thể nhìn thấy thứ đồ vật phát ra luồng sáng kia, luồng sáng khổng lồ kia tựa hồ giống như một đám mây trên trời đi lạc xuống mặt đất vậy!

Ba người chúng tôi cả kinh, miệng há hốc nửa ngày chưa khép lại được, không thể nào hình dung được đây rốt cuộc cuộc là thứ gì, chẳng ai ngờ được trong khe nứt dưới lòng đất lại có một cái “cột điện" vừa cao vừa thẳng, đường kính của nó ước chừng phải đến mười người ôm mới xuể, toàn thân đều phát ra ánh sáng, một đầu chôn sâu xuống dưới đất, một đầu khác thông thẳng đến đỉnh núi phía trên, so với nó thì chúng tôi trông như ba con kiến hôi vậy. Thứ này căn bản vốn không thể nào xuất hiện ở nơi rừng sâu núi thẳm như này được, đừng nói là trong núi lớn, chúng tôi thậm chí lúc còn ở thành thị cũng chưa từng thấy qua, có nằm mơ cũng không nghĩ tới.

Tuyền béo vô cùng kinh ngạc và tò mò, đưa tay ra định sờ vào cột điện. Tôi liền chặn tay cậu ta lại: “Cái cột điện này hãy còn đang phát sáng, coi chừng điện giật lại giãy đành đạch chết tươi ra đấy!”

Tuyền béo đáp: “Đây là cột điện sao? Cậu định lừa ai đấy Nhất, đến đứa trẻ con cũng biết cột điện trông như nào, lại nói, các cậu đã thấy cái cột điện nào phát ra ánh sáng chưa?”

Tiêm Quả nói: “Hẳn không phải là cột điện đâu anh Nhất ạ, trước giờ nào có ai chế tạo được thứ thiết bị chiếu sáng lớn như thế này?” Chúng tôi cảm thấy lời của Tiêm Quả nói không sai, nếu như nói đây là một cái cột điện, vậy nó dùng để làm gì, cung cấp điện cho toàn bộ ngọn núi này? Hoàn toàn không cách nào tưởng tượng được, cung cấp điện cho cả một ngọn núi lớn là nhằm mục đích gì?

Tôi đánh bạo tiến lên sờ thử vào cây cột, từ lòng bàn tay truyền đến một cảm giác hơi âm ấm, vỏ ngoài xù xì, nhưng hoàn toàn không có dòng điện nào chạy qua, chỉ là ánh sáng vẫn liên tục phát ra từ nó, cường độ cũng không mạnh lắm. Có thể là Tiêm Quả nói đúng, đây quả thực không phải là một cái cột điện, bất quá chúng tôi lại không biết nên hình dung vật này như nào, nó đã vượt quá xa so với hiểu biết của cả ba người cộng lại.

Tuyền béo bước tới bên cạnh chỉ một cái: “Bên kia cũng có kìa!” Chúng tôi vội quay đầu lại nhìn, cách đó không xa cũng có một cái cột điện khác đang phát sáng, giống y hệt như cái chúng tôi đang thấy, cũng kéo thẳng tắp đến tận đỉnh núi, xuyên qua khe nứt, phát ra luồng bạch quang mà không ai có thể giải thích được. Phỏng chừng có một cái thôi cũng đã đủ khiến cho chúng tôi sợ đái ra quần rồi, đằng này lại xuất hiện thêm cái nữa, nghĩ nát cả óc cũng không biết đây là thứ gì?

Ba người cùng chạy đến gần, không chỉ xuất hiện thêm một cái này, mà phía trước còn có cái thứ ba, cái thứ tư, đến cái thứ… n, cái nào cái nấy giống nhau như đúc, chẳng qua là khoảng cách xa gần không đồng đều, phân bố rải rác, không tuân theo một quy tắc nào cả. Không thể hiểu nổi tại sao trong khe nứt này lại có nhiều cột điện đến thế, thứ này dùng để làm gì? Thứ duy nhất có thể xác định được chính là, cái gọi là cột điện này, so với thôn trang bị rơi xuống kia có niên đại còn sớm hơn, một bộ phận không nhỏ giống như bị khảm vào trong vách đá.

Cột điện đâm xuyên qua khe nứt, một phần chôn sâu dưới lòng đất, bên cạnh là rừng cây mọc dày đặc, cây cối bị rơi xuống tầng sâu dưới đáy, trăm nghìn năm qua không hề thấy qua ánh sáng mặt trời, thế mà đến giờ phút này vẫn không ngừng sinh trưởng, có hay không liên quan tới những cây cột điện này? Hay là sâu trong khe nứt có chôn giấu thứ gì đó? Lúc trước khi quan sát bức bích hoạ cửu vỹ hồ ly, tôi đoán rằng ắt hẳn phải có một món đồ thần bí đã hấp dẫn bầy hồ ly chui vào trong mộ cổ làm thành sào huyệt, tới chỗ này mới biết, từng cột điện phát sáng kia, có thể giúp cho cây cối bên trong khe nứt tiếp tục sinh trưởng phát triển, hồ ly có thể ở trong mộ né tránh bão tuyết cùng cái lạnh khắc nghiệt của Bắc Đại Hoang. Chúng tôi bây giờ chỉ còn cách là tiếp tục mò mẫm đi về phía trước dựa theo thế đi của khe nứt, một đoạn đường này vô cùng khó đi, không gian lúc rộng lúc hẹp, những chỗ rộng ít nhất phải hơn 1000 mét, nơi hẹp nhất cũng chừng 200 mét trở lên, hai bên vách đá dựng thẳng tắp tựa như được hàng trăm nghìn con dao đẽo gọt, có nơi còn cả thác nước chảy xuống. Chúng tôi lúc còn ở trong binh đoàn trấn thủ nông trường số 17 từng nghe dân du mục nói qua - nơi tiếp giáp giữa hoang nguyên và cánh rừng nguyên thuỷ, có một khe nứt sâu không thấy đáy, dân gian gọi là “âm dương phùng", một trăm nghìn năm mới xuất thế một lần. Một khi lỡ chân rơi vào, biến thành quỷ cũng không thoát ra được!

Ba người thất tha thất thểu bước từng bước nặng nhọc, cuối cùng đi tới một nơi, đường đi thu hẹp lại, chiều rộng giữa hai vách đá bất quá chưa tới năm mét ngang, vượt qua được đoạn khe nứt chật chội này, một không gian thông suốt rộng rãi liền hiện ra, thế nhưng khắp nơi đều là nước đọng, cao chưa tới đầu gối. Thì ra khe nứt lớn này chạy dọc theo hướng Đông Tây, địa thế phía Đông cao, phía Tây thấp, bề ngang ngày một thu hẹp, càng đi về phía trước thì càng sâu, thỉnh thoảng có thể gặp được xương thú, toàn bộ đều là từ trên cao rơi xuống té chết, ngẩng đầu lên cũng không thấy ánh mặt trời. Chúng tôi cố gắng tìm những phiến nham thạch cao nhô cao hơn mặt nước để đặt chân, đem cành khô gỗ khô nhặt đường ven đường làm thành bó đuốc, dùng để chiếu sáng phòng khi tới những nơi tối tăm cần dùng.

Tuyền béo ở phía trước mở đường, tôi cùng Tiêm Quả bám theo ngay sau lưng cậu ta, đang đi chợt cảm thấy phiến đá dưới chân có gì đó sai sai, thứ này không phải là nham thạch, bên trên mọc một lớp rêu dày, nhìn qua không có gì khác biệt so với những phiến đá khác, nhưng mà đôi giày lính chúng tôi đang đeo vừa dày vừa nặng, gót giày được chế tạo từ nhiều lớp da trâu, còn được đóng một vành sắt hình chữ “U”, phía mũi giày có ba mươi sáu chiếc đinh chống trượt, dậm chân bước một cái, gót sắt thế mà lại vang lên những tiếng “đang đang” trầm đục, giống như đạp phải một tấm sắt. Ba người thoáng sửng sốt, tại sao trong khe nứt lại có một cái vỏ sắt lớn như này?

Tuyền béo dùng xẻng công bình gạt bỏ rong rêu cùng bùn đất, quả thật là một cái vỏ sắt đã bị gỉ sét, hơn phân nửa chìm trong nước, xe tăng cũng không thể nào lớn đến như vậy, chưa thể nhìn ra là cái gì, bên cạnh có một cái khoá vô lăng dường như để mở cửa khoang. Ba người líu lưỡi không nói nên lời, tất cả những cây cột điện phát sáng kia đều nối đến chỗ này?

Mời các bạn đón đọc chương tiếp theo “Thiết Bị Chiếu Sáng (Hạ)” đăng tại page Hội những người nghiện truyện của Thiên Hạ Bá Xướng
 

Lười Biếng Vô Tận

Thanh Phong 37
Tham gia
5/4/19
Bài viết
21
Điểm cảm xúc
74
Điểm
13
Dịch: Đặng Nam

Tôi quan sát hồi lâu, trong hang động lộ ra một cái vỏ sắt đã gỉ sét lâu ngày, giống như một cái cửa khoang, thứ mà đáng ra chỉ có ở trên những chiếc chiến hạm, tàu chiến ngoài biển.

Tuyền béo nói: “Trong rừng sâu núi thẳm như này tàu chiến vào thế quái nào được?”

Tôi đáp: “Tôi làm sao mà biết được thứ này là từ nơi nào tới, đã thế đại bộ phận lại còn chìm trong nước nữa chứ.”

Tiêm Quả nói: “Có lẽ bên trên khe nứt hồi trước có một con sông, thứ này là từ bên trên rơi xuống, giống như cái thôn kia vậy…” Lời còn chưa nói hết, Tuyết béo đã nóng lòng lắm rồi, lập tức nhảy lên muốn đem cửa khoang mở ra, khoá vô lăng xoay mặc dù đã bị gỉ sét nặng nề nhưng lại không bị khoá chết ở bên trong, xoay xoay mấy cái là có thể mở ra được, bên trong tối om như mực, một mùi ẩm mốc mục rữa xộc thẳng ra ngoài.

Ba người chui qua cửa khoang, đèn pha trong tay đã được bật sẵn, chỉ thấy trong khoang thuyền có vài chiếc rương gỗ cực lớn, mốc meo từ lâu, nhưng vẫn có thể lờ mờ nhận ra được bên trên mỗi chiếc rương đều có một đồ hình giống hệt nhau - hình một vòng tròn phía trên thiếu mất một góc, chính giữa là một chữ “Ánh". Chúng tôi đoán rằng có lẽ đây chính là đồ hình của Mãn Châu Ánh Họa thời kỳ quân Nhật chiếm đóng vùng Đông Bắc, giống như việc đường sắt Mãn Châu hay được gọi tắt là “Mãn Thiết", “Mãn Ánh" là một đơn vị chuyên về quay phim chụp ảnh, có nhiệm vụ quay phim tài liệu dạng nhật ký chiến trường cho quân đội Nhật lúc bấy giờ.

Nghe nói năm đó quân Nhật chiếm lĩnh được vùng Đông Bắc, từng thành lập một đơn vị Mãn Châu Ánh Họa như vậy, sản xuất ra một số bộ phim tài liệu chiến trường, trong lứa thanh niên chúng tôi bấy giờ, không ít người đã được xem qua. Bất quá đồ đạc bên trong rương gỗ đã bị ẩm mốc làm cho hư hại, cũng chẳng phải thứ gì quý giá, chỉ là một ít máy quay phim lỗi thời cùng giá đỡ, đèn chụp. Rương gỗ bên cạnh có một bộ xương khô đang đeo một chiếc túi vải, tôi từ trong túi tìm được một chiếc la bàn hành quân, phía dưới đáy có một cái nắp, mở ra mới thấy bên trong trang bị hơn mười mấy cây diêm loại có thể chống được nước, trên đầu bọc một lớp phốt-pho, thiết kế vô cùng xảo diệu. Ngoài ra còn có một cuốn sổ ghi chép cũng là loại chống nước, tôi mở ra thử đọc sơ qua một lượt, bên trong chi chít toàn chữ là chữ ghi lại nhật ký hành quân, tôi đem la bàn nhét vào trong ngực, đang muốn nhìn kỹ một chút nội dung trong cuốn nhật ký, nước trong khoang thuyền bỗng nhiên dâng lên rất nhanh. Tuyền béo vội vàng gọi tôi: “Đi mau, con thuyền này sắp chìm rồi!”

Tôi thế nhưng không hề cảm thấy bên trong khoang thuyền có một chút rung lắc cả, hẳn không phải do con thuyền này đang chìm xuống, mà là trên núi có mưa lớn như trút nước, khiến cho nước đọng bên trong khe nứt nhanh chóng dâng lên cao. Ba người không kịp tìm kiếm thêm thứ gì khác, vội vàng chui ra cửa khoang, trèo lên tầng nham thạch ở chỗ cao ráo, đi về phía trước lại thấy một khe nứt chật hẹp khác, tối mù không một chút ánh sáng. Chúng tôi thấy khe nứt này vừa sâu vừa dài, thật không biết có điểm cuối hay không, mặc dù ai cũng nóng lòng muốn thoát khỏi nơi đây, nhưng các cụ đã nói rồi: dục tốc thì bất đạt, cho nên mấy người bèn quyết định dừng chân ngay dưới vách đá, ngồi xuống nghỉ ngơi cho lại sức. Mỗi người chia nhau ăn hai cái bánh đậu, lại thắp sáng đèn bão, mở cuốn nhật ký ra, ghé vào dưới ánh đèn cẩn thật lật xem từng trang một.

Nhật ký mặc dù được viết bằng chữ Nhật, nhưng trong đó phần lớn lại là chữ Hán, chúng tôi có đoán mò cũng hiểu được hơn phân nửa nội dung. Thì ra tên quỷ tử viết cuốn nhật ký này là một ký giả kiêm nhiếp ảnh gia của Mãn Châu Ánh Họa, lúc ấy ngoài hắn ra Mãn Ánh còn có vài tên nhân viên nữa, tuân lệnh cấp trên quay một bộ phim tài liệu về quân đội và viết bản tin tuyên truyền về thắng lợi vẻ vang của chủ nghĩa đế quốc, mục đích không có gì khác ngoài việc che đậy sự thật rằng đế quốc Nhật Bản vĩ đại trên chiến trường Thái Bình Dương đã bị đánh cho tan tác, triệt để đầu hàng, nhiệm vụ hằng ngày của hắn chủ yếu là vác máy đi quay và viết truyền tin. Vào thời điểm đó, những bộ phim tài liệu như vậy đều phải được ưu tiên chiếu trước trong các rạp chiếu bóng, có phim khoe ra vùng đất thiên đường do Nhật hoàng cai trị, có phim kể lại cuộc thảo phạt mã hồ tử của hoàng quân, mã hồ tử chính là tên để gọi đám thổ phỉ của người dân Đông Bắc. Tên nhiếp ảnh gia này được phân công đến một đội thảo phạt quân, nghe nói trong núi sâu có một đám kim phỉ, dựa vào địa thế hiểm trở của núi rừng mà nhiều lần kháng cự lại hoàng quân. Thế nhưng sau khi vào núi, thảo phạt quân không hề tìm được thôn kim phỉ, núi cao trước kia không ngờ giờ lại biến thành một con sông lớn, cái thôn kia có lẽ đã bị chìm sâu dưới đáy nước.

Đội quân kia trên danh nghĩa là vào núi tiễu phỉ giúp dân, nhưng thực ra là vì muốn dòm ngó mạch vàng trong núi. Thế nên bèn điều tới con sông này không biết bao nhiêu là tàu chiến các loại, sục sạo tìm kiếm khắp mọi ngóc ngách, cứ thế liên tục ba ngày, cuối cùng đến một cọng rác cũng chẳng mò lên được, đã thế con sông lại còn bất chợt phát sinh biến cố, toàn bộ nước sông bị hút xuống một cái huyệt động lớn, đội thảo phạt quân cùng đám tàu chiến tất cả đều bị rơi vào trong khe nứt. Thiêu thân đã lao vào lửa thì làm sao quay lại, đã rơi xuống đây cách nào mà trở ra? Trong cuốn nhật ký do tên ký giả kia để lại, có ghi chép khá đầy đủ và chi tiết những thông tin tình báo về đám kim phỉ, bao gồm việc kim phỉ cung phụng khôi đại tiên gia, ném người sống vào trong động vàng để hiến tế, ngay cả số lượng súng đạn trong thôn có bao nhiêu bọn chúng cũng biết, từ đó có thể thấy rằng đội thảo phạt quân này đã có chuẩn bị mà đến. Nhưng không một ai có thể nghĩ tới không chỉ không tìm được cái thôn đấy, mà ngược lại toàn bộ hạm đội tàu chiến lại bị rơi vào khe nứt trong núi. Khi đó vì bị dòng nước ngăn trở cho nên đội thảo phạt quân người Nhật chỉ có thể đi sâu tiếp vào bên trong, nhưng không hề tìm thấy thôn kim phỉ. Bọn chúng tình cờ phát hiện thấy trong khe nứt một bức bích nham, trên đó có vẽ đồ đằng mặt trời, tượng trưng cho một loài thực vật vô cùng to lớn. Những nhánh dây leo trải dài của nó có thể xuyên thủng đất đá, thông qua rừng rậm phía trên để hấp thụ ánh nắng mặt trời trong núi, rồi lại lần nữa nhờ vào những sợi dây leo đấy truyền dinh dưỡng vào lòng đất, từ đó khiến cho bên trong khe nứt xuất hiện cỏ cây, thậm chí mọc lên cả một cánh rừng rộng lớn.

Người cổ đại gọi chủng loại thực vật đặc biệt này là “thái dương toái phiến” (Trans: Mảnh vỡ của Mặt trời), chính là bảo tương hoa tương truyền trong kinh Phật, cho nên còn được gọi “Phật hoa”. Từ thời nhà Đường đến nay trong kinh Phật có ghi chép lại nhiều thông tin liên quan đến Phật hoa, trong đó nói rằng bảo tương hoa đứng thứ nhất trong 24 loại Phật hoa, là mảnh vỡ do Mặt trời tạo ra, có thể xuyên qua đại địa, vạn trượng quang minh, chiếu khắp thập phương thế giới, thường vẫn hay nói là bát phương nhưng thực ra còn phải kể đến hai phương trên và dưới nữa, trên chỉ trời, dưới chỉ đất. Truyền thuyết về bảo tương hoa đã từng theo các thuyền buôn vượt biển mà du nhập vào Nhật Bản, cho nên tên ký giả Mãn Ánh này cũng biết qua đôi chút. Lúc ấy đội thảo phạt quân đi phía trước để tìm lối ra cũng không trở lại nữa, những người còn sót lại hoặc chết hoặc bị thương nặng, tên ký giả này cũng nằm trong số những người bị thương, mắc kẹt lại bên trong chiến thuyền nửa chìm nửa nổi này, nhật ký đến đây là chấm hết. Tình huống về sau như nào không cần nói cũng hiểu, toàn bộ thảo phạt quân Nhật Bản đều chết hết, táng thân trong lòng đất.

Chúng tôi chợt như bừng tỉnh sau cơn mê dài, đồ hình được khắc trên bức bích họa chỗ cánh cửa đá không phải là nhãn cầu như mấy người vẫn lầm tưởng, mà là bảo tương hoa được ghi chép trong kinh Phật, những đạo quang mang tạo thành vòng xoáy xung quanh, chính là những sợi dây leo của bảo tương hoa vươn ra khắp bốn hướng tám phương. Mỗi sợi đều to khủng bố mấy chục người ôm không xuể thế kia, vậy không biết bảo tương hoa còn to lớn đến mức nào nữa?

Nếu như nói đồ hình nhãn cầu kia là để chỉ bảo tương hoa bên trong khe nứt, vậy thì thứ mọc trên đầu người phụ nữ được miêu tả trong bức bích họa kia là có ý gì? Bảo tương hoa có thể phát sáng lại mọc ra từ trên đầu ả ta? Tôi nhớ trước kia từng có truyền thuyết kể về thiên nữ bạt, thiên nữ bạt cao chừng gần hai đến ba thước, mắt mọc ra ở trên đỉnh đầu, đi qua nơi nào thì nơi đấy mặt trời chói chang treo cao ba ngàn trượng, ngàn dặm không một bóng mây, là lão tổ của hạn bạt. Khi Hiên Viên Hoàng đế vẫn còn tại vị, trong đám thủ hạ xuất hiện một tên loạn thần tặc tử, tên là Xi Vưu, hắn chẳng những là người sáng tạo ra đao kích đại nỏ, mà còn giỏi sử dụng sương mù, ỷ mình là vô địch thiên hạ, xúi giục bách tính trăm họ đứng lên tạo phản, đoạt lấy giang sơn của Hiên Viên Hoàng đế. Hai người đại chiến một trận ở vùng hoang sơn dã lĩnh bên ngoài Trác Lộc, Xi Vưu cho thả ra một đoàn sương mù dày đặc, đại quân của Hiên Viên Hoàng đế toàn bộ đều bị sương mù làm cho mê muội đầu óc, không tài nào phân biệt nổi phương hướng xung quanh, suốt ba ngày ba đêm vẫn chưa thoát ra được khỏi trùng vây của quân địch. Lúc này vừa hay Cửu thiên Huyền nữ hạ phàm, liền truyền cho Hiên Viên Hoàng đế cuốn Âm Phù Bí Sách, giúp ngài chế tạo ra được một loại xe, gọi là Chỉ Nam Xa. Trên xe có đặt một hình nhân bằng gỗ, dù cho bánh xe có di chuyển theo hướng nào đi chăng nữa thì ngón tay của hình nhân vẫn sẽ chỉ chính xác về hướng Nam, nhờ có cỗ bảo xa này mà Hiên Viên Hoàng đế đã đại phá được âm mưu của Xi Vưu. Tuy thua trận này nhưng Xi Vưu vẫn chưa hề từ bỏ dã tâm của mình, dưới trướng của hắn còn có hai tên thủ hạ đắc lực là Phong Bá và Vũ Sư, có thể hô phong hoán vũ, khiến cho đại quân của Hiên Viên Hoàng đế trong nháy mắt chỉ còn lại là một đám tàn quân. Ngài lúc này đành phải lần nữa thỉnh Thiên Nữ Bạt hạ phàm, Thiên Nữ Bạt có một loại bản lĩnh thông thiên chính là tạo ra nguồn sáng với nhiệt lượng lớn kinh khủng, so với năng lượng Mặt Trời toả ra không biết mạnh hơn gấp bao nhiêu lần, quả nhiên là khắc tinh của mưa gió, một lần nữa âm mưu của Xi Vưu lại bị phá vỡ, bản thân thì bị truy đuổi chém giết gắt gao. Máu huyết của Xi Vưu chảy ra vương vãi khắp nơi, biến thành Diêm Trì (Trans: Hồ muối) ở thành Bắc Khánh Dương Phủ, nay thuộc tỉnh Thiểm Tây. Nội dung được mô tả lại trong bức thánh tung đồ kia có lẽ chính là để chỉ Thiên Nữ Bạt, với một con mắt làm từ thái dương toái phiến nằm ở trên đỉnh đầu. Thứ đồ mà tên chuột đất muốn tìm kiếm khả năng cao là một loại quả do bảo tương hoa kết thành. Hắn ta ban đầu vốn tưởng rằng bảo tương hoa sinh trưởng ở trong Liêu mộ, nhưng cuối cùng vẫn không thể ngờ được rằng toàn bộ toà Liêu mộ này chỉ là lối vào bên ngoài mà thôi. Mặc dù dựa theo những ghi chép còn sót lại của đám lính Nhật kia đã giúp chúng tôi giải đáp được thắc mắc về những lời trăn trối cuối cùng của Nhị Hổ, nhưng nó đồng thời cũng dập tắt hết hi vọng của mọi người: trong khe đất này không thể tìm được lối ra!

Tuyền béo nói đám lính Nhật kia chỉ là lũ bù nhìn của chủ nghĩa quân phiệt thối nát, làm sao có thể so sánh cùng với chúng ta được? Cái gì mà lên chín tầng trời hái ánh trăng rằm? Thế nào là vượt năm đại dương bắt con sóng lớn? Đường đường là đấng nam nhi đầu đội trời chân đạp đất, cơ hội hãy còn ở ngay trước mắt, không xông lên đoạt lấy há chăng lại làm con rùa đen rụt cổ đánh trống thu quân? Các cậu nghĩ xem, hồng quân năm xưa viễn chinh hơn hai mươi lăm ngàn cây số vất vả biết nhường nào, quân địch thì vây khốn tầng tầng lớp lớp không có lối thoát, phi cơ đại pháo thì dí ngay sát sau đít, đến vỏ cây cũng không có mà nhai, leo núi tuyết vượt thảo nguyên, gặp bao nhiêu khó khăn gian khổ, chẳng phải cuối cùng cũng chạm tay tới được thành công đấy ư? Hơn nữa, kiểu quái gì mà chẳng chết, vươn cổ ra thì cũng chỉ một đao là hẹo mà rụt cổ lại thì cũng từng ấy đao là lên đường mà thôi, trái phải đều là chết, sợ hãi thì có ích gì? Cho dù có thể chạy thoát, lương khô nước uống chẳng có, sống lâu thêm được mấy ngày hay chết sớm thêm được mấy bữa thì khác gì nhau? Không bằng liều mình một phen, thử xem bảo tương hoa kia rốt cuộc là thứ gì, dân gian có câu gì ý nhỉ? Chết ở Hoa Hạ, thành quỷ cũng phong lưu!

Tôi với Tuyền béo chưa bao giờ có suy nghĩ tham sống sợ chết cả, chỉ là không muốn Tiêm Quả vì chúng tôi mà mất mạng một cách oan uổng. Tiêm Quả dường như nhìn ra được nét lo lắng hiện lên trên khuôn mặt chúng tôi, liền nói: “Lần trước lúc hãy còn ở nông trường số 17, gặp phải đàn sói dữ trong bão tuyết, chúng ta vẫn có thể kiên trì đến cùng đó thôi, tôi tin rằng lần này cũng vậy, chỉ cần mọi người đoàn kết nhất trí một lòng, nhất định sẽ thoát được ra ngoài!” Suy nghĩ trong đầu khẽ động, tôi chợt nghĩ ra một cách, những sợi dây leo vươn ra từ bảo tương hoa có thể đâm thủng được cả núi đá, trong túi chúng tôi vẫn còn một vài khối thuốc nổ, nếu như vào được trong huyệt động rồi cho nổ tung bảo tương hoa, nói không chừng lại có thể mở ra được một lối thoát, bất quá bảo tương hoa quá lớn, từng này thuốc nổ chưa chắc đã đủ dùng, cách này của tôi liệu có khả thi hay không còn phải chờ xem thế nào đã. Nhưng trước mắt mà nói, đây có lẽ là giải pháp và lối thoát duy nhất!

Ba người thương lượng xong xuôi, quyết định sẽ đi tới cùng, nhưng mực nước dâng lên quá nhanh, thế nước cũng dần biến thành những dòng chảy xiết đứng, có thể thấy trận mưa trên núi quả thực không phải là nhỏ. Địa thế trong khe nứt cao dần về phía Đông, thấp về phía Tây, nước đọng lại càng ngày càng cao, chẳng mấy chốc đã tạo thành một dòng sông ngầm. Chúng tôi vội vàng tăng tốc, hai tay bám lấy những sợi dây leo rủ xuống từ trên vách đá, chân dẫm vào những khối nham thạch chưa bị nước nhấn chìm, dè dặt tiến về phía trước một cách hết sức cẩn thận, chỉ sợ chẳng may trượt chân rơi xuống một cái, sẽ bị dòng nước chảy xiết cuốn trôi đi đâu cũng không biết nữa.

Mặc dù cả ba chúng tôi đều biết bơi cả, nhưng chẳng may trong lúc hoảng loạn giữa dòng nước, không cẩn thận để đầu va phải nham thạch, thì thôi xác định đi gặp hai đồng chí Lê-nin Các-mác dần là vừa. Ước chừng đi được ba trăm bước, từ địa thế chật hẹp của khe nứt bỗng lộ ra một thạch quật vô cùng rộng lớn, trông hệt như một cái đấu lộn ngược vậy, hai bên vách động dốc thẳng tắp, cách nhau hơn ba mươi trượng, góc cạnh rõ ràng, khe nứt giống như từng tầng sóng biển, được sắp xếp ngay ngắn chỉnh tề theo thứ tự, khiến người ta nghĩ ngay tới đây là một tác phẩm nhân tạo do ai đó tạo nên. Chúng tôi leo lên một mỏm đá lớn, dùng đèn pha chiếu về phía trước, chỉ thấy một biển nước mênh mông đen kịt hiện ra, tiếng nước chảy “rào rào rào rào" vang dội không ngớt bên tai, xem ra đường đi đến đây thế là hết rồi.

Tuyền béo bèn thò chân xuống nước xem thử sâu cạn ra sao, nếu như không quá sâu, chúng tôi vẫn có thể men theo mép nước mà đi tiếp, nào ngờ biển nước trông rộng lớn như thế, nhưng lại chảy xiết vô cùng. Cậu ta vừa mới duỗi chân ra, suýt nữa đã bị cuốn trôi vào trong dòng nước. Tôi và Tiêm Quả vội vàng lôi cậu ta lên trên mỏm đá, Tuyền béo lè lưỡi một cái: “Cha tiên sư nhà nó, ai biết được dòng nước bỏ mẹ này lại vừa sâu vừa xiết như thế chứ, nặng như tôi cũng chịu chết!”

Tiêm Quả nói: “Nước đọng đang dâng lên rất nhanh, cứ đợi mãi ở chỗ này cũng không phải là an toàn, hay ba người chúng ta bám lấy nhau rồi men theo mép đá mà đi, hẳn sẽ không bị nước xiết cuốn trôi đâu.”

Tôi nói: “Tôi đuối lắm rồi không còn mấy sức nữa đâu, thằng cha Tuyền béo kia nặng như thế, chân lại còn đi đôi giày quân dụng chắc trình trịch, một khi xuống nước rất khó mà đứng vững, có thể thấy khe nứt này chênh lệch rất lớn, nước chảy xiết quá sức tưởng tượng của chúng ta, cũng không biết phải đi đến lúc nào nữa, chúng ta tốt nhất chớ nên cầm cái mạng nhỏ này đem ra đánh cược một cách mạo hiểm như vậy.”
Tiêm Quả nói: “Thế nước càng ngày càng lớn, cứ chôn chân ở đây thì chỉ có con đường chết mà thôi, phải mau nghĩ cách đi chứ!”

Tuyền béo gắt: “Trong lòng cô có coi tôi ra cái gì không thế? Nam nhi sức dài vai rộng để làm cái gì? Không dám nói mấy chuyện to tát như xuống biển lớn bắt ba ba này nọ, nhưng trèo đèo lội suối tuyệt không thành vấn đề.” Vừa dứt lời, cậu ta liền vứt khẩu súng săn trong tay sang một bên, lấy xẻng công binh cạo bỏ bùn đất bám trên vách đá, định bụng sẽ trèo lên vách khe nứt bò dần về phía trước, nào ngờ cậu ta chợt khựng lại, ngạc nhiên thốt lên: “Đây là cái thứ quái quỷ gì vậy?”

Tôi cùng Tiêm Quả tiến lên xem thử, thấy trên vách đá quả thật có rất nhiều nham bích cổ xưa, là từng khuôn mặt quái vật dữ tợn, nửa người nửa quỷ, vây quanh một cái đồ đằng bảo tương hoa, bốn phía còn có vài nham bích tả cảnh chim bay cá nhảy khác, nội dung sắp xếp lung tung không hề tuân theo một quy tắc nào cả. Những nham bích chim cá kia cũng hết sức quái dị, có lẽ chính là hình thái nguyên thuỷ của chúng, những giống loài này khéo đã sớm tuyệt diệt từ lâu mất rồi. Tiêm Quả từng được nghe những tay thợ săn trong thôn kể lại, hang đá sâu trong núi thường hay có sơn quỷ qua lại, không biết liệu có phải là đám quái vật được vẽ lại trên các bức nham bích này hay không? Tuyền béo nói: “Cô em lại toàn nghe mấy lão ấy nói phét rồi, rừng sâu núi thẳm đến một bóng người còn chẳng có, bới đâu ra quỷ?”

Tôi đáp: “Tôi trước kia cũng cho là khu vực Hắc Sơn Đầu này toàn bộ đều là rừng rậm nguyên thuỷ không dấu chân người, nhưng nào ai nghĩ tới nơi này ấy thế mà lại có hẳn cả một toàn Liêu mộ khổng lồ, còn có kim phỉ thôn, cho nên nói trong khe nứt vạn năm không thấy ánh sáng mặt trời này xuất hiện gì mà sơn quỷ này nọ cũng không hề kỳ quái.”

Tuyền béo nói: “Cậu thật đúng là, như thế mà còn bảo là không kỳ quái? Cậu không nghe đám thợ săn Ngạc Luân Xuân nói sao? Sơn quỷ chính là cương thi trong núi, còn được gọi là sơn bạt, người sống hay người chết đều là thức ăn của nó cả. Nói cương thi ăn thịt người sống thì còn nghe được, đằng này lại còn ăn thịt người chết nữa, cương thi không phải là đã chết rồi sao? Người chết ăn thịt người chết thì còn ra cái thể thống gì? Cậu cũng được sinh ra dưới lá cờ đỏ cách mạng, tắm ánh mặt trời mà lớn lên, tại sao trong đầu đặc toàn tư tưởng mê tín dị đoan vậy, lại đi tin mấy cái truyền thuyết ba láp ba lếu này là thật!”

Tôi bất đắc dĩ nói: “Tôi chỉ mới nói đúng có một câu mà cậu đã sồn sồn hết cả lên là thế nào?”

Tuyền béo vẫn gân cổ lên nói: “Tôi đây không phải là vì lo lắng cho cậu sao? Thân là chiến hữu cách mạng cùng kề vai sát cánh, thấy ý thức tư tưởng của cậu bắt đầu lệch lạc, nếu như tôi không giúp cậu ghìm cương trước bờ vực, biết sai mà quay đầu, thì làm sao xứng với hai từ chiến hữu?” Trong lúc hai thằng tôi nói chuyện, mực nước vẫn nhanh chóng dâng cao.

Tiêm Quả nói: “Nơi này sắp chìm trong biển nước rồi, hai người các anh có thể để lúc khác hãy thảo luận vấn đề này được không?”

Tuyền béo nói với tôi: “Cậu nghe xem Tiêm Quả người ta ăn nói thế nào kìa, người ta không giục hai chúng ta đi mau, mà là hỏi nhẹ nhàng tình cảm xem hai ta có thể chờ lúc khác thảo luận hay không, cái này gọi là chiến hữu đối đãi với nhau ấm áp như mùa xuân vậy! Còn cái thể loại nhà cậu, người khác vừa mới chỉ ra vấn đề hòng giúp đỡ, còn chưa thèm phê phán câu nào, thì cậu đã sưng cái mặt gân cái cổ lên, cãi lại như mấy con mụ hàng tôm hàng cá ngoài chợ…” Tuyền béo là loại người chỉ sợ thiên hạ không loạn, gặp ai cũng giở cái giọng giáo huấn, một khi có người tiếp chuyện, cậu ta liền ngoạc cái miệng ra bắn như súng máy liên thanh, nói thâu đêm suốt sáng cũng không thấy mệt. Giờ mà đợi đến khi nước dâng lên cao, súng săn, thuốc nổ, lương khô, mồi lửa chúng tôi mang theo đều có thể bị ẩm không dùng được nữa, cho nên tôi nào có tâm tư cùng cậu ta đốp chát, bảo Tiêm Quả bám sát sau lưng tôi, đem đèn bão treo lên đầu súng, dẫn đầu đoàn người leo lên vách đá, vừa mới bước được một chân ra đã bị Tuyền béo lôi xuống, tôi nghĩ thầm: Thằng cha này hôm nay bị dở chứng à mà còn dông dài như thế, còn không mau không đi nhanh, muốn thành ma chết trôi cả lũ hay sao?

Nào ngờ vừa quay đầu lại, liền thấy sắc mặt hai người Tuyền béo cùng Tiêm Quả có gì đó không ổn, bọn họ đang ngửa đầu nhìn lên, đèn pin trong tay chiếu tới bên trên vách đá. Tôi thấy vậy liền biết ngay có chuyện không hay, cũng đúng lúc này, một mùi xác thối tởm lợm xộc thẳng vào hai cánh mũi, tôi vội vàng quay đầu lại, lập tức phát hiện một thứ toàn thân lông lá, cao chừng ba thước, tứ chi bám chặt lấy vách động, đang nhanh chóng bò qua chỗ chúng tôi.

Tốc độ của nó rất nhanh, chớp mắt một cái đã tới trước mặt tôi, treo ngược trên vách động, thứ này tuy trông đầu không lớn lắm nhưng khi nó vừa ngửa mặt lên, một khuôn mặt to đùng liền hiện ra, không có lông, loang lổ chỗ trắng chỗ đỏ, răng nanh trong miệng cái nào cái nấy đều sắc nhọn như dao, đôi mắt quái dị bắn ra kim quang lấp lánh khắp bốn phía, móng vuốt vươn ra định cào vào mặt tôi. Tôi giật mình kinh hãi, thì ra truyền thuyết sơn bạt là có thật, tuy nhiên không phải là do cương thi biến thành, đây có lẽ là một giống vượn núi nguyên thủy nào đó còn sót lại, tướng mạo hết sức kinh khủng, lại thêm toàn thân bốc mùi hôi thối như xác chết, hay qua lại nơi hang cùng ngõ hẻm trong rừng sâu núi thẳm, nên rất dễ bị người ta nhận nhầm là sơn quỷ.

Trong lúc tôi hãy còn đờ đẫn vì sợ hãi, móng vuốt của sơn bạt đã vồ tới, khoảng cách giữa tôi và nó quá gần, không tài nào né kịp. Móng vuốt của nó tựa như những cái móc sắt, ngay cả da thô thịt dày như lợn rừng cũng có thể một phát xé toạc. Tôi lúc ấy toàn thân run lên, xác định cái mặt này không giữ được nữa rồi, chưa hẳn là sẽ chết, nhưng mà đến mặt còn không còn thì sau này biết sống như nào đây? Nếu sớm biết sự tình sẽ thành ra như thế này, tôi đã dứt khoát cầm luôn cái mặt nạ bằng vàng ra khỏi địa cung, may ra còn chống đỡ được một nhát cào, nhưng ở đời làm gì có cái gọi là “sớm biết”! Mặc dù Tuyền béo phía sau còn có cây súng săn, nhưng khổ nỗi cậu ta lại đang đeo ở trên lưng, trong lúc vội vàng cấp bách cũng không kịp lấy xuống, cậu ta phồng mồm trợn má hét to làm bộ hăm dọa, cho rằng có thể khiến cho sơn bạt sợ chạy, tuy nhiên lại chẳng có tí tác dụng nào.

Lòng tôi cảm thấy tuyệt vọng vô cùng, đành chỉ biết nhắm mắt chờ chết, trong lúc ngàn cân treo sợi tóc, Tiêm Quả bỗng nhanh trí bật ngọn đèn pha trong tay, một luồng ánh sáng chói lòa rọi thẳng vào mặt sơn bạt. Nó rú lên một tiếng quái dị, suốt bao năm qua nó đã quen sống trong huyệt động tối tăm u ám, thị lực phát triển khác thường, cực kỳ nhạy cảm đối với ánh sáng, trong khi đó luồng sáng cực mạnh từ đèn pha lại chiếu tới ở khoảng cách quá gần, khiến nó nhất thời không thể mở nổi mắt, vội vàng thu móng vuốt lại che ở trước mắt. Tôi thầm kêu một tiếng: Hú vía! Tiêm Quả mặc dù cũng từng được học qua các khóa huấn luyện quân sự ở binh đoàn, nhưng tính cách cô ấy vốn như thuận, từ trước tới giờ mỗi khi gặp chuyện gì nguy hiểm thì đều có tôi cùng Tuyền béo, Lục Quân, ba người sẵn sàng che chở ở phía trước, không nghĩ tới lần này chính cô ấy lại cứu tôi một mạng trông thấy!

Nói thì chậm nhưng mọi chuyện diễn ra rất nhanh, nhân lúc sơn bạt rút tay về che mắt, tôi liền chớp thời cơ rút thanh quân đao ra, nhưng còn chưa kịp động thủ, Tuyền béo đã xông lên tấn công trước, cây xẻng công binh trong tay vung lên đập mạnh vào đầu, khiến cho sơn bạt phải hét lên một tiếng thảm thiết, rơi ùm xuống nước, chớp mắt đã bị dòng nước xiết cuốn đi nơi nào không rõ. Nước sông vẫn dâng lên không ngừng, mới đó mà đã ngập qúa bàn chân ba người. Chúng tôi đành trèo lên mỏm đá lớn hơn, cách mặt nước một khoảng chừng năm, ba trượng, chẳng mấy mà cũng sẽ bị ngập trong nước, không có lấy một chỗ dung chân.

Tuyền béo thấy dòng nước chảy xiết kinh người, lúc này mới hiểu được tình cảnh hung hiểm biết nhường nào, liên tục hối thúc: “Đi mau! Đi mau! Nước sắp ngập cả núi rồi!” Chúng tôi sau khi tiến vào trong khe nứt, vẫn luôn một mực đi về hướng Tây, mặc dù không biết đã đi được bao xa, nhưng tôi đoán chừng bên trên đã không phải là Hắc Sơn Đầu nữa rồi. Khe nứt kéo dài bên dưới lòng đất từ Đại Hưng An Lĩnh đến tận thảo nguyên hoang mạc phía Tây, vùng này địa thế trũng xuống, hết thảy bốn phía đều là đầm lầy ẩm thấp, phù sa hôi thối sâu không thấy đáy, một khi gặp phải trận mưa kéo dài liên tục mấy ngày liền sẽ biến thành một cái phễu lớn. Chúng tôi lại vừa vặn đứng ở nơi tương đối chật hẹp giữa các tầng đá nứt, từ trên vách động dù cho có đi nhanh hơn chăng nữa, cũng không nhanh bằng tốc độ chảy của sông ngầm, không thể không dính chút nước, nhưng nước sông lại chảy xiết vô cùng, tài bơi lội dù cho có khá đến mấy một khi rơi vào trong nước cũng đành bó tay. Tình hình lúc này vô cùng khẩn cấp, không còn thời gian để nghĩ ra một biện pháp nào khác hay hơn, chỉ có thể đi thêm được bước nào thì hay bước đó!

Tôi vẫy tay ra hiệu, gọi Tuyền béo cùng Tiêm Quả mau trèo lên, nào ngờ đèn pha vừa lia qua một cái, liền phát hiện vô số cặp mắt quái dị toả ra kim quang lấp lánh, thì ra quanh đây không chỉ có duy nhất một con sơn bạt, đếm sơ sơ trong tầm mắt cũng phải có ít nhất hơn chục con. Sơn bạt giống như vượn cổ, không thích sống ở những nơi bằng phẳng, quanh năm suốt tháng chỉ sống dưới lòng đất âm u ẩm thấp, rất sợ ánh sáng, có thể bò qua bò lại trên vách đá cheo leo hiểm trở tựa như giẫm trên đất bằng vậy, do thường ăn xác chết cho nên trên người lúc nào cũng bốc lên một mùi hôi thối kinh người. Bảo tương hoa sinh trưởng ở sâu trong địa mạch, không phải lúc nào cũng phát sáng, mà dựa vào chu kỳ ngày đêm, tuỳ theo dương khí hay âm khí mạnh nhẹ mà luân phiên chớp tắt. Lúc này bên ngoài mưa như trút nước, bảo tương hoa không thể phát sáng, khe nứt lại rơi vào một mảnh đen nhánh, khiến cho sơn bạt vốn trốn trong núi bây giờ đồng loạt đi ra! Ba người chúng tôi bị vây lại trên tảng đá, một bên là vách đá thẳng đứng, ba mặt là nước sông chảy xiết, căn bản không còn đường nào để lui, đành phải liều mạng chiến đấu với đám quái vật kia vậy.

Tuyền béo thì dùng súng săn của cậu ta, còn tôi cùng Tiêm Quả thì mỗi người một khẩu súng lục, bắn loạn xạ lên vách đá. Có mấy con sơn bạt bị trúng đạn, trực tiếp rơi thẳng xuống nước, lại thêm vài con mon men tiến gần cũng bị chúng tôi dùng xẻng công binh đập bay vào trong nước, đám sơn bạt còn lại rú lên những tiếng quái dị để gọi đồng bạn tới, tiếng sơn bạt gào thét tới lui bị vách đá phản lại hệt như tiếng ma kêu quỷ khóc, khiến con người ta không rét mà run. Nước sông càng ngày càng dâng cao, chớp mắt đã nhấn chìm tảng đá dưới chân, nếu không phải chúng tôi cố gắng bám víu lấy nhau thì đã sớm bị dòng nước xiết cuốn vào sông ngầm.

Cả ba vô cùng tuyệt vọng, thà bị sơn bạt ăn tươi nuốt sống còn hơn là bị nước sông cuốn đi, trong lúc nguy khốn bản năng cầu sinh trôi dậy, giãy giụa một hồi cũng chưa chắc đã bị chết chìm, bất quá đồ đeo trên người lại quá nặng, không bỏ xuống thì bơi giỏi đến mấy đi nữa cũng vô dụng! Nếu muốn không bị chết chìm, mấy thứ như mũ quân dụng, giày lính, xẻng công binh, vũ khí đạn dược, còn có bi-đông nước, thuốc nổ tự chế, thậm chí ngay cả lương khô cũng đều phải vứt bỏ. Không có những thứ này, nếu may mắn không bị chết chìm trong lòng sông thì cũng đừng hy vọng có thể sống sót mà thoát ra. Cũng chẳng phải là do tiếc rẻ cái gì, chỉ là ba chúng tôi nãy giờ vẫn còn đang phải lo đối phó với đám sơn bạt từ trên vách động kéo tới, căn bản không có thời gian mà tháo bỏ trang bị.

Trong lúc hỗn loạn, đèn pha trong tay đung đưa lên xuống vô tình chiếu tới mặt nước, tôi liền liếc thấy từ phía thượng du sông ngầm có một vật màu đen thùi lui trôi tới. Thì ra đó là một gốc cổ thụ trong cánh rừng nguyên sinh dưới lòng đất kia, ước chừng phải mấy người ôm mới xuể, chính giữa thân cây đã bị mục ruỗng khiến cho nó cứ lơ lửng trên mặt nước không thể chìm xuống được. Cơ hội trời cho như vậy không thể để vuột mất, thời gian lúc này là vàng là bạc, tôi không kịp do dự, vội gọi Tuyền béo một tiếng, đưa tay kéo lấy Tiêm Quả rồi cả ba cùng nhảy tới ôm lấy thân cây, sóng nước dập dềnh đẩy thân cây đi, nhanh chóng tiến sâu vào trong khe nứt, quay đầu lại nhìn chỉ thấy đám sơn bạt đã sớm bị bỏ lại tít phía sau. Ba người chúng tôi ai nấy đều cảm thấy kiệt sức, hổn hà hổn hền thở lấy từng hơi dài, toàn thân trên dưới ướt sũng như chuột lột, chẳng buồn nhúc nhích lấy một cái, đến nỗi tiếp theo là sống hay là chết, hết thảy đều giao phó cho ông trời mà thôi.
Đầu óc tôi mơ mơ màng màng, nhưng tay vẫn ôm chặt lấy khúc gỗ không dám buông, trong lúc mông lung rối bời chợt nhớ tới lúc tổ phụ truyền thụ lại quyển “Lượng Kim Xích” cho tôi như thế nào, nhớ tới khi hưởng ứng lời hiệu triệu thanh niên của Mao Chủ tịch lên núi về quê đến biên cương tham gia sản xuất, nhớ những ngày ở nông trường số 17 đào đất đắp hào gặm bánh ngô, cùng đồng đội gói sủi cảo, ngồi trên kháng đất nghe kể truyện “Biển tuyết mênh mông”, nhớ lại trận chiến với bầy sói hoang giữa cơn bão tuyết, để rồi bị một con hồ ly dẫn theo vào trong toà Liêu mộ này, nhớ cảnh tôi và Tuyền béo ở Hắc Thuỷ Giang trông ruộng dưa cùng tán phét,... Khúc gỗ trôi nổi bập bềnh trên dòng nước xiết đen ngòm lúc cao lúc thấp, cả người dường như bị ai đó tung lên không trung rồi lại lập tức ném xuống vực thẳm vật, ký ức trong đầu hết thảy đều trở nên hỗn loạn mơ hồ, tựa như tất cả đều chỉ là chuyện của kiếp trước, đã quá xa xôi.

Tôi cứ thế chìm dần vào trạng thái vô tri vô giác lúc nào không hay, phải qua một hồi lâu tinh thần mới bình tĩnh trở lại, tốc độ chảy của sông ngầm đã dần dần chậm lại, không còn mãnh liệt như trước. Tôi kêu Tuyền béo cùng Tiêm Quả ở phía trước mau mở đèn pha quan sát tình hình xung quanh, bốn phía đều là biển nước mờ mịt, hai bên vách đá cũng biến mất không thấy đâu nữa, dòng chảy tuy đã chậm hơn nhưng vẫn không ngừng đổ về phía trước. Tôi lấy la bàn ra xem xét phương vị, chỉ thấy kim la bàn vẫn luôn chỉ thẳng về hướng Tây. Trước mắt tạm có thể nói ba chúng tôi đã tìm được đường sống giữa vạn lối chết, chuyện trên đời trước giờ đều là trong cát có hung, trong hung có cát, người tuy có lúc nghịch thiên, nhưng thiên không tuyệt đường người, nếu nước sông không chảy mạnh, chưa chắc chúng tôi đã có thế vượt qua nơi sơn bạt trú ẩn. Đám quân Nhật năm đó, có lẽ toàn bộ đều bỏ mạng tại chỗ đấy.

Tôi nói với Tiêm Quả: “Lúc ấy thật đúng là nguy hiểm, may mà có cô nhanh trí dùng đèn pha chiếu vào mặt sơn bạt, nếu không giờ này tôi đã phải đi gặp đồng chí Mao Chủ tịch rồi!”

Tiêm Quả trong lòng vẫn còn sợ hãi: “Cũng may mà thoát nạn, tôi chỉ sợ vạn nhất…”

Tuyền béo chen cái miệng vào, nói: “Cô yên tâm đi, cậu ta thì có cái gì mà vạn nhất chứ, cái bản mặt tiểu nhân kia đến chó còn chê chẳng thèm liếc một cái, nói gì đến chuyện được Mao Chủ tịch gọi tới gặp mặt?”

Nói rồi cậu ta quay sang nói với tôi: “Nếu như dòng sông ngầm này chảy thông tới huyệt động nơi bảo tương hoa sinh trưởng, chúng ta bám lấy cây gỗ này xuôi dòng, vậy chẳng phải là không tốn công tốn sức cuốc bộ nữa rồi? Cậu bảo nếu cho nổ tung gốc rễ của bảo tương hoa thì thật sự có thể mở ra khe nứt phía trên ư?”

Tôi sợ cậu ta đắc ý quá mà đâm ra lơ là mất cảnh giác, liền nói: “Tôi không dám đảm bảo khe nứt này sâu đến chừng nào, cũng chẳng biết chính xác vị trí nơi bảo tương hoa sinh trưởng là ở đâu, huống chi một khi cho nổ nơi này, chúng ta chưa chắc đã có thể toàn mạng thoát ra.”

Tuyền béo ai oán nói: “Con bà cậu sao không nói sớm từ trước, biết thế tôi đã vứt mẹ đống thuốc nổ đi rồi, cậu có phải đeo một mả đồ đạc như tôi đâu mà biết nó nặng như thế nào, suýt nữa bị nó kéo chìm xuống đáy rồi, con mẹ nó chứ không chết đuối thì cũng chết chìm!” Tôi nghe lời này của cậu ta thật là ngứa tai, vài khối thuốc nổ kia thì nặng được bao nhiêu cơ chứ? Có chết chìm thì cũng là do khối vàng tổ ong mà cậu ta lúc trước sống chết phải mang theo!

Trên người Tuyền béo chính là chiếc balo quân dụng, phần lớn thợ săn ở vùng Đại Hưng An Lĩnh này đều sử dụng những trang bị do quân Nhật hoặc quân Liên Xô bỏ lại, chẳng hạn như giày lính, bi-đông nước, thậm chí còn có cả súng ống quân đao, vô cùng bền chắc hữu dụng, người Đông Bắc hay gọi là “kháng tạo”! Trang bị của quân Nhật đều được đặt tên theo niên hiệu, balo sản xuất năm Chiêu Hoà thứ mười ba thì được gọi là balo Chiêu Hoà mười ba, rất đơn giản và trực quan. Chiếc balo này của Tuyền béo không lớn lắm, sức chứa có hạn, cho dù có nhét đầy đồ thì cũng nặng được bao nhiêu cơ chứ? Huống chi bên trong balo lúc này cũng chẳng đựng gì nhiều, chỉ có vài băng đạn súng lục, mấy viên pin dự phòng dùng cho đèn pha, dăm ba miếng lương khô cứng hơn cả đá, chục viên đạn súng săn, một khối vàng tổ ong lớn, tất cả đều do Tuyền béo dọc đường nhặt đường, cũng đã tiêu hao không ít, lúc trước còn chẳng thấy cậu ta há miệng ra than lấy một chữ “nặng”. Cậu ta một lần có thể ăn hơn ba mươi cái bánh bột ngô, một cái balo nhỏ như vậy làm sao có thể khiến cậu ta cảm thấy nặng quá được chứ? Khi nước sông ngầm cuốn tới, thì lúc cậu ta nhảy từ trên mỏm đá xuống khúc gỗ mục, đã sớm phải bị sức nặng của balo kéo xuống đáy sông.

Tôi không thể không thừa nhận, đúng như Tuyền béo từ trước tới nay vẫn nói, tôi vốn là một người đa nghi. Thật đúng với câu: “Người nói vô tâm, người nghe hữu ý", cậu ta chỉ thuận miệng nói một câu như vậy, cũng đủ khiến tôi suy nghĩ rất nhiều, chẳng hiểu sao tôi cứ cảm thấy như có gì đó không đúng! Tôi quay đầu lại nhìn, chiếc balo đã bị Tuyền béo ném lại đằng sau, tôi muốn kiểm tra xem chiếc balo ấy có thực sự nặng như lời cậu ta nói hay không, nếu đúng là quá nặng thì có thể đem khối vàng kia vứt bỏ, bị vây khốn trong khe nứt tối tăm không có lấy một tia sáng mặt trời này, một khối vàng thì có tác dụng gì chứ, so ra còn chẳng bằng một khối lương khô! Nào ngờ tôi vừa đưa tay ra nhặt lấy chiếc balo, cự nhiên không thể nhấc nổi. Tôi nghĩ thầm, thế này chẳng phải kỳ quái quá rồi hay sao? Sao chiếc balo này lại nặng đến thế được cơ chứ? Bên trong rốt cuộc có chứa vật gì? Những thứ tôi có thể nghĩ tới đều không thể nặng như vậy, Tuyền béo nửa đường lại nhặt được thêm thứ gì sao? Hay là cậu ta “tiện tay" đem toàn bộ mấy khối vàng tổ ong trong thôn nhét vào trong balo? Đã nói với cậu ta biết bao nhiêu lần rồi - phải đấu tranh với bản thân, loại bỏ tư tưởng tham tài tham lợi ngay từ trong trứng nước, tại sao cậu ta vẫn không chịu nghe, tôi mà không ném hết đồ của cậu ta xuống nước, cậu ta hãy còn chưa biết cái gì gọi là kỷ luật kỷ cương! Nghĩ đến đây, tôi liền gia tăng thêm chút khí lực vào cánh tay, một lần nữa nhặt chiếc balo lên, thế nhưng nó vẫn không chịu nhúc nhích. Tôi cảm giác được không phải là do balo quá nặng, mà là có ai đó ở phía sau cũng đang túm chặt lấy nó, không muốn để tôi mang nó đi.

Số người tiến vào Liêu mộ quả thật không ít, Lục Quân bỏ mạng oan uổng dưới bức bích hoạ cửu vỹ hồ ly, tay thợ săn Đại Hổ thì biến thành hủ thi bên trong địa cung, đám thanh niên tri thức từ Hắc Thuỷ Giang chạy tới cứu viện cũng đều bị lưu sa chôn sống, Trăn Tử mạng lớn có lẽ đã chạy thoát được ra ngoài, tên chuột đất Nhị Hổ thì ngã gãy cổ mà chết trong hang động tuẫn táng, đầu lìa khỏi xác, chỉ còn tôi cùng Tuyền béo, Tiêm Quả, ba người một đường chạy được đến đây, làm gì còn ai sống sót nữa, vậy thì kẻ nào đang trốn đằng sau chiếc balo kia? Người đầu tiên tôi nghĩ tới chính là sơn bạt, nhưng ngẫm lại cũng không đúng, sơn bạt không thể nào nằm im bất động như vậy được! Lúc này tim tôi đập thình thịch, nhưng ngoài mặt vẫn cố giữ vẻ bình tĩnh như không, vạn nhất chỉ là quai đeo bị vướng vào đâu đó thì chẳng phải có cớ cho Tuyền béo cười tôi thối mũi à, tôi cũng không muốn cho cậu ta cơ hội lên giọng chỉ bảo. Nhưng nghĩ lại, không phải là do tôi khẩn trương nóng lòng quá mà nghi thần nghi quỷ, trông gà hoá cuốc, chẳng phải Tuyền béo cũng kêu rằng chiếc balo bỗng nhiên trở nên quá nặng? Lúc chúng tôi nhảy lên khúc gỗ mục, nhất định đã có thêm thứ gì đó bám theo!

Sau khi nguồn sáng duy nhất là “bảo tương hoa" biến mất, khắp nơi đều chìm trong bóng tối đen kịt như hũ nút, chỉ dựa vào ánh đèn pha rất khó để nhận ra có người bám theo phía sau hay không, từ khi con hồ ly giở trò ở nông trường số 17, chuyện lạ chúng tôi bắt gặp còn chưa đủ sao? Nghĩ đến đây, tôi liền bảo Tiêm Quả mau hướng đèn pha chiếu lại về phía sau, một tay nắm chặt thanh quân đao, một tay dùng sức mở chiếc balo ra, hai người kia không biết tôi muốn làm gì, còn chưa kịp để họ lên tiếng tôi đã giật toạc chiếc khoá kéo, ba người vừa nhìn thấy thứ lẫn trong balo, lập tức phát hoảng, sắc mặt ai nấy đều xám ngoét, không phải người sống cũng chẳng phải là sơn bạt, mà là đồng nữ tuẫn táng bên trong quan tài của chủ mộ!

Trong quan tài của Thái hậu nước Liêu kia có bốn đồng nữ tuẫn táng, đặt ở giữa quách đá bên ngoài và quan tài bên trong, hai bên mỗi bên một người, một người tay nâng bảo kính bằng đồng thau, một người tay cầm chuỷ thủ, trên nắp quan tài có một người bưng trường minh đăng, phía dưới còn có một đồng nữ khác nằm ngay dưới chân, trên cổ đeo một cái ngân bài, bên trên có ghi bốn chữ “tiếp tiên dẫn thánh". Bốn đồng nữ tuẫn táng này bất quá chỉ mới bảy, tám tuổi, trên người đều mặc trang phục của cung nữ. Nếu mà để nói kỹ thì rất là dài dòng, cho nên tạm không nhắc đến ba đồng nữ kia mà chỉ quan tâm đến người được đặt ở dưới chân chủ mộ này, theo như trong táng chế xưa thì được gọi là tiếp dẫn đồng nữ, là người dẫn đường cho chủ mộ, hai gò má cùng đôi tai đều được tô son đỏ chót, phục sức trên người có thêu hình vẽ hoa sen, đỏ xanh rõ ràng, chân nhỏ xỏ trong đôi hài như ý vân đầu lũ, phần lớn đã bị mục rữa chuyển thành màu đen. Tên chuột đất kia là vì một thứ kêu là “trái cây” mà tới, nhưng trong mộ thất cũng không hề có thứ này, biết bao kỳ trân dị bảo, vàng bạc châu báu hắn cũng chẳng thèm ngó ngàng tới, cũng không động đến ba đồng nữ kia, chỉ có đồng nữ tiếp dẫn này là được hắn mang theo ra ngoài, tôi hoàn toàn không nghĩ ra mục đích cuối cùng của tên chuột đất là cái gì.

Bên trong huyền cung, hai gian bảo điện Đông Tây đều có đồng nam đồng nữ tuẫn táng, là một nghi thức mở đường cho chủ mộ, số đồng nam đồng nữ tuẫn táng ấy không dưới mấy chục người, xung quanh quan tài cũng có bốn vị, vậy cái vị nằm dười chân chủ mộ kia có gì khác thường so với những người còn lại? Cái nghề trộm mộ này chuyên lấy đồ cổ bên trong hầm mộ, từ thứ lớn như tượng ngọc đến thứ nhỏ như tiền đồng ngậm trong miệng xác chết, ngay cả ván đóng quan tài cũng đáng giá chút tiền, nhưng lại chưa có ai dở hơi đi móc lấy xác chết mang về nhà làm gì cả, thắp hương thờ cúng cho vui à? Lui mười nghìn bước mà nói, nếu như quả thật có quỷ, chẳng lẽ lại chỉ có mỗi một tên tiểu quỷ này thôi sao, sau đó tên chuột đất rơi xuống hố tuẫn táng mà bỏ mạng, cái xác đồng nữ này bị hắn bỏ lại bên trên thạch đài, chúng tôi mặc dù đã mở cái bao tải ấy ra, nhưng mọi thứ vẫn không có gì khác lạ cả. Đến khi xuống được hang đá bên dưới, ánh sáng đèn pha vô tình lướt qua một cái, tôi rõ ràng đã thấy cái xác đồng nữ này xuất hiện ngay trước mặt tôi, nhưng lúc soi cho kỹ thì lại chẳng thấy đâu nữa. Mà cũng phải nói, nếu như khi ấy tôi không bước lại chỗ cái xác vừa mới xuất hiện để kiểm tra, chưa chắc tôi đã tìm được đường thoát ra ngoài. Trước tôi cũng không dám nói vị đồng nữ này âm hồn bất tán, chỉ cho chúng tôi một con đường sống, thậm chí không có cách nào để xác định liệu có phải là tôi nhìn nhầm hay không nữa. Lúc này xem ra, nó vẫn một mực bám theo sát phía sau chúng tôi!

Lúc Tuyền béo nhảy lên khúc gỗ mục, cái xác đồng nữ này từ phía sau níu lấy chiếc balo đeo trên lưng cậu ta, cho nên mới khiến cho nó bỗng nhiên trở nên nặng đến như thế! Tuyền béo lúc ấy nóng lòng chạy thoát thân, căn bản không có thời gian để suy nghĩ nhiều, sau đó thuận miệng nói một câu, mới khiến tôi chú ý tới. Khúc gỗ mục trôi nổi giữa dòng nước ngầm, chỉ có chiếc balo này là có thể trốn vào, nếu như không phải do tôi suy nghĩ cẩn thận, dứt khoát mở tung chiếc túi ra kiểm tra, sợ rằng đến giờ chúng tôi cũng không biết đến sự tồn tại của nó! Thật khiến cho người ta càng nghĩ lại càng cảm thấy đáng sợ, một cơn rùng mình truyền từ lòng bàn chân thẳng lên tận đỉnh đầu - tại sao đồng nữ kia lại muốn cùng chúng tôi thoát ra ngoài?

Tuyền béo giật mình, nói: “Con bà nhà nó, tại sao tôi lại đem tên tiểu quỷ ra theo thế này?” Tiêm Quả cũng bị doạ cho sợ tái mét mặt, đem đèn pha cầm trong tay ném ra. Tôi vội vàng nhặt lấy, chiếu thẳng từ đầu tới chân cái xác một lượt, ánh sáng từ đèn pha chiếu lên có để lại vết bóng phản chiếu lại đằng sau, chứng tỏ đây không phải là quỷ. Dáng dấp hình dạng của quỷ ra sao tôi cũng chưa từng được thấy qua, nhưng nghe nói ở dưới ánh đèn sẽ không để lại bóng, thường nói bên trên suy nghĩ là một tầng hữu hình vô chất, do oán khí cùng sát khí hoá thành, trước kia dân gian mê tín đều truyền miệng nhau như vậy. Mà cái xác đồng nữ trước mặt chúng tôi lúc này có thể nhìn thấy sờ được, nói như vậy hẳn không phải là quỷ. Bất quá nó đã chết được hơn nghìn năm rồi, hình hài đã sớm mục rữa, mặt mũi méo mó không thể nhìn ra, làm sao lại có thể cử động được? Thứ khiến cho tôi có cảm giác sợ hãi nhất chính là - đồng nữ tuẫn táng này vẫn còn có ý thức, ít nhất tôi thấy nó là cố ý trốn ở sau lưng chúng tôi, có quỷ mới biết nó muốn làm cái gì!

Tôi ngẫm nghĩ một lúc, tên chuột đất kia là truyền nhân của quỷ môn thiên sư, đôi mắt cú mèo tầm kim đoạt bảo đã sớm luyện thành thục, từ trong địa cung mang ra theo cái xác đồng nữ này chắc chắn phải có một nguyên nhân đó, người trong đạo môn phần lớn đều rất mê tín - muốn đắc đạo thành tiên thì phải trải qua cửu tử thập tam tai (Trans: 9 cái chết, 13 cái nạn), cái xác đồng nữ đã chết hơn nghìn năm này có phải hay không hấp thụ tinh hoa của long mạch, có thể thể tránh tai thoát nạn? Nếu như quả thật có chuyện như vậy, cớ sao tên chuột đất vẫn phải bỏ mạng một cách thảm thiết như vậy? Lại nói cái gì mà bị lừa, phải chăng là nói đến cái xác này?

Nghĩ tới đây, trong lòng càng cảm thấy sợ hết hồn hết vía, có phải hay không là do tên tiểu quỷ này giở trò gì đó, khiến cho tên chuột đất không thể tìm thấy thứ gọi là “trái cây" bên trong địa cung, hơn nữa còn chết oan uổng? Chúng tôi từ trong động tuẫn táng thoát được tới đấy, cũng không phải là do chưa đến lúc tận số, mà là tên tiểu quỷ này chỉ cho chúng tôi một con đường sống. Trong lúc nhất thời trong đầu tôi vô số ý niệm dồn dập kéo tới, Tuyền béo và Tiêm Quả cũng không suy nghĩ nhiều đến như vậy, chỉ thấy cái xác đồng nữ này trốn trong balo cũng đã đủ giật mình, đáng sợ nhất là không thể biết được ý đồ thực sự của tên tiểu quỷ này là gì? Nếu như nói nó cố ý hại người, trên đường nãy giờ không hề thấy nó quấy phá gì cả; nếu như nói nó muốn núp ở phía sau cùng chúng tôi chạy ra ngoài, vậy cũng không đúng, theo như dân gian mê tín - người chết không nên thấy tam quang, tam quang là từ để chỉ ba thứ sau: một là ánh nắng mặt trời, hai là ánh trăng và ba là ánh sao, thấy ánh nắng thì hồn phi phách tán, còn ánh trăng ánh sao thì là âm quang, thấy vào liền sẽ biến thành phi cương. Một cái xác đồng nữ tuẫn táng đã chết hơn nghìn năm bên trong mộ cổ, muốn mượn hơi ba người sống chúng tôi chạy ra ngoài, rốt cuộc nó muốn đi đâu? Người sau khi chết nhập thổ vi an, gặp phải đất dữ tức thành cương thi, đều bởi vì người ta có ba hồn bảy vía, hồn thiện mà vía ác, nhập thổ bất an là bởi vì phách vía hãy còn chưa siêu thoát, khiến cho thi thể không bị thối rữa, trăm năm thành hung, nghìn năm thành sát. Sống trên nghìn năm thì càng trở nên hung ác, ban ngày trốn trong huyệt mộ ban đêm mới lò dò bò ra, có thể nuốt mây giết rồng, chỗ nó đi qua nghìn dặm cỏ cây khô héo, đất đai khô cằn, có giăng thiên la địa võng cũng không cách nào tận diệt, chỉ có Phật tổ giáng thế mới có thể đem nó hàng phục.

Tuyền béo luôn miệng nói hắn không tin ma quỷ thần phật, nhưng lúc lên núi tham gia sản xuất, mấy loại chuyện mê tín này cũng đã được nghe không ít lần, huống chi cái xác đồng nữ kia lại đang ở ngay trước mặt hắn, khiến cho cậu ta muốn không tin cũng không được, cho dù lá gan có lớn đến mấy thì trong lòng vẫn không khỏi sợ hãi. Cái xác mặc dù không hề nhúc nhích cử động, nhưng mà cóc ghẻ nhảy đến chân không cắn cũng đủ khiến cho người ta giật mình rồi! Cậu ta trừng mắt một cái, lấy khẩu súng săn trên lưng xuống, xem ra là muốn cho tên tiểu quỷ này ăn no một băng kẹo đồng, rồi sau đó một cước đạp thẳng xuống sông!

Mời các bạn đón đọc chương tiếp theo “Thuỷ Quỷ Dưới Lòng Sông” đăng tại page Hội những người nghiện truyện của Thiên Hạ Bá Xướng
 

trucxinh0505

Xóm nhỏ phố núi
Thành viên BQT
Administrator
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,856
Điểm cảm xúc
1,702
Điểm
113
Chương 16: Thủy thủy dưới lòng sông
Dịch: Đặng Nam

Tuyền béo lăm lăm trong tay cây súng săn tự chế, muốn cho con tiểu quỷ trước mặt một viên kẹo đồng thẳng mặt, nào ngờ cả súng lẫn đạn đều đã bị ngấm nước sông, đúng cái lúc quan trọng lại tậm tịt không bắn được. Còn súng lục thì đã sớm hết sạch đạn từ lúc đối phó với đám sơn bạt kia, còn chưa kịp thay băng khác vào. Tôi bảo cậu ta chớ có nôn nóng, việc gì phải phí đạn như thế? Dù gì cái xác khô này cũng đã chết hơn nghìn năm rồi, có bắn thêm mấy chục phát đi chăng nữa thì cũng có để làm gì đâu? Nếu như đứa bé đồng nữ này thật có đạo hạnh, thì một cây súng săn cổ lỗ sĩ từ đời nảo đời nào rồi cũng làm gì được nó chứ. Tôi cảm thấy lai lịch của cái xác này rất là mờ ám, nó có ý tốt hay không còn chưa biết, nếu như không tìm ra được chân tướng rõ ràng của chuyện này, tương lai tất sẽ xảy ra hậu hoạn khó lường! Vì vậy, tôi liền bảo Tuyền béo thu thập lại chỗ lương khô, pin dự phòng, bật lửa bị tung ra lúc nãy nhét cả vào balo, vạn nhất rơi xuống sông ngầm thì có muốn khóc cũng không được. Tôi lại đưa đèn pha cho Tiêm Quả cầm, chùm ánh sáng hướng thẳng vào cái xác đồng nữ, đồng thời móc balo lấy ra một băng đạn, tra vào ổ súng lục. Tôi nhanh chóng xắn tay áo lên cao, thanh quân đao nắm chặt trong tay, hít một hơi dài đánh bạo tiến đến trước mặt cái xác, tôi là muốn xem xem rốt cuộc tại sao một cái xác khô nghìn năm như nó lại có thể cử động, bám theo sau chúng tôi được?

Tuyền béo ở phía sau nói: “Cậu cứ cẩn thận đấy, đừng để cái con tiểu quỷ kia nó bóp cho gãy cổ!”

Tôi đáp: “Đứa bé này cùng lắm mới chỉ ba, bốn tuổi, còn tôi sớm đã lên núi đao xuống biển lửa hừng hực sức trai, đi khắp trời cao đất rộng rèn luyện ý chí, sóng to gió lớn nào mà chưa từng thấy qua, những ngần này tuổi rồi còn sợ quái gì bọn trẻ con miệng còn hôi sữa mẹ này?”

Tuyền béo nói ngay: “Ngần này tuổi của cậu là bao nhiêu? Ba mươi còn chưa đến! Tên tiểu quỷ này chết không dưới nghìn năm, chỉ sợ đã sớm đắc đạo, cậu vẫn chớ nên coi thường!”

Không cần Tuyền béo nhắc nhở, tôi cũng không dám nóng vội mà hành động khinh suất, mặc dù trong lòng chẳng hề muốn mặt đối mặt với khuôn mặt lốm đốm thuỷ ngân kia một chút nào, nhưng tình huống lúc này không cho phép tôi được lùi bước, thôi thì đành nhắm mắt liều mình mà đưa chân, trước cứ lôi võ miệng ra đối phó thử đã, tôi hướng về phía cái xác, nói: “Không biết tên chuột đất kia nghĩ gì mà lại mang người theo từ trong mộ ra đây, ma xui quỷ khiến thế nào lại để cho chúng ta gặp nhau, có thể nói là giữa chúng ta xem như cũng có chút duyên phận đi, lúc ở trong động tuẫn táng cũng may nhờ có ngươi hiện thân chỉ dẫn, chúng ta mới có thể tìm được lối ra. Xem ý này của người có lẽ muốn theo chúng ta ra ngoài, bằng vào bản lĩnh này của ngươi chứng tỏ đạo hạnh cũng không thấp, nhưng mà ngươi có điều không biết, ngươi vốn được chôn trong mộ cổ đã nghìn năm, bên ngoài sớm đã có biết bao nhiêu biến cố long trời lở đất, kinh thiên động địa xảy ra, không còn như lúc người còn sống đâu. Ta nói cho ngươi nghe một tin tốt nè, giai cấp vô sản trên toàn thế giới đã cùng nhau vùng lên đấu tranh, phỏng chừng người xuất thân cũng từ gia cảnh bần hàn, mệnh khổ số khổ, nếu không cũng không đến nỗi phải làm đồ tuẫn táng bên cạnh chủ mộ. Hôm nay, ba ngọn núi lớn đè nén trên đầu dân chúng nghèo khổ đã bị sụp đổ, ngươi sống khôn thác thiêng, cũng đã có thể yên tâm mà nhắm mắt xuôi tay được rồi! Không bằng nghe ta khuyên một câu, nhân lúc còn sớm chớ có ra ngoài, nhân sinh vô thường, nếu đã chết rồi thì nên buông bỏ mọi thứ chấp niệm, trần quy về trần, thổ quy về thổ, nên lên trời thì lên trời, nên xuống đất thì xuống đất, có ra ngoài thì cũng chẳng có chỗ nào dành cho ngươi cả, có chăng thì là người ta đưa ngươi vào viện bảo tàng, rồi lại ụp một cái lồng kính lên trên, làm sao mà thoải mái bằng được trong này! Thuốc đắng thì giã tật mà lời thật thì khó nghe, chúng ta vất vả lắm mới gặp được nhau, tính tình đôi bên cũng hợp, cho nên ta mới muốn khuyên người vài câu, nghe lời ta thì không sao, còn nếu cả gan làm bậy, cả ba chúng ta quyết không tha cho ngươi đâu. Bản lĩnh của ngươi dù cho có lớn đến đâu đi chăng nữa, đối phó với ba chúng ta thì được, chứ làm sao đấu lại tám trăm vạn quân giải phóng!”

Tuyền béo thật không nghe nổi những gì tôi nói: “Ông nội bốc phét vừa vừa phai phải thôi chứ, từ lúc nào mà biên chế quân đội chúng ta lại có đến hơn tám trăm vạn quân thế?”

Tôi khoát tay bảo Tuyền béo chớ nên ngắt lời, tôi phí bao nước bọt từ nãy đến giờ chẳng qua cũng chỉ là muốn hù doạ con tiểu quỷ này mà thôi, không doạ cho nó một trận, nó chắc gì đã chịu từ bỏ ý đồ? Thế nhưng cái xác vẫn cứ nằm trơ trơ tại chỗ, mặc cho tôi ba hoa chích choè suốt cả nửa ngày cũng không thèm có lấy nửa điểm phản ứng lại. Tuyền béo nói: “Nhất này, có phải cậu tính sai rồi không, nãy giờ cậu nói tôi thấy tám phần là tự mình doạ mình, không bằng dứt khoát nhanh nhẹn, một cước đạp bay nó xuống sông làm mồi cho cá!”

Cậu ta nói sao mà nghe đơn giản quá, một cước đá chẳng may đá không trúng, lỡ bị nó cắn cho một cái thì biết làm thế nào đây? Đồng nữ tuẫn táng vẫn không chịu cử động, nhưng rõ ràng chính nó đã kéo cái balo của Tuyền béo lại, không muốn để cho chúng tôi phát hiện nó đang trốn ở phía sau mọi người, chuyện này quá là kỳ quái! Huống chi khúc gỗ mục bập bềnh lên xuống giữa dòng nước, ba người lớn chúng tôi đều phải nửa nằm nửa quỳ, trong khi đó đứa bé đồng nữ tuẫn táng lại chỉ là cái xác khô, làm sao có thể đứng thẳng mà không ngã? Tôi thầm nghĩ, những gì cần nói đều đã nói hết cả rồi, coi như cũng đã tận tình tận nghĩa, lại lịch của cái xác không rõ ràng, không đem nó ném bỏ xuống sông, sớm muộn gì nó cũng tác oai tác quái!

Quyết định chủ ý này xong, tôi tra lại thanh quân đao vào trong vỏ, hai tay nắm chặt lấy cán đao, chọc chọc vào người cái xác, muốn đem nó đẩy xuống dưới sông. Vào giờ phút này, không chỉ mình tôi nín thở hồi hộp, mà Tuyền béo cùng Tiêm Quả ở phía sau cũng rất khẩn trương căng thẳng, không ai dám thở mạnh. Tiêm Quả vẫn luôn chiếu đèn pha vào mặt đứa bé, Tuyền béo bên kia cũng đã sớm lên nòng súng lục, tuỳ thời có thể nổ súng, một tay lăm lăm xẻng công binh. Lúc này, vỏ đao trong tay tôi cũng đã đưa tới, sở dĩ tôi dùng vỏ đao chứ không dùng lưỡi đao là vì muốn lưu lại cho ba người một con đường sống, không muốn tổn hại thi thể của đứa bé, người xưa vẫn có câu - tiểu quỷ khó chiều, một khi bị tiểu quỷ quấn thân, cho dù không chết thì cũng phải lột da trả lại nó mới coi như xong chuyện. Vỏ đao vừa đưa quả, khuôn mặt khô đét kia đột nhiên giật giật, hai mắt trợn trừng!

Dưới ánh sáng đèn pha, hai con mắt nó hệt như hai cái hắc động, từ trong mắt bắn ra hai đạo quang mang. Tuy tôi đã có chuẩn bị từ trước, nhưng vẫn không ngờ rằng, cái xác đồng nữ tuẫn táng kia được chôn trong cổ mộ đã hơn nghìn năm, trên mặt lốm đốm những vết ban thuỷ ngân, da dẻ khô đét xám xịt, thân thể so với tiền đồng còn cứng hơn, ấy thế mà hai mắt vẫn có thể mở ra? Trong lúc tôi đang bị doạ cho ngây người, cái xác đồng nữ liền giơ tay bắt lấy vỏ đao, móng tay của nó rất dài, cào lên thành vỏ phát ra những tiếng ken két chói tai!

Tôi chửi thầm trong bụng một tiếng “Bỏ mẹ rồi", cương thi không giống với sơn bạt, càng mọc ít lông thì càng lợi hại. Từ xưa đến nay, vẫn thường hay nói đến hắc hung, bạch hung, “hung” là tên dân gian để gọi những cỗ tử thi mọc ra lông dài, thứ này tương đối dễ gặp, trăm năm thành hung nghìn năm hoá sát, một khi đạo hạnh đã tích luỹ đủ nghìn năm trở lên, mới có thể hiện ra nguyên hình, mặt mũi không khác gì người sống cả, hơn nữa còn có thể nói được tiếng người, thật khó có thể tin nổi!

Tử thi cùng với quan tài có trong toà Liêu mộ này không dưới một trăm thì cũng phải tên tám chục, tại sao chỉ có mình đồng nữ tuẫn táng này là có đạo hạnh? Nó có điểm gì đặc biệt chăng? Tôi từng nghe tổ phụ nói qua “cương thi nghìn năm trong mộ da thịt tựa như đồng giáp", súng săn súng máy gì cũng đều không thể tổn thương được nó, phải dùng đạo pháp mới có thể hàng phục! Đạo pháp là cái gì? Đạo môn có nhiều cách để đối phó với cương thi, tỷ như vẽ bùa niệm chú, hay dùng chén mực chu sa úp ngược lên đỉnh đầu cương thi, ngoài ra còn nghe nói dân trộm mộ có một món pháp bảo là âm dương ô có thể hàng phục được cương thi. Dân gian tục truyền rằng, cương thi cũng rất sợ đinh đóng quan tài, chính là loại đinh sắt lớn dài hơn một thước, niên đại càng lâu càng tốt, cương thi trăm năm sợ đinh quan tài nghìn năm, cương thi nghìn năm thì lại sợ đinh quan tài một nghìn hai trăm năm, cứ mỗi một đinh đâm trúng, cương thi lại bị rút mất trăm năm đạo hạnh, đinh thứ nhất khu phách, đinh thứ hai diệt hình, cho nên dân trộm mộ đều mang theo bên người một hai chiếc đinh quan tài cũ, đen sì sì. Đi ngoài đường mà gặp kẻ nào mang theo đồ nghề như thế, không cần phải hỏi cũng có thể khẳng định chắc chắn hắn ta là một tên chuột đất chuyên đào mồ quật mả. Lúc ở nông trường số 17, chúng tôi chẳng may gặp phải bão tuyết cùng với bầy sói hoang, con hồ ly già dẫn theo chúng tôi vào trong huyệt mộ, dọc theo mộ đạo liền phát hiện ra xác của một tên chuột đất, trên người hắn không chỉ có ngọc câu hộ thân mà còn có một chiếc đinh quan tài, xem ra chuyện này cũng không phải là đồn đại vớ vẩn. Tôi lúc này mới hối hận tại sao không rút lấy một hai chiếc đinh đóng quan tài bên trong mộ thất, có thứ đó rồi há còn phải sợ cái xác đồng nữ này nữa? Tôi không có chén chu sa hay đào mộc kiếm, cũng không biết vẽ bùa niệm chú, một khi bị cương thi vồ tới, làm sao có thể chống đỡ được đây?

Tôi vội vàng túm chặt vỏ đao kéo ngược lại, nhưng nó vẫn không chịu nhúc nhích. Khúc gỗ mục dập dềnh trên mặt nước, Tuyền béo ở phía sau lại bị tôi chắn mất tầm nhìn cho nên không dám tuỳ tiện nổ súng. Cậu ta nhất thời nóng lòng xông lên phía trước, cũng túm lấy vỏ đao, hai người ra sức lôi kéo, lúc này mới giật trở lại được, tuy nhiên do cả hai dùng sức quá mạnh, không kịp thu tay, thanh quân đao theo đà rơi tõm xuống sông ngầm, cả người cũng chao đảo suýt ngã theo. Tuyền béo xoay mình lên, súng lục trong tay ngắm thẳng vào đầu cái xác đồng nữ, khẩu Browning M1900 không phải chỉ dùng để trêu mèo doạ khỉ, loại súng này dùng đạn 7.65mm, cho dù có là cương thi đạo hạnh nghìn năm đi chăng nữa, một khi ăn trúng mấy viên “táo đen" vào đầu, cũng sẽ biến thành cái mặt tổ ong!

Nhưng cũng đúng vào lúc này, dòng sông ngầm bỗng nhiên chảy xiết trở lại, khúc gỗ mục đâm phải một khối nham thạch lồi ra trên mặt nữa, “răng rắc" một tiếng, cả một mảng gỗ to bị vỡ ra. Ba người chúng tôi đều không kịp đề phòng, ngay cả cái xác đồng nữ cũng bị hất tung lên giữa không trung. Tuyền béo giương súng đang định bắn cương thi nghìn năm, đột nhiên bị hất văng lên, suýt nữa rơi tòm xuống sông, đành phải vứt bỏ khẩu súng lục đang cầm trong tay, rồi dùng xẻng công binh ngoắc vào một cái chạc cây, nửa thân dưới đã bị rơi vào trong nước. Tôi cùng Tiêm Quả trông thấy tình huống nguy cấp của Tuyền béo, vội nắm lấy balo sau lưng cậu ta, liều mạng kéo cậu ta lên. Khe nứt đến đây chợt thắt lại như nút cổ chai, dòng chảy đột ngột chuyển hướng, nước xiết vô cùng. Ba chúng tôi ổn định thân hình, lại dùng đèn pha chiếu qua, chỉ thấy cái xác đồng nữ vẫn đang ở phía sau đối diện với mọi người, móng tay cắm chặt vào khúc gỗ mục, chậm rãi bò về hướng chúng tôi.

Ba người mặt đối mặt với đồng nữ tuẫn táng, sau lưng là phần đục khúc gỗ mục, thân mình ai nấy đổ nghiêng, nắm chặt lấy chạc cây không dám buông lỏng. Tuyền béo nhận lấy khẩu súng lục từ tay Tiêm Quả, bắn liền hai phát, khoảng cách song phương tuy gần, nhưng do khúc gỗ đang bị dòng nước xiết cuốn lấy thành ra lắc lư kịch liệt, hai viên đạn không biết đã lạc đi nơi nào. Trong ánh đèn pha chập chờn, khuôn mặt lốm đốm thuỷ ngân ban kia đã dí sát ngay trước mặt tôi! Lòng tôi phát lạnh, nhưng chỉ biết ôm chặt khúc gỗ không dám buông tay, sau lưng là Tuyền béo cùng Tiêm Quả, không có chỗ để cho tôi tạm thời né tránh, vội bảo Tuyền béo đưa tôi chiếc xẻng công binh của cậu ta. Xẻng vừa tới tay, tôi liền tiến lên nhắm ngay vào đầu đồng nữ tuẫn táng mà đập xuống. Nào ngờ nó lại lao lên, nhảy qua đỉnh đầu tôi. Tôi nhận ra nó muốn đánh về phía Tiêm Quả, một tay dùng xẻng công binh ngoắc vào chạc cây, một tay vươn lên, bắt lấy được cái chân của thây khô. Đôi chân nhỏ xíu của đồng nữ tuẫn táng xỏ trong đôi hài “như ý vân đầu lý", đây là một loại giày thêu của cung nữ, tại mũi giày có hoa văn trang trí hình mây cuộn, giống như chân đạp tường mây vậy, tuy nhiên do bị chôn trong mộ cổ đã trăm nghìn năm, giày thêu đã sớm mốc đen, văn sức bên trên đều không nhìn ra, sờ lên chỉ thấy thô ráp, dùng sức bóp một cái cũng sẽ vỡ vụn.

Mưa to như trút nước, những sợi dây leo của bảo tương hoa cũng không thấy phát sáng lại nữa, ánh sáng duy nhất bên trong sông ngầm giữa lòng khe nứt phát ra từ chiếc đèn pha trong tay Tiêm Quả, lúc ẩn lúc hiện, xung quanh một mảnh đen tuyền. Tôi đưa tay bắt được cái chân nhỏ, thầm nghĩ: Ông đây bắt được mày rồi nhé! Lập tức thuận thế kéo xuống một cái thật mạnh, muốn đem cái xác khô này ném xuống sông ngầm. Sông ngầm càng vào sâu càng chảy xiết, khắp nơi đều là xoáy nước. Đại La Kim Tiên ngã xuống cũng đừng hòng ngoi lên được. Bất quá người xưa mê tín có nói, cương thi chôn trong mộ, ngũ hành thuộc “thổ", thổ có thể khắc thuỷ, lão Long Vương dưới sông cũng không đấu lại được nó, thậm chí còn bị nó quay ngược lại hút hết thuỷ mạch.

Trong lúc tình thế nguy cấp, tôi không nghĩ được nhiều như thế, dốc hết sức quăng nó xuống, nhưng mới được nửa chừng, chợt cảm thấy nhẹ bẫng, trên tay chỉ còn lại chiếc giày thêu cùng bộ y bào, đồng nữ tuẫn táng sử dụng một chiêu ve sầu thoát xác, xoay người lộn một vòng, dừng lại ngay trước mặt tôi, một tay bám chặt thành gỗ, tay còn lại đưa lên đỉnh đầu xé toạc một cái không thương tiếc, da mặt liền bị lột xuống. Ba người chúng tôi không ngờ cái xác khô nghìn năm lại còn một chiêu như vậy, trong lòng không khỏi kinh hãi, ánh sáng đèn pha vẫn luôn chiếu lên mặt đối phương, chỉ thấy dưới lớp da khô đét là một lão già, mặt mũi quái dị, nhăn nheo như vỏ cây, hai mắt sáng quắc dị thường, thân cao không bằng đứa bé ba tuổi. Lão ta bị ánh sáng đèn pha làm cho chói mắt, đành phải đưa hai tay lên ngăn cản luồng sáng chiếu tới, trong lòng bàn tay rõ ràng có một bát ấn ký hình bát quái, vẽ bằng mực chu sa đỏ chót.

Đến lúc này tôi mới chợt hiểu ra mọi chuyện, kẻ vẫn lén lút bám theo phía sau chúng tôi suốt chặng đường, căn bản không phải là đồng nữ tuẫn táng, mà là một tên chuột đất! Trước đó có hai tên thợ săn, giả làm anh em, một người kêu Đại Hổ, người còn lại là Nhị Hổ, Nhị Hổ đích xác là một tên trộm mộ, còn Đại Hổ là hành thi hắn mang theo để che mắt mọi người. Hắn ta hành tung lén lút, luôn đeo một cái túi da hươu to trên lưng, tôi còn tưởng đó là đồ nghề của hắn, nhưng thực ra bên trong chính là lão chuột đất này, lão ta hẳn phải là sư phụ hoặc trưởng bối của Nhị Hổ, chắc chắn phải có kinh nghiệm phong phú hoặc bản lĩnh hơn người, Nhị Hổ trước sau đều nghe theo lời lão. Bất quá lão chuột đất này vóc người thấp bé, hơn nữa tuổi cũng đã cao, lại không muốn bị người ta nhận ra khuôn mặt thật, vì vậy luôn trốn ở trong túi, để cho Nhị Hổ cõng lão trên lưng đi khắp nơi.

Lão chuột đất nói với Nhị Hổ, trong toà Liêu mộ mộ có một loại “trái cây" gì đó, bảo hắn chui vào quan tài tìm. Lúc ấy vừa vặn tôi cùng Tuyền béo, Trăn Tử cũng đi vào quách thất. Lão ta thấy có người tới, liền lập tức trốn đi, không để cho chúng tôi nhìn thấy. Đợi đến khi chúng tôi quay lại chính điện nơi đặt quan tài, Nhị Hổ đã cõng theo lão chuột đất, trốn vào ám đạo. Lão nhận thấy lần này có không ít người tiến vào trong mộ, sợ có người phát hiện ra khuôn mặt thật của mình, trước khi trốn vào ám đạo, bèn móc ra một cái xác đồng nữ từ trong quan tài chủ mộ, tự mình đóng giả làm thây khô, vẫn để cho Nhị Hổ cho vào túi rồi cõng ra ngoài. Làm như vậy là để cho lỡ có ai đó mở cái túi ra, cũng sẽ lầm tưởng chỉ là một cái xác chết mà thôi. Ba người chúng tôi đuổi theo, thật đúng là bị lão ta doạ cho một vố, vẫn luôn thắc mắc tại sao tên chuột đất Nhị Hổ lại mang một cái xác đồng nữ ra làm gì, vì vậy liền đem cái túi đặt trên thạch đài không quan tâm tới nữa. Nhị Hổ này quả là một tên xui xẻo, chẳng may rơi xuống động tuẫn táng chết tươi đành đạch, lúc sắp chết vẫn còn đang oán trách - Mả cha lão già kia, trong mộ căn bản làm quái gì có thứ “trái cây” nào! Lão chuột đất giả làm đồng nữ tuẫn táng, bám theo phía sau chúng tôi một đường chạy ra khỏi Liêu mộ, chạy tới khe nứt có dây leo bảo tương hoa phát sáng này, không ngờ trời mưa to như thác đổ, nước lũ bất ngờ ập tới, chúng tôi bắt được một khúc gỗ mục, lênh đênh trên dòng sông ngầm, đến nước này rồi lão ta cũng không thể tiếp tục trốn tránh được nữa, đành phải xuất đầu lộ diện.

Lúc này nước sông có vẻ đã hơi hoà hoãn, tôi cắn răng, tay nắm chặt xẻng công binh, đang muốn một xẻng gạt phăng lão chuột đất xuống sông. Lão ta một bên giơ tay ngăn cản luồng sáng đèn pha chói mắt, một bên tung hoả mù, nói: “Chớ có động thủ! Lão phu có một bí mật kinh thiên động địa muốn nói ra cho các ngươi cùng biết!”

Chúng tôi đối với lão già này thì hận đến thấu xương, nếu không phải lão muốn vào trong Liêu mộ trộm bảo vật, xui hai thằng tôi đi hái gốc hoàng kim linh chi mọc bên trên bích hoạ cửu vỹ yêu hồ, thì Lục Quân đã không phải chết một cách oan uổng như vậy, những thanh niên trí thức kia cũng sẽ không vì tìm kiếm cậu ta mà bị lưu sa chôn sống trong mộ, tôi, Tuyền béo và Tiêm Quả sẽ không lạc vào khe nứt sâu dưới lòng đất này, rơi vào tuyệt cảnh vạn kiếp bất phục, không chết thì cũng rách da tróc vảy. Mà lão chuột đất giả thành đồng nữ tuẫn táng này chính là nguồn cơn của mọi tai hoạ từ trước đến giờ, cũng may chúng tôi còn chưa bị lão hù chết, có thù không báo không phải là quân tử, không đá lão ta xuống sông làm mồi cho cá, sao có thể nuốt trôi cục tức này! Tôi không cho lão ta có cơ hội giải thích, trực tiếp vung xẻng công binh, vừa muốn động thủ, lão ta chợt nói với tôi: “Người năm đó ở trên Lão Thử Lĩnh đả thiên đăng là gì của ngươi?”

Tôi nghe hắn nói ra những lời này, không kiềm chế được mà ngẩn người, thầm nghĩ lão ta tại sao lại biết tổ phụ của tôi? Lúc trước tổ phụ tôi đả thiên đăng trên Lão Thử Lĩnh, lấy được một tấm da huyền hồ, sau đó bị một tên âm dương bát quái hoả cư đạo xúi giục, đi Quỷ Môn Giang trộm mộ tầm bảo, trên tay có ấn ký hình bát quái, chắc hẳn cũng là một tên quỷ môn thiên sư, đó là chuyện của hơn mấy chục năm về trước, cho dù lão chuột đất thân là quỷ môn thiên sư, có nghe qua chuyện này, cũng không thể nào vừa thấy mặt đã liền nhắc tới tổ phụ tôi.

Tôi trong lòng thầm giật mình, tên hoả cư năm đó đã cùng tổ phụ tôi kết bái huynh đệ, đi Quỷ Môn Giang trộm mộ, chẳng lẽ lại là lão ta? Bất quá tên hoả cư đạo đã bỏ mạng ở dưới đáy sông, huống chi theo lời tổ phụ tôi nói, hắn ta vóc người cao lớn vạm vỡ, mà đây lão chuột đất này lại gầy đét thấp bé, chẳng khác gì một cái đinh quan tài bằng thịt, làm sao có thể là cùng một người cho được? Tôi nhất thời không nhịn nổi tò mò, muốn nghe một chút xem lão ta định nói gì. Nước sông chảy xiết, bốn phía tối đen, có mọc thêm cánh cũng trốn không thoát, chỉ cần không phải là cương thi nghìn năm thì tôi việc gì mà phải sợ, nhất là với cái lão già sắp gần đất xa trời này? Nghĩ xong, tôi chĩa thẳng xẻng công binh vào mặt lão ta, nói: “Trên Lão Thử Lĩnh đả thiên đăng chính là tổ phụ của ta, nếu không phải gà rừng không tên, giày rơm không số, ngươi cũng nên để lại một cái tên!”

Lão ta cười gằn một trận: “Quả thật là con cháu của cố nhân, chẳng trách lại giống đến như thế, xem ra tên tiểu tử nhà ngươi so với thằng oắt con vô dụng năm đó to gan hơn nhiều. Lão phu là anh kết nghĩa của tổ phụ ngươi, chiếu theo bối phận mà nói, ngươi còn phải gọi ta một tiếng gia gia!”

Tôi không thèm tin vào mấy lời xằng bậy của lão ta, mắng: “Gia gia cái đầu ngươi, tổ phụ ta tuyệt không giao du với cái loại yêu quái trông như cái đinh quan tài thối nhà ngươi!”

Tuyền béo nói: “Chớ thấy người sang mà bắt quàng làm họ, hôm nay ngươi có rước tổ phụ cậu ta từ Bát Bảo Sơn tới đây thì chúng ta cũng phải tiễn ngươi xuống sông làm mồi cho cá trước đã!” Nói rồi, cậu ta ghé sát tai tôi, thấp giọng nói: “Ái chà chà, tổ phụ cậu năm đó cũng giao lưu với không ít thể loại đầu trâu mặt ngựa như này nhỉ! Đến cái nơi khỉ ho cò gáy như này rồi mà vẫn còn gặp được người quen?”

Tôi cũng đang bực bội trong lòng, tổ phụ nuôi tôi từ nhỏ tới lớn, những chuyện người trải qua tôi nghe không dưới bảy trăm sáu mươi lần, sao trước giờ chưa từng nghe nói tổ phụ quen biết một người như này?

Lão già chuột đất thấy tôi hãy còn chưa tin, lại tuôn ra một tràng. Thì ra năm đó hoả cư đạo cải trang thành một người âm dương đạo nhân, chuyên vẽ âm dương bát quái trấn trạch trong mộ cho người ta để kiếm miếng ăn qua ngày, lại sở hữu một đôi đạo nhãn, rất rành vọng khí, vậy vọng khí là gì? Đạo môn có một câu thế này - “Bảo khí đằng không, biện Phong Thành thần vật” (Trans: Bảo khí bay lên trời, ấy chính là do thần vật tại Phong Thành xuất thế). Đây là một điển tích, kể rằng trước kia có người biết chút đạo pháp, trông thấy giữa Đẩu Ngưu (Trans: Tên hai ngôi sao là sao Ngưu và sao Đẩu) có làn khí màu tím tuôn ra, liền khẳng định trong Phong Thành có chôn bảo vật, sau này thực sự đào được một hộp đá phía dưới nền đất, mở ra phát hiện quang khí dị thường, trong hộp đặt một đôi kiếm, trên thân kiếm có khắc tên, một thanh là “Long Tuyền", một thanh là “Thái A", bảo kiếm còn chưa xuất thổ, người có đạo nhãn đã có thể nhìn ra.

Hoả cư đạo vì sao lại có bản lĩnh này? Muốn nói rõ ràng thì phải quay ngược về thời xa xưa, chuyện này cũng có liên quan tới Quỷ Môn Giang. Tương truyền Vũ Vương trong một lần đi vi hành đã lệnh cho quan quân đào ra con sông này, dùng để điều tiết nước cho Hoàng Hà, sông được đào sâu vào trong núi, thông với sơn cốc, sông ngầm, chỗ rộng nhất phải hơn mười trượng, trải dài mấy trăm dặm, sâu không thấy đáy, nước sông chảy xiết, mạch ngầm có rất nhiều xoáy nước nguy hiểm. Ban đêm trên mặt sông thường có những tiếng động khác thường vang lên, có lúc tựa như thiên quân vạn mã, lúc lại như âm binh mở đường.

Bởi vì dòng chảy thông với Hoàng Hà, trong nước thường có cá lớn qua lại, xưa kia, có một người bắt cá, sống nhờ cả vào việc bắt cả trên Quỷ Môn Giang, nói đến săn bắn người ta sẽ thường nghĩ ngay tới săn thỏ bắt gấu, nhưng người bắt cá này lại là săn cá, trên đời quả thực không có người thứ hai. Trước nay vẫn có câu “thợ mộc dài, thợ rèn ngắn”, ý muốn nói, nếu thợ mộc làm quá dài thì có thể sửa lại thành ngắn, nhưng không thể biến ngắn thành dài; còn thợ rèn thì ngược lại, phôi sắt nung nóng kéo dài thì dễ, nhưng để rèn ngắn lại thì khó; cũng giống như đầu bếp, có thể gia giảm mặn, ngọt tuỳ theo món ăn. Tóm lại, mỗi nghề đều có quy củ cũng như các bí quyết kinh doanh riêng. Vậy người bắt cá này săn cá bằng cách nào? Chính là thả thuyền đến giữa lòng sông, thấy chỗ nào cá lớn tụ tập thành đàn, liền giương cung lắp tên bắn xuống, cá chết mang theo mũi tên nổi lên mặt nước, chỉ cần lấy móc kéo lên thuyền là xong, sau khi làm sạch, xách ra trấn nhỏ để bán lấy tiền mua gạo muối, tổ tông tám đời nhà hắn đều là kiếm ăn bằng cách này.

Bắt cá cũng là nghề do cha mẹ truyền lại, ngoài ra còn có hai thứ khiến người khác không thể so bì với hắn. Thứ nhất, gọi là phân thuỷ tiễn, đây nói không ngoa chính là một kiện bảo vật trấn tông, được lấy ra từ trong miếu Phân thuỷ Long Vương, ba mũi tên cùng một cây cung đều chế tạo từ huyền thiết, từ phần đuôi tên tới mũi tên đều được làm nguyên khối liền mạch, nặng gấp mười lần so với những mũi tên thông thường, uy lực vô cùng, không gì sánh bằng. Muốn kéo được cung bắn được tên thì người cầm cung nhất định phải có lực cánh tay hơn người, nếu dây cung kéo không căng, uy lực cũng bị giảm đi nhiều, mà đây là cây cung được làm từ huyền thiết, hai cánh tay không đủ lực đừng hòng kéo được, cho nên từ lúc vừa mới chập chững biết đi, liền phải rèn luyện lực cánh tay. Ngoài ra còn phải luyện được chính xác, ban đêm cho thắp một nén nhang, một người cầm lấy rồi di chuyển lung tung, còn mình thì dùng ánh mắt đuổi theo đầu nhang đang cháy, luyện đến khi nào con ruồi bay qua trước mắt cũng có thể phân biệt được là đực hay là cái thì mới thôi. Còn thứ hai là bản lĩnh nhìn được cá bơi dưới tận đáy sông của hắn. Sau khi bắt được cá lớn, mang lên thuyền mổ bụng moi ruột, nếu may mắn sẽ tìm được ngư châu, ngư châu không phát ra được ánh sáng như dạ minh châu, chẳng đáng mấy tiền, nhưng ăn vào có thể bổ mắt, cho nên nhãn lực của người bắt cá này hơn hẳn người thường. Hắn ta tuy có bản lĩnh bực này, nhưng một ngày chỉ bắn hết ba mũi tên là dừng, chưa bao giờ bắn nhiều hơn dù chỉ một mũi. Bởi người xưa làm gì cũng chú ý lưu lại cho mình một đường sống, hắn cũng vậy, ngày ngày đều phải trông cậy vào con sông này mà kiếm miếng cơm, nếu như chỉ vì tham mấy đồng tiền lẻ trước mắt, bắn sạch hết cá dưới sông, sau này lấy gì mà sống tiếp? Cho nên hắn một ngày chỉ bắn ba mũi tên, mặt trời mọc thì làm, mặt trời lặn thì nghỉ, cùng đời vô tranh, cuộc sống mỗi ngày đều trôi qua hết sức tiêu diêu tự tại.

Có một đêm, người bắt bỗng dưng một thấy một giấc mộng kỳ lạ, trong mơ có người gõ cửa, hắn liền chạy ra xem thử, chỉ thấy đi vào là một đại hán mặt đen, người mặc hắc bào, chân đi hắc ngoa, nổi bật trên khuôn mặt là bộ râu rậm, thoạt trông đen bóng rắn rỏi, chẳng khác gì một vị La Hán. Người bắt cá hoảng sợ vô cùng, chẳng lẽ là cường đạo tới cướp của? Đang nghĩ xem phải làm thế nào mới có thể bảo toàn được tính mạng, không nghĩ tới vị đại hán mặt đen kia chẳng nói chẳng rằng bỗng quỳ mọp xuống đất, miệng kêu: “Ân công cứu mạng!”

Người bắt cá mờ mịt không hiểu, hỏi lại: “Vị tráng sĩ này, ngài có phải nhận lầm người rồi hay không? Tôi chỉ là một kẻ biết dùng cung bắt cá, kiếm chút tiền mọn nuôi gia đình sống tạm bợ qua ngày, ngoài ra không có bản lĩnh gì khác, làm sao có thể cứu được ngài?”

Đại hán mặt đen nói: “Ân công hãy nghe tôi nói, ngày mai ngài ra sông bắt cá, sẽ bắt gặp một xoáy nước lớn, thứ đó chính là oan gia đối đầu của tôi, ân công chớ nên hỏi nhiều, chỉ cần hướng vào xoáy nước bắn liền ba mũi phân thuỷ tiễn, là có thể cứu vớt tôi một mạng.” Vừa dứt lời liền không thấy tung tích đâu cả, người bắt cá cả kinh, giật mình tỉnh dậy mới biết đây chỉ là một giấc mộng Nam Kha, lòng thầm cảm thấy kỳ quái. Đến sáng ngày hôm sau, hắn ta lại lên thuyền ra sông bắt cá như mọi ngày, giữa ban ngày trời trong mây lặng, đột nhiên một trận mưa giông mù mịt kéo tới, giữa lòng sông quả thật bỗng xuất hiện một xoáy nước lớn. Người bắt cá rùng mình một cái, nhớ tới giấc mơ đêm qua, không chút do dự, lập tức lấy từ trong ống ra ba mũi tên, chuẩn bị tư thế giương cung, tay trước khom lưng siết chặt cánh cung, tay sau dùng sức kéo căng dây cung, phân thuỷ tiễn ngắm thẳng vào giữa xoáy nước, cây cung uốn cong tựa như trăng đầu tháng, mũi tên phóng ra vun vút tựa như sao băng, nói ra thì chậm nhưng sự việc lại diễn ra rất nhanh, “vèo, vèo, vèo", ba mũi tên liên tục rời cung lao thẳng vào xoáy nước.

Nói ra thì cũng kỳ quái, chỉ trong thoáng chốc, mưa gió gào thét liền đã rút đi, trả lại một bầu trời quang mây tạnh như lúc ban đầu, ánh nắng nhô lên cao, xoáy nước đã chẳng còn thấy đâu nữa. Người bắt cá trở về nhà với một bụng đầy những nghi vấn, đêm đó lại nằm mơ thấy vị đại hán mặt đen kia, vừa vào cửa liền dập đầu khấu tạ đại ân. Người bắt cá đầu óc mơ hồ, đứng dậy đáp lên, hỏi đối phương rốt cuộc là người nào? Đại hán mặt đen nói: “Ba ngày sau vào lúc canh ba, mời ân công đến bên bờ sông chờ, tôi tất có trọng báo!” Dứt lời lập tức biến mất không một dấu vết hệt như lần trước.

Người bắt cá tò mò, đúng hẹn ra đến bờ sông, tuy là nửa đêm canh ba, cũng may có vành trăng sáng treo trên cao, tạm có thể nhìn ra đường đi lối lại, bỗng nhiên một đám mây đen kéo đến che kín ánh trăng, vị đại hán mặt đen từ trong lòng sông đi tới, hướng người bắt cá mà quỳ lạy. Hắn ta thấy thế sợ đái ra quần, lòng tự hỏi người này là ai? Làm sao có thể đi lên từ giữa sông, hơn nữa sau khi lên bờ, trên người ngay cả một giọt nước cũng không có, phải chăng là thần tiên! Nghĩ vậy, hắn liền đánh bạo hỏi: “Các hạ là người phương nào?”

Đại hán mặt đen nói: “Ân công đã cho hỏi, tôi thực không dám không nói, lúc trước còn chưa nói ra ấy cũng là vì sợ làm cho ân công kinh hãi. Thực không dám giấu diếm, tôi là thủy quỷ, thân xác đã nằm dưới đáy sông nhiều năm.”

Người bắt cá vừa nghe tới hai chữ “thủy quỷ", sợ đến nỗi tóc tai dựng hết cả lên, quay đầu định chạy. Đại hán mặt đen liền vội vàng nói: “Ân công chớ nên sợ hãi, tôi sao dám hại ngài, tôi bấy lâu nay vẫn ở dưới đáy Quỷ Môn Giang tu luyện, không biết vì sao kiếp nạn kéo đến, giăng ra thiên la địa võng, cái xoáy nước giữa lòng sông hôm đó, chính là lão Long do trời cao phái xuống, cũng may có ân công tiễn nghệ cao cường, dùng ba mũi tên bắn chết lão Long, mới giúp tôi tránh qua được một kiếp nạn này!” Vừa nói dứt lên, đại hán mặt đen ngoắc tay, từ dưới lòng sông lại đi lên ba con thủy quỷ, đem chiếc thuyền của người bắt cá đẩy đi, chỉ một nén nhang sau là quay lại, trên thuyền lúc này đã chất đầy kim châu ngọc bảo.

Đại hán mặt đen nói: “Xin ân công hãy nhận lấy chút lòng thành này của tôi, tận hưởng một đời vinh hoa phú quý!”

Người bắt cả cả nửa ngày vẫn chưa kịp hoàn hồn, liếc nhìn số kim châu ngọc bảo này một cái, nhưng rồi lại dứt khoát xua tay từ chối. Hắn bây giờ hối hận biết nhường nào cơ chứ, sớm biết tên đại hán mặt đen là thủy quỷ, hắn tuyệt đối sẽ không bắn ra ba mũi tên kia, nếu nói chỉ bắn ba mũi tên kia thôi thì không sao, nhưng đằng này hắn lại bắn chết cả lão Long do trời cao phái xuống, giúp cho tên kia thoát được một kiếp, báo ứng sớm muộn gì rồi cũng sẽ ập lên đầu hắn. Mấy đời nhà hắn kiếp sống bằng nghề bắt cá trên con sông này, chẳng ham danh đoạt lợi, tuy rằng không được vinh hoa phú quý, quan cao lộc dày, nhưng lúc nào cũng có cơm ăn, an ổn sống qua ngày này tháng khác, nào ngờ đến đời hắn lại gặp phải tai hoạ như này, bắn chết lão Long, tội này nặng đến bực nào? Nói không chừng đến một ngày nào đó, trời cao nổi giận, cho thiên lôi giáng xuống đánh mình chết tươi!

Tên đại hán mặt đen thấy người bắt cá nhất quyết không chịu nhận lấy chỗ vàng bạc châu báu đó, cũng hiểu nguyên do tại sao, trong lòng tự thấy hổ thẹn không thôi, đành phải tìm cách khác để báo đáp, nói rằng năm đó, từ trong quỷ môn có một con linh quy trên lưng cõng theo một chiếc hòm bằng đá bò ra, bên trong có một quyển vô tự thiên thư, nào ngờ đâm phải một con thuyền lớn, rùa chết thuyền vỡ, cùng chung số phận chìm sâu xuống đáy Quỷ Môn Giang, quyển vô tự thiên thư ấy hiện giờ vẫn còn. Đại ân đại đức không thể không báo đáp, tôi xin xuống dưới đáy sông đem quyển thiên thư đó lên, thiên thư tuy không có chữ, nhưng quả thật chính là một bảo vật vô giá có một không hai trên đời, có thể tạc đá thành núi, vẽ đất thành sông, dời ngày đổi tháng, hô mưa gọi gió, phi thiên độn thổ, thấu rõ mọi phương, minh tường tương lai, rạch ròi quá khứ, tuy nhiên không được phép mở hòm đá cũng như đọc nội dung bên trong vô tự thiên thư, bằng không báo ứng sẽ còn khủng khiếp hơn so với việc bắn chết lão Long! Bởi vì kẻ nào dám nhìn trộm thiên cơ, ắt gặp thiên báo, bằng vào người trần mắt thịt phúc ngắn mạng mỏng, tất không thể gánh nổi. Ân công hãy mang quyển vô tự thiên này về cung phụng trong nhà, hằng năm cứ nhằm ngày mùng 3 tháng 8 thì xõa tóc giả điên, miệng ngậm dao nhọn, leo lên nóc nhà, bái vọng Bắc Đẩu Thất Tinh, thề rằng chưa từng coi trộm thiên thư, đảm bảo con cháu ba đời sẽ được bình an vô sự.

Đại hán mặt đen nói xong, lệnh cho ba con thủy quỷ xuống dưới đáy sông nâng chiếc thuyền chìm năm xưa lên, sau đó tự mình đi lấy hòm đá giao cho người bắt cá. Tuy nói là hòm đá nhưng hình dáng bên ngoài lại giống như một khối đá hoàn chỉnh, góc cạnh vuông vắn, không có nắp cũng chẳng có khe hở, toàn thân đen bóng toát ra hàn quang, phía trên khắc chi chít các loại phù lục khó hiểu. Người bắt cá cầm lấy, khẽ lắc thử, bên trong quả thực có đồ. Cứ thế theo lời tên đại hán mặt đen, nửa tin nửa ngờ đem hòm đá về nhà cung phụng. Truyền thuyết này được lưu truyền trong dân gian với cái tên “quỷ môn đắc đạo”, vì vậy lại đem vô tự thiên thư gọi thành “quỷ môn thiên thư”. Người bắt cá ở bên bờ Quỷ Môn Giang đoạt được thiên thư, vẫn nguyện sống thanh bần, hàng ngày vẫn chỉ kiếm ăn bằng nghề bắt cá trên sông, cũng chưa từng mở hòm đá ra, sau này thọ đến tám mươi tuổi, không bệnh không tật, cứ thể bình yên ra đi. Từ đó trở đi, “quỷ môn thiên thư” bên trong hòm đá vẫn luôn được con cháu người bắt cá truyền từ đời này qua đời khác, đây là chuyện về sau, không đề cập tới nữa.

Lại nói đến hoả cư đạo sau này, hắn vốn là một tên ăn xin trong thành Lạc Dương, chẳng may gặp phải năm hoa màu mất mùa, người ta đến lương thực trong nhà còn chẳng đủ ăn nói gì đến việc đem đi bố thí, thành ra hắn suốt mấy ngày trời chẳng có miếng cơm nào vào trong bụng, đói đến hoa cả mắt, chỉ có thể đào giun bắt dế, ăn các loài trùng độc kéo chút hơi tàn, dần dần hai mắt kết thành lớp kén mờ đục, chẳng nhìn thấy gì được nữa. Hai mắt mở to còn chẳng có miếng cơm mà ăn, huống chi kẻ mù loà như hắn bây giờ, cứ thế vạ vật cũng sống qua được mấy năm, mấy lần suýt nữa chết đói. Cuối cùng lão ta hạ quyết tâm, tự tay cắt bỏ màng kén trên mắt, không ngờ mắt hắn giờ đã trở thành một đôi đạo nhãn, có thể nhận ra được bảo vật giữa đống đồng nát. Lại bởi vì cơ duyên xảo hợp, lão ta không biết bằng cách nào nhìn lén được hai, ba trang “quỷ môn thiên thư", từ đây thông hiểu đạo pháp, liền giả trang thành một vị Âm dương Bát quái Hoả cư đạo, hành tẩu khắp nơi, tìm kiếm cơ hội đoạt bảo phát tài.

Cho đến một năm kia, lão nhận ra trong nhà đại thiếu gia có giấu một món bảo vật, có thể giúp mình làm nên đại sự, liền cùng đại thiếu gia kết bài huynh đệ, cùng nhau đi đến Quỷ Môn Giang tầm bảo, nào ngờ sẩy chân thất thủ, rơi xuống đáy sông. Đại thiếu gia cho rằng Hoả cư đạo lần này có đi mà không có về, vô luận thế nào cũng không sống nổi. Ngàn vạn lần không nghĩ tới trên người hắn ta vẫn mặc bộ áo làm từ bộ da huyền hồ của đại thiếu gia, đó chính là một kiện bảo y có thể tị thuỷ, giúp cho hắn ta tìm được một đường sống giữa muôn lối chết, lại từ đáy sông bơi lên. Người vừa ngoi lên khỏi mặt nước, liền trúng một loại cổ chú đã bị thất truyền từ lâu, gọi là “súc thi chú". Người trúng phải cổ chú này, thân thể sẽ từ từ thu nhỏ, đến khi không thể nhỏ hơn được nữa, mạng cũng coi như đứt!

Hoả cư đạo nghĩ đủ mọi cách để kéo dài thời gian phát tác của cổ chú, lại bằng vào việc nhìn trộm qua hai, ba trang “quỷ môn thiên thư", cho thu nhận rất nhiều môn nhân, tự phong mình làm “Quỷ môn lão tổ". Các thủ hạ dưới trướng xưng là thiên sư, lấy việc vẽ bùa niệm chú, hàng yêu tróc quỷ làm lá chắn che dấu cho mục đích thật sự của bọn chúng là đào mồ quật mả, từ đây trên đời mới có cái gọi là quỷ môn thiên sư, chứ từ trước không hề có. Nhưng qua mấy chục năm, thân hình của quỷ môn lão tử càng ngày càng thu nhỏ, xương cốt toàn thân co rút lại khiến lão ta hết sức thống khổ, thật có thể nói là sống không bằng chết.

Sau đó không biết lão ta từ đâu nghe nói trên đời này có tồn tại một loài phật hoa, vốn đã xuất hiện từ thời thượng cổ, có thể lan toả khắp thập phương thế giới, thứ trái cây do phật hoa kết ra, có thể khiến con người ta thoát ra khỏi vòng tròn sinh lão bệnh tử, đám dân trộm mộ ngày xưa trên tay phần lớn đều có “lăng phổ", mộ của ai chôn ở núi nào, trong lăng có chôn thứ gì, đều được ghi chép tỉ mỉ. “Lăng phổ” có cái là thật có cái là giả, không thiếu những chuyện bịa đặt giả tạo, nội dung bên trong không thể tin hết, nhưng đối với quỷ môn lão tổ mà nói, thì chẳng khác gì bắt được cọng rơm cứu mạng. Căn cứ theo những gì được ghi chép lại trong “lăng phổ", bên trong ngôi mộ Thái hậu của nước Đại Liêu có một loại phật hoa, bất quá toà Liêu mộ kia lấy núi làm lăng, huyền cung nằm sâu trong núi, ẩn sâu giấu kĩ, khiến cho đám trộm mộ không biết hạ thủ từ đâu, lại bởi vì niên đại rất xưa, thành ra không ai có thể tìm thấy. Sau giải phóng, lão chuột đất vì tránh đầu sóng ngọn gió của cách mạng văn hoá, liền trốn trong rừng sâu núi thẳm, không dám ra ngoài.

Cho tận mãi đến năm 1968, binh đoàn nông khẩn và trấn thủ số 17 gặp phải bầy sói hoang tấn công, lại đúng đợt bão tuyết trăm năm mới gặp một lần kéo tới, tôi cùng Tuyền béo, Lục Quân, Tiêm Quả bốn người đều rơi vào tuyệt lộ, để cho con hồ ly già dẫn tới một ngôi mộ cổ, gạch mộ viên nào viên nấy đều có hình vẽ bảo tương hoa, cũng có một bức bích hoạ cửu vỹ hồ ly, hơn nửa phía trên bích hoạ còn mọc ra một gốc hoàng kim linh chi. Chúng tôi ở trong mộ thất mấy ngày, may mắn tránh thoát được kiếp nạn này, sau khi thoát ra ngoài lại vô tình để lộ tin tức. Đồn qua đồn lại cuối cùng chuyện này cũng truyền đến tai lão chuột đất, lão liền nghe ra nơi này có nhiều điểm kỳ quái, theo như táng chế Đại Liêu, Thái hậu ngang hàng với cửu ngũ chí tôn, phải được chôn trong cửu thất huyền cung, có thể thấy gian mộ thất có bức bích hoạ cửu vỹ hồ ly khả năng cao không phải là huyền cung thật sự, đoán rằng phía sau tất có huyền cơ.

Vì thể lão sai một tên chuột đất, giả trang thành tay thợ săn Nhị Hổ, đến thượng nguồn Hắc Thuỷ Giang tìm chúng tôi nhờ dẫn đường. Còn người thợ săn Nhị Hổ kia, chính là một thợ săn trên dãy Trường Bạch Sơn, bị tên chuột đất hãm hại, biến thành hành thi sẵn sàng làm bù nhìn cho hắn thoát thân. Nào ngờ tôi với Tuyền béo không bị mắc mưu, tên chuột đất bẽ mặt, đành phải đến hạ nguồn Hắc Thuỷ Giang đi tìm Lục Quân, hứa hẹn sẽ cho cậu ta rất nhiều chỗ tốt, rồi lại tìm cách khiến cho Tiêm Quả bị rắn cắn. Bình thường Lục Quân là người rất cơ trí, nhưng không hiểu sao lần này lại bị tên chuột đất doạ sợ, cho rằng gốc hoàng kim linh chi bên trong mộ cổ có thể cải tử hồi sinh, vì muốn giữ lấy tính mạng của Tiêm Quả, mới chạy tới thượng nguồn gọi tôi và Tuyền bèo cùng quay lại Hắc Sơn Đầu, vào mộ Thái hậu Đại Liêu.

Mấy người chúng tôi ở phía trước vừa đi, tên chuột đất đã cõng theo quỷ môn lão tổ trên lưng, một đường bám theo phía sau. Nhưng bọn chúng nào biết bên trong toà Liêu mộ này cũng chẳng có bảo tương hoa, sở dĩ có những hoa văn trang trí kia, là vì phía dưới huyền cung có một cái khe nứt, trong đó có rất nhiều nham bích, mô tả “mặt trời toái phiến". Nham bích có niên đại không dưới nghìn năm, không biết là tác phẩm của cổ nhân thời đại nào, hơn nữa khe nứt này rất sâu, người xuống đó khó lòng trở lên. Sau này có chín toà huyền cung đều bị lưu sa chôn vui, tên chuột đất Nhị Hổ rơi xuống động tuẫn táng chết tươi. Lão chuột đất thấy không còn đường ra, không thể không trốn ở sau lưng ba người chúng tôi, một mực đi sâu vào trong khe nứt, tôi đến tận sông ngầm mới phát hiện ra lão.

Lão ta lại nói, không ngờ rằng, thứ nhất, khe nứt này lại sâu đến như vậy, thứ hai, không nghĩ tới bảo tương hoa lại lớn đến thế kia, phần gốc của nó sinh trưởng tít tận phía cuối địa mạch. Sinh tử giàu sang, ai cũng có mệnh, mấy người chết trước đó xem ra cũng là do số phận đã an bài. Người xưa có câu “oan gia nên giải chớ nên kết", tổ phụ tôi cùng lão vốn là huynh đệ kết nghĩa, hai bên lại cùng mắc kẹt bên trong khe nứt sâu không thấy đáy, nếu như đối đầu chỉ có thể dẫn đến lưỡng bại câu thương, không bằng cùng đồng tâm hiệp lực may ra còn có một con đường sống, cần gì phải sống chết đối chọi với nhau? Tuy lão trúng phải súc thi chú, thân hình thấp bé không tiện hành động, lại đã lớn tuổi rồi, nhưng dù gì cũng đã từng làm chuột đất nhiều năm, cái danh xưng quỷ môn lão tổ này cũng không phải là hữu danh vô thực, nếu như ba người chúng tôi vứt bỏ hiềm khích lúc trước mà nghe lão chỉ điểm, khe nứt tuy có sâu nhưng cũng không thể vây khốn chúng ta. Không chỉ thoát ra được, nói không chừng vẫn có thể có cơ hội tìm được bảo tương hoa, gặp chỗ tốt bốn người cùng chia!

Tôi trong lòng biết rõ, lão chuột đất cùng đường mới phải nói ra những lời này, những kẻ ăn chén cơm của người chết này, từ trước tới nay đều là thấy lợi quên nghĩa, trước mặt thì nói ngon nói ngọt, nhưng lại lén đâm người ta một dao phía sau, nếu như tin lời lão ta, đến lúc chết cũng không biết mình chết thế nào! Huống chi song phương đã kết tử thù, chuyện này liên quan tới biết bao nhiêu mạng người, mâu thuẫn này không thể nào hoá giải được nữa, chưa kể năm đó lão cùng tổ phụ tôi kết bái, còn không phải là vì nhắm tới bộ da huyền hồ mà tổ phụ tôi săn được hay sao?

Trong lúc hai bên nói chuyện, sông ngầm bất chợt đổ về một khe nứt lớn hơn, thế nước tương đối đối trầm ổn. Tôi thấy thời cơ cuối cùng đã tới, không muốn nghe lão ta giả thần giả quỷ lải nhải thêm nữa, làm gì lão chẳng biết chúng tôi sẽ không chịu buông tha, nói ra những lời này chỉ là muốn câu giờ mà thôi, hơn phân nửa là muốn chờ cơ hội để giở trò đối phó, lúc này tôi nháy mắt ra hiệu cho Tuyền béo, cả hai đều cầm xẻng công binh, tiến lên muốn bắt lão chuột đất. Lão ta hỏi: “Các ngươi thật sự muốn bắt lão phu sao?”

Tuyền béo đáp lại: “Lão già nhà ngươi nếu không muốn làm mồi cho cá, nhân lúc còn sớm hãy mau quỳ xuống xin tha, sau đó thúc thủ chịu trói, bọn ông đây từ bi sẽ đem ngươi nhét lại vào balo, mang theo ra ngoài cũng không phải là không thể.”

Hai mắt lão chuột đất gian xảo loé lên, nói: “Quỷ môn lão tổ đạo pháp thần thông, há có thể bị bọn ngươi bắt sống!”

Tôi cùng Tuyền béo không thèm coi lời lão nói là cái thá gì nữa, giờ lão ta đã như cá nằm trên thớt, sao có thể chạy thoát được nữa? Đúng vào lúc này, lão ta giơ tay lên ném ra một vật. Tôi vội vung xẻng công binh lên đỡ, “keng" một tiếng, tôi liền nhận ra đó là miếng ngân bài đeo trên cổ đồng nữ tuẫn táng, đối phương nhân cơ hội này nhảy lên cao một cái, lại không thấy hạ xuống. Ba người chúng tôi quay đầu tìm kiếm khắp bốn phía, nhưng không hề phát hiện được tung tích của lão ta đâu nữa. Chợt nghe giữa không trung truyền tới một trận cười gằn, Tiêm Quả vội vàng dùng đèn pha chiếu về phía đó, ba người ngẩng đầu lên nhìn, chỉ thấy lão chuột đất đang treo người lơ lửng trên chỗ cao, sau lưng mọc ra hai đôi cánh trong suốt, giống như một con chuồn chuồn lớn, từ trong khe nứt bay ra càng lúc càng cao.
 

trucxinh0505

Xóm nhỏ phố núi
Thành viên BQT
Administrator
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,856
Điểm cảm xúc
1,702
Điểm
113
Chương 17: Chuồn chuồn khổng lồ
Dịch: Đặng Nam

Ngước mắt lên cao là một mảng tối đen kịt, ánh sáng đèn pha chiếu loáng qua người lão chuột đất một cái, chớp mắt đã không thấy đâu nữa. Ba người chúng tôi trợn mắt há mồm, quỷ môn lão tổ đã biến thành thứ quái quỷ gì vậy? Làm sao lại có thể mọc ra đôi cánh trong suốt sau lưng, lập tức bay lên giữa không trung? Đến khi nhớ ra phải dùng súng lục mà bắn thì đã chẳng biết lão bay đi đâu mất rồi?

Chúng tôi vô cùng kinh hãi, tuy quỷ môn lão tổ trốn trong rừng sâu núi thẳm nhiều năm, xương cốt càng lúc càng bị rút nhỏ, lại có chút thủ đoạn không thể ngờ tới, nhưng dù sao vẫn là thân xác phàm tục, sao có thể thi triển thần thông như vậy? Nghe nói trước kia, trong đạo pháp có thuật phi thiên độn thổ, chỉ cần niệm thiên cương chú là có thể đằng vân giá nguyệt, hô phong hoán vũ, nghìn hô nghìn ứng, vạn hô vạn linh, chuyện này vẫn được dân gian lưu truyền cho đến bây giờ. Chúng tôi mặc dù đã từng nghe qua, nhưng lúc ấy chẳng ai cho là thật cả, năm đó nếu nói vẽ bùa niệm chú thì tin chứ giữa ban ngày ban mặt bay lên trời thì không, vì nào đã có mấy người trông thấy tận mắt?

Danh hiệu quỷ môn lão tổ nghe qua quả thật rất dọa người, nhưng nói toạc móng heo ra chỉ là loại chuột đất trộm mộ, tuy biết chút yêu pháp bàng môn tả đạo, bất quá cũng chỉ là mấy ngón nghề ảo thuật che mắt được người thường mà thôi, sao có thể có bản lĩnh lớn như vậy? Có chặt đầu tôi cũng không tin! Có câu “tay lớn không che nổi trời, chó chết không dựa đổ tường”, trực giác nói cho tôi biết - trong chuyện này nhất định có quỷ! Nếu lão ta thật có thể tự do bay lượn trên trời, sao còn phải mất công lải nhải cùng chúng tôi cả nửa ngày để làm gì? Lão không tiếc đem hết bí mật trước giờ ra để lung lạc mấy người chúng tôi, chính xác là vì muốn tìm kiếm một cơ hội thoát thân. Nói cách khác, lão chuột đất lúc trước không phải là không bay được, mà là lão đang chờ thời cơ để có thể bay lên! Tôi bảo Tuyền béo cùng Tiêm Quả phải hết sức chú ý, khe nứt này quá sâu, sông ngầm thế nước kinh người, không biết lão chuột đất đã trốn đi đâu, bốn phía xung quanh nguy hiểm luôn trực chờ, không thể đoán trước được sẽ còn phát sinh tình huống gì nữa!

Ba người kiểm tra cẩn thận lại trang bị trên người một lần nữa, Tuyền béo trên lưng đeo balo cùng cây súng săn tự chế, tôi với cậu ta mỗi người cầm theo một cây xẻng công binh, đèn pha thì do Tiêm Quả giữ, ngoài ra còn có một khẩu súng lục, còn lại chỉ toàn mấy đồ lặt vặt linh tinh khác. Chúng tôi đang rầu rĩ ngồi một chỗ, bỗng nhiên phát giác trên đỉnh đầu có một trận gió do vật nào đó rất lớn lướt qua tạo ra. Ba người cho rằng lão chuột đất lại tới, Tiêm Quả vội vàng nâng cao đèn pha, ánh sáng chiếu thẳng vào một con chuồn chuồn to đến dọa người, hai cái cánh mỏng trong suốt giang rộng, dài không dưới năm, sáu thước, đôi mắt kép to như hai cái đèn lồng, phát ra lục quang, bên dưới là một cái đuôi dài vàng xanh lẫn lộn. Năm 1880, đã có nhà thám hiểm người Pháp phát hiện ra được bộ hóa thạch chuồn chuồn khổng lồ bên trong một huyệt động, đã sớm bị tuyệt diệt từ thời tiền sử, đặt tên cho loài này là chuồn chuồn khổng lồ, khổng lồ là chỉ gân cánh của nó, ngoài ra còn có tên khác là chuồn chuồn đuôi lớn. Những năm cuối nhà Minh, có một vị nhân sĩ vì chạy trốn chiến loạn, vô tình lạc vào một hang động đá vôi ở núi Thanh Long, nay thuộc tỉnh Giang Tây, nhìn thấy trong động có lão can nhi, to như cái bánh xe bò, “lão can nhi” là tên gọi dân gian của chuồn chuồn, ngày xưa đều kêu như vậy. Tuy nhiên chuyện này chỉ được ghi lại trong dã sử, cho nên người đời sau không cho là thật. Lúc ấy, chúng tôi không biết cái gì gọi là chuồn chuồn khổng lồ, ngẩng đầu lên liền thấy con chuồn chuồn lớn đến như vậy bay lướt qua, trong lòng ai nấy đều thầm kinh hãi, đồng thời hiểu ra - lão chuột đất có đôi đạo nhãn tinh tường, phát hiện có bầy chuồn chuồn khổng lồ sắp bay qua, bèn nhân lúc mọi người sơ sẩy, nhảy lên túm lấy chân một con chuồn chuồn, bỏ lại chúng tôi lênh đênh trên khúc gỗ mục nát giữa dòng sông ngầm.

Chính bởi vì sự tồn tại của bảo tương hoa, khiến cho thế giới dưới lòng đất này hình thành nên một hệ thống sinh thái hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài, cho nên mới có thể sinh ra những con chuồn chuồn lớn đến như vậy, trước giờ chưa ai từng thấy qua, không biết chúng có ăn thịt người không nữa? Ba người không dám để nó lại gần, xẻng công binh cùng đèn pha đều được khua loạn lên, hòng doạ sợ con chuồn chuồn khổng lồ kia phải bỏ đi. Lúc này, đám dây leo bảo tương hoa trong khe nứt tựa hồ như đang sáng dần lên, chỉ thấy có rất nhiều chuồn chuồn khổng lồ đang kéo bè kết cánh bay lướt trên sông ngầm.

Đám chuồn chuồn bay trên mặt sông, càng đi về trước càng thấy xuất hiện nhiều hơn, tôi với Tuyền béo không khỏi giật mình, chợt Tiêm Quả kinh hãi kêu lên: “Không hay rồi!” Hai chúng tôi nghe thấy thế vội vàng cúi đầu xuống nhìn, dưới chùm sáng đèn pha chỉ có một mảnh hư vô đen nhánh, âm phong không ngừng nổi lên, dòng nước vốn đang chảy xiết về phía trước đã chẳng còn thấy đâu. Thì ra sông ngầm chảy xuyên qua khe nứt, tới chỗ này thì liền biến thành một cái thác nước, từ giữa vách đá đổ thẳng xuống dưới. Chúng tôi lập tức hít phải một ngụm khí lạnh, vội vàng thu lại xẻng công binh cùng đèn pha cho vào balo, ôm chặt lấy khúc gỗ mục, cùng nhau rơi xuống trong tiếng la hét thất thanh và kinh hãi, thoáng chốc trời đất trở nên quay cuồng, tôi còn tưởng rằng sẽ cứ rơi mãi như thế, nào ngờ khúc gỗ lao thẳng vào trong nước, sâu không thấy đáy, rồi ngay lập tức nổi lên.

Chúng tôi ba người ai nấy đều bị uống đầy một bụng nước, nhưng vẫn quyết ôm chặt khúc gỗ mục không buông, đầu óc choáng váng, hai mắt đầy sao, xương cốt toàn thân nhức mỏi rã rời cứ như bị ai đó tháo tung hết ra, vật lộn cả nửa ngày cũng không bò lại lên được. Tuyền béo dùng đầu ủn vào mông tôi, cố dùng hết sức để đẩy tôi lên khúc gỗ mục. Tiếp đó tôi quay lại giúp đỡ Tiêm Quả, rồi hai người cùng nhau hiệp lực, mồ hôi chảy thành từng dòng, mới có thể miễn cưỡng kéo nốt Tuyền béo lên được. Ba người quằn quại một hồi, nôn ra không ít nước đen, lúc này mới thở lại được bình thường. Việc đầu tiên chúng tôi làm sau khi nghỉ ngơi xong là kiểm tra lại trang bị trên người, cũng may balo, súng săn, xẻng công bình, đèn pha vẫn còn nguyên, bất quá lương khô, thuốc nổ bọc trong túi đều bị ướt hết.

Tôi ngẩng đầu lên đưa mắt nhìn xung quanh, tựa hồ như chúng tôi đã rơi xuống một cái hồ, dòng sông ngầm rộng lớn, mãnh liệt là thế, nhưng khi đổ vào hắc động khổng lồ này, chỉ giống như một sợi chỉ trắng treo trên vách đá cao vạn trượng, dây leo chằng chịt bám đầy trên đỉnh động, xuống thì dễ còn đi lên mới khó. Xem ra sâu trong lòng đất không chỉ có một khe nứt, đám dây leo của bảo tương hoa kéo dài khắp bốn phương tám hướng, xung quanh ít nhất cũng phải có bảy, tám cái khe nứt như này nữa, khe nứt chúng tôi tiến vào chỉ là một trong số đó. Tôi chợt nhận ra, ký hiệu hình con ngươi trên bức bích hoạ bên trong mộ thất, không chỉ là đồ đằng bảo tương hoa, mà còn tương đồng với địa hình nơi này. Bộ gốc khổng lồ của bảo tương hoa chìm sâu dưới đáy hồ, vươn ra trăm nghìn rễ nhánh đâm toạc nham thạch xung quanh, loáng thoáng phát ra ánh sáng, thỉnh thoảng lại có một con chuồn chuồn khổng lồ bay lướt qua đỉnh đầu. Hồ nước trong huyệt động vô cùng sâu, khiến chó chúng tôi lúc này gặp phải hai vấn đề khó khăn, thứ nhất là do nước sâu quá không ai có thể lặn xuống được, thứ hai là không có cách nào để có thể sử dụng được thuốc nổ. Kế hoạch mà tôi suy tính trước kia căn bản không thể thực hiện được nữa, bất đắc dĩ đành phải dùng tay quạt nước đẩy khúc gỗ trôi về phía trước, tiếp tục dò xét địa hình nơi này. Đột nhiên trên mặt nước nổi lên muôn vàn bọt nước, chúng tôi quay đầu nhìn lại, hình như có một con quái vật khổng lồ đang bơi qua bơi lại trong lòng hồ, hơn nữa nó còn đang di chuyển về phía chúng tôi. Ba người không dám chậm trễ, vội vàng dùng đèn pha chiếu khắp nơi tìm kiếm, thấy cách đó không xa có một khối thạch nham lớn nhô lên khỏi mặt nước, lập tức lấy xẻng công binh ra làm mái chèo, khúc gỗ mục càng ngày càng tiến tới gần khối thạch nham. Tôi tung người nhảy lên trên, nhìn một cái, liền phát hiện xung quanh còn có rất nhiều tảng đá nhấp nhô cao thấp khác nhau, tầng tầng lớp lớp vô cùng nguy nga, nhìn mãi vẫn không thấy điểm cuối, dường như dưới đáy hồ nước đang che giấu một mảnh di tích cổ xưa!

Xung quanh nham tầng trải qua hàng nghìn nước chảy bào mòn, lại bị bao trùm bởi một lớp bùn khô lá úa thật dày, không thể nhìn ra hình dáng ban đầu. Chúng tôi không kịp nhìn lâu, cầm trong tay xẻng công binh cùng với đèn pha, đều như chuẩn bị lâm trận xông vào đại địch, hai mắt ngưng trọng nhìn về phía mặt nước, thế nhưng lại không còn một chút dị động nào nữa, hồ nước hoàn toàn phẳng lặng.

Dây leo bảo tương hoa vươn xa khắp bốn phương tám hướng, cùng với thụ mạch tựa hồ như đang sáng lên, bất quá trên mặt nước đen ngòm vẫn không có chút ánh sáng. Tuyền béo hỏi tôi: “Mới vừa rồi trong nước có cái gì thế hả Nhất?” Tôi lúc ấy cũng không thấy rõ, nhưng có thể khẳng định một điều rằng thứ này có kích thước không hề nhỏ! Thường nói “núi cao có linh, nước sâu có quỷ", huyệt động nơi bảo tương hoa sinh trưởng sâu không thấy đáy, trên mặt nước có loài chuồn chuồn to đến mức có thể ăn thịt người, nếu như nói dưới đáy nước kia có thứ gì đó khổng lồ không kém, vậy cũng không có gì là lạ. Ba người nhớ lại tình huống lúc bị rơi xuống hồ nước, không khỏi nghĩ tới mà sợ.

Chúng tôi không muốn ở đây lâu thêm một chút nào nữa, bất quá ai nấy toàn thân trên dưới đều ướt sũng, Tiêm Quả lại bị nhiễm lạnh nên cả người cứ run cầm cập, muốn mở miệng nói cũng khó. Dưới tình huống như vậy, không còn cách nào để triển khai kế hoạch lúc trước được nữa. Tuyền béo mở balo ra kiểm tra, phát hiện thuốc nổ đã không thể dùng được, đành ném sang một bên, chỉ còn lại ngọn đèn bão cùng chiếc bật lửa, trên tảng đá lớn này cũng có không ít cành khô lá héo, có lẽ tất cả đều là từ trên đỉnh động rơi xuống. Ba người cùng bắt tay vào hành động, gom nhặt hơn chục cành cây khô, xé vải ra quấn thành từng bó, lại lấy dầu hoả từ ngọn đèn bão tẩm vào, làm thành mấy chục ngọn đuốc, sẵn sàng đề phòng bất cứ tình huống nào có thể xảy ra. Cả ba chúng tôi đều ướt như chuột lột, chỉ mong mau chóng đốt lên một đống lửa để hơ khô người cùng súng săn, nhưng nơi này chưa chắc đã an toàn, đành phải cắn răng chịu đựng, tiếp tục đi về phía trước. Ba người vừa muốn nhấc chân, bỗng nhiên thấy mười mấy con chuồn chuồn khổng lồ bay lướt qua đầu. Lão chuột đất đang cưỡi trên lưng một con trong số đó, tuy thân hình lão ta nhỏ bé như đứa trẻ lên ba, nhưng không phải là do sinh ra đã vậy, tỷ như trước kia lão ta nặng chừng một trăm cân, thì bây giờ vẫn nặng y như vậy, người trúng súc thi chú nguyền rủa, mặc dù thân hình co rút lại, nhưng sức nặng không hề giảm bớt. Chuồn chuồn khổng lồ tuy lớn, nhưng cũng không thể dễ dàng mang theo một người nặng như vậy, miễn cưỡng càng bay càng thấp. Đám chuồn chuồn còn lại tưởng lầm con này bắt được miếng mồi tươi sống, liên tiếp hai, ba con bay tới tranh giành, dây dưa mãi thành một đoàn, con cao con thấp sà cả xuống mặt nước. Chúng tôi chưa từng thấy qua tình huống thế này bao giờ, ai nấy đều ngây người tròn mắt. Lúc lão chuột đất thoát khỏi được con sông ngầm, đắc ý vênh váo biết nhường nào, ấy thế mà chỉ trong chớp mắt đã rơi vào cảnh này, thật để cho người ta không thể tưởng tượng nổi.

Trong lúc ba người chúng tôi còn đang nhìn đến phát ngốc, mười mấy con chuồn chuột khổng lồ sau một hồi tranh cướp, đã đậu lại bên một khối thạch nham, lão chuột đất tay quơ chân đạp, muốn xua đuổi đám chuồn chuồn khổng lồ bay đi, thì đột nhiên từ dưới nước bò ra một con quái vật khổng lồ, lưỡi dài cuốn tới, đem một con chuồn chuồn xấu số nuốt vào trong cái miệng đang há to đợi sẵn. Chúng tôi sợ đến điếng người, không biết đây là con quái vật gì, tứ chi vừa ngắn vừa thô, quanh thân không có vảy, lớp da giày như áo giáp. Nó đưa chiếc lưỡi dài cuốn lấy một con chuồn chuồn ăn sống, đám chuồn chuồn khổng lồ còn lại thấy vậy thì đập cánh tán loạn, thi nhau bỏ chạy. Lão chuột đất cả kinh thất sắc, chỉ tiếc hai chân của lão quá ngắn, muốn chạy cũng không kịp nữa rồi, lại bất ngờ bị con quái vật ngoạm lấy một miếng, trúng ngay phần eo, người lão bị xé làm hai nửa. Lúc chúng tôi đem đèn pha chiếu qua, chỉ thấy ruột gan bầy nhầy lòi ra, miệng sùi bọt máu, nửa đoạn thân trên còn đang liều mạng bò về phía trước, nhưng càng ngày càng chậm dần. Con quái vật từ phía sau lại vươn cái lưỡi gớm ghiếc của nó ra lần nữa, cuốn lấy nửa phần trên của lão chuột đất, nuốt vào trong bụng.

Ba người chúng tôi mặc dù đối với lão chuột đất kia hận đến thấu xương, bất quá thấy lão rơi vào kết cục như vậy, cũng đều không khỏi cảm khái! Lúc này, con quái vật đầu khẽ nghiêng, chầm chậm nhìn về phía về chúng tôi. Có thể ở trong mắt nó, mấy người chúng tôi cùng với đám chuồn chuồn khổng lồ không có gì khác biệt. Ba người mặt tái mét lại, không dám nhìn nữa, tìm một chỗ có thể đặt chân, vội vàng lội nước mà đi.

Xung quanh nham bàn đều là nước, nhưng phía dưới mặt nước lại có rất nhiều đá lớn, một bước giẫm lên, nước còn chưa tới bắp chân, bất quá giữa đám loạn thạch khắp nơi đều là kẽ hở, một khi không cẩn thận giẫm hụt vào đấy sẽ lập tức rơi xuống hồ nước. Chúng tôi chạy được một hồi, trốn vào giữa một đám loạn thạch, dừng lại nghe ngóng, sau lưng không thấy có bất kì động tĩnh gì, có thể thấy con quái vật kia đã không đuổi theo nữa rồi, thần kinh vốn căng như dây đàn lúc này mới tạm được buông lỏng, ai nấy đều mệt đến đứt cả hơi, há miệng thở dốc.

Ba người chúng tôi lần đầu chứng kiến cảnh quái vật ăn thịt người, xem chừng cây súng săn tự chế trong tay Tuyền béo cũng không làm gì được nó, có cho ăn gan hùm mật gấu cũng không dám thò mặt ra ngoài, lại không thể cứ trốn mãi ở đây được, vẫn nên là tìm một con đường khác để thoát ra. Hang động nơi bảo tương hoa sinh trưởng tuy rất lớn, bất quá lúc này đã bị chìm trong biển nước, tạo thành một hồ nước ngầm, chỉ có đám loạn thạch ở chính giữa hồ là có một bộ phận nhô cao hơn hẳn mặt nước. Chúng tôi bị vây khốn ở chỗ này, xung quanh tất cả đều là nước, trong nước thì có quái vật hung bạo khó đối phó, trên đầu thì có chuồn chuồn khổng lồ biết tấn công người, nói không chừng còn có thứ quái quỷ gì khác ăn thịt người đang ẩn mình đâu đó, có thể sống sót đi được tới đây cũng coi như là may mắn lắm rồi, muốn ra ngoài nói dễ vậy sao? Huống chi sông ngầm chảy xiết tạo thành thác nước, muốn leo lên cũng không được, hơn nữa xung quanh có tới không dưới mười cái khe nứt, cho dù có nhặt được một cái la bàn quân dụng, cũng không tìm được vị trí lúc trước mà chúng tôi đã tiến vào!

Phóng mắt khắp bốn phía, chỉ thấy xương khô chồng chất, đa số đều không bị chìm trong nước, khe nứt âm dương mà chúng tôi tiến vào, chỉ là một trong số các khe nứt do bảo tương hoa tạo ra, chắc hẳn rơi vào lòng đất mà không chết cũng không chỉ có mỗi ba người chúng tôi, theo như chúng tôi biết, thì có đám kim phỉ, đội chinh phạt quân người Nhật, có lẽ còn có cả những người thợ đã xây nên Liêu mộ, hay mấy tay thợ săn ở trong rừng sâu núi thẳm,... Mấy nghìn năm qua đi, không biết đã có biết bao nhiêu người rơi vào trong khe nứt này, có thể đi đến tận cùng của khe nứt xem chừng cũng không phải ít người, nhưng sao không có lấy một người có thể chạy thoát ra ngoài? Tại sao nơi này lại có nhiều xương khô đến như vậy?

Chúng tôi nhất thời không nghĩ ra bất cứ đầu mối gì, đành chia nhau mấy miếng lương khô, vừa ăn vừa bàn tính làm thế nào để có thể tìm được đường ra ngoài. Theo như tình huống trước mắt, thụ mạch của bảo tương hoa tám chín phần là sinh trưởng ở bên dưới lớp nham thạch, “trái cây” mà lão chuột đất nói, không chừng cũng ở đó. Bất quá đáy hồ quá sâu, chúng tôi không ai đủ sức để lặn xuống được cả. Đúng lúc này, nước trong huyệt động dâng lên nhanh chóng, lũ từ trên núi đã đổ về rồi! Ba người vội vàng chạy tới chỗ có địa thế cao hơn, phía trước nứt ra một cái động lớn, bên trong rất sâu, không biết dẫn tới nơi nào. Chúng tôi không dám trực tiếp đi vào, trước tiên cứ mở đèn pha xem xét tình hình trong đó thế nào đã, trên thạch trụ có khắc rất nhiều ký hiệu hình xoáy nước, có lớn có nhỏ, chỉ nhìn qua một cái, cũng khiến cho người ta cảm thấy bản thân như đang bị hút vào trong.

Bên trên di tích cổ này, có một cửa động thông thẳng xuống dưới. Chúng tôi nằm trên cửa động nhìn xuống, chùm ánh sáng đèn pha không thể chiếu được tới đáy, không biết sâu đến chừng nào. Tôi đi tới bên cạnh, nhặt lấy một hòn đá nhỏ ném xuống, loáng thoáng nghe được tiếng rơi chạm đáy. Như vậy có thể khẳng định, dưới động mặc dù rất sâu, nhưng hoàn toàn không bị ngập nước. Đúng lúc này, có thứ gì đó đụng phải chân tôi, giật mình cúi đầu nhìn, thì ra là một con “du đề nhi thử” vừa phóng vèo qua chân mình. Tên gọi “Du đề nhi” là để chỉ một loài chuột, lòng bàn chân chúng có thể tiết ra một lớp dầu trơn, tốc độ chạy trốn rất nhanh, thật đúng với câu “nhanh như bôi mỡ bàn chân”. Tôi vừa định nhấc chân đạp cho nó một cái, thì thấy có một đàn chuột nhung nhúc bỗng tràn tới, con trẻ cõng con già, con nhỏ cắn đuôi con to, con nào con nấy hoảng sợ kinh hãi, tới cũng nhanh mà đi cũng nhanh, chỉ chớp mắt đã không thấy đâu nữa. Có lẽ là do nước lũ bất ngờ dâng nhanh, khiến cho lũ chuột trong huyệt động phải dời nhà tránh lũ, lúc này mới chạy ngang qua đây.

Tuyền béo là kẻ gan to bằng trời, muốn liều mạng xuống dưới huyệt động tìm xem có lối ra nào hay không, nói không chừng còn có thể tìm được thứ gọi là “trái cây” kia. Tôi thấy chỉ vì thứ gọi là “trái cây” này mà khiến cho không biết bao nhiêu mạng người đã phải nằm xuống, liệu nó có tồn tại hay không còn rất khó nói, lão chuột đất đã toi mạng, chân tướng thực sự của “trái cây” thế nhưng vẫn chưa được làm sáng tỏ, tùy tiện đến gần nó, xem chừng không phải là một ý kiến hay. Nhưng để cho Tuyền béo một mình đi xuống cũng khiến tôi không yên tâm, ba người nhất định phải cùng tiến cùng lùi, mà giờ đã đi đến điểm cuối của khe nứt, phía trước không còn đường đi, phía sau lại có nước lũ cùng mãnh thú, tôi với Tiêm Quả cũng không thể thoát nổi, thôi thì đành đánh liều cùng số phận, hi vọng rằng bên dưới sẽ có đường ra. Nghĩ vậy, tôi bảo mọi người chuẩn bị lại đồ đạc, thắt chặt dây lưng cùng mũ phòng hộ, đốt ba ngọn đuốc để chiếu sáng, giẫm lên đồ án hình xoáy nước, người này nối tiếp người kia từ trên thạch trụ leo xuống.

Ba người không màng sống chết, dùng cả tay cả chân bám chặt lấy thạch trụ, từ từ tụt xuống từng chút một, ước chừng được hơn chục trượng, hai chân cuối cùng đã chạm được vào nền đất, bên dưới là một thạch quật vô cùng rộng rãi, giống như một toà cung điện thần bí dưới lòng đất vậy, bốn phía không thấy điểm cuối, những cột đá to lớn một cây nối tiếp một cây hết sức chỉnh tề ngay ngắn, mỗi bên đều rộng hơn năm trượng, ngọn đuốc chiếu tới đâu, bất luận là thạch trụ hay là mặt đất, khắp nơi đều khắc đồ hình xoáy nước, có lớn có bé, không tuân theo một quy tắc nào cả. Đồ hình xoáy nước vặn vẹo cùng với những cây cột đá thẳng đứng uy nghi, tỏa ra một loại khí tức âm u quỷ dị, thần bí khó lường. Mấy ngọn đuốc trên tay chúng tôi tuy vẫn bập bùng ánh lửa, nhưng thật giống như một con đom đóm lạc giữa đêm đen hắc ám.

Tôi đang xem xét đồ án hình xoáy nước khắc trên cột đá, bỗng thấy Tuyền béo ngó nghiêng khắp nơi tìm chuột, vội vàng gọi cậu ta tới hỏi, cậu tìm chuột để làm cái gì? Tuyền béo đáp: “Lương khô sắp ăn hết rồi Nhất ơi, không bằng bắt lấy vài con chuột, làm mấy xiên thịt nướng, cải thiện bữa ăn.” Tiêm Quả nói với Tuyền béo: “Nơi này quá lớn, anh chớ có đi linh tinh nữa, coi chừng lạc đường!” Ba người tiếp tục lên đường, đi hết cột đá này đến cột đá khác, ngẩng đầu lên trên đã không thấy đỉnh, nơi chúng tôi trèo xuống lúc trước cũng đã không thấy đâu nữa. Tuyền béo nói: “Hai người các cậu chưa gì đã sợ tái mét mặt thế? Cột đá nào đi qua tôi chẳng khắc lấy một kí hiệu, chúng ta nãy giờ vẫn đi thẳng về một hướng, làm sao có thể lạc đường được?” Nói xong cậu ta dẫn chúng tôi quay lại, tìm cột đá mà lúc trước cậu ta đã đánh dấu, bất quá đi mãi cũng chẳng thấy đâu, đến lúc này Tuyền béo đầu đã đầy khói, rõ ràng mình đã dùng xẻng công binh để lại kí hiệu, tại sao giờ lại không thấy?

Tôi lên tiếng trấn an hai người họ: “Giờ có quay lại trên kia thì cũng chẳng còn đường để đi, thôi thì tới đâu hay tới đó, cứ giữ nguyên kế hoạch ban đầu đi, tìm đường ra bên dưới nơi này.”

Tuyền béo đáp: “Đúng! Cứ đi thẳng theo một hướng nhất định, không thể nào không đến được điểm cuối!”

Tôi nói với Tuyền béo: “Cậu đi tới một cây cột đá, khắc kí hiệu tiếp theo lên đi, tôi sẽ sử dụng la bàn xác định lại phương hướng một lần nữa, trước tìm được một bên vách đá đã rồi tính sau.” Lời tuy nói vậy, chúng tôi cũng không thể không làm tốt công tác chuẩn bị một cách chu đáo, ba người tắt đèn pha, chỉ dùng duy nhất một ngọn đuốc để chiếu sáng.

Tuyền béo nói: “Mấy cây cột đá này bốn bề hoàn toàn giống nhau, nên đi bên nào đây?” Tôi trước mắt vẫn chưa nhận ra bốn hướng có điểm gì khác nhau, cúi đầu nhìn la bàn hành quân trong tay, chính diện nơi chúng tôi đang đứng là hướng Bắc, vì vậy liền quyết định đi theo hướng này. Tuyền béo dùng xẻng công binh chọc chọc ngoáy ngoáy một hồi cột đá hướng Bắc, lưu lại một đạo ký hiệu rất rõ ràng, chúng tôi lúc này mới bắt đầu lên đường, ước chừng mới đi được hơn ba mươi bước, đã lại đi đến dưới một cây cột đá khác. Tuyền béo làm giống lúc này, tiếp tục dùng xẻng công binh để lại trên cột đá một ký hiệu, cứ như vậy lặp đi lặp lại, rất lâu sau đó, chúng tôi đã đi qua không dưới trăm cây cột đá, nhưng càng đi sâu vào trong huyệt động thì càng không thấy điểm cuối.

Ba người chúng tôi có dần trở nên lo lắng bất an, đã đi xa như vậy rồi, không thể nào vẫn chưa tới điểm cuối được, đây chẳng phải là bị ma bịt mắt, bị quỷ cuốn chân hay sao?

Tuyền béo nghiến răng nói: “Cứ tiếp tục đi sâu vào bên trong cũng không phải cách hay đâu, mấy người còn tuyệt chiêu nào khác thì mau bày ra đi!” Tiêm Quả sợ rằng chúng tôi nãy giờ hoàn toàn là đi theo một vòng tròn, vạn nhất các cột đá được sắp xếp theo hình xoáy nước, vậy phải làm sao đây?

Tôi cau mày suy nghĩ một lát, khả năng đường đi được thiết kế theo hình vòng xoáy là không lớn, bởi vì phương hướng mà la bàn chỉ ra không thể nào sai được, bất quá tôi vẫn không hiểu vì sao chúng tôi đi mãi mà không tìm được lối ra. Đáng sợ nhất chính là hết thảy tình hình thế nào chúng tôi đều không rõ, ánh sáng của đèn pha và đuốc cùng lắm chỉ chiếu xa được hơn hai mươi thước, không tài nào thấy được địa hình xung quanh, nếu cứ đi nhắm mắt đi bừa, liệu có thể kiên trì được mấy hồi, đến khi đuốc cháy hết mồi, đèn cũng cạn pin, vậy khác nào kẻ mù! Chúng tôi cần phải thay đổi sách lược hành động, mau chóng tìm được một lối ra. Tôi bảo Tuyền béo đi trước kiểm tra, xem mấy ký hiệu mà cậu ta để lại lúc trước có còn hay không. Nếu như vẫn còn, ít nhất cũng chứng minh được rằng chúng tôi từ đầu đến cuối vẫn đi thẳng theo một hướng, chỉ là chỗ này quá lớn, cho nên đi mãi vẫn chưa tới điểm cuối mà thôi. Tuyền béo hỏi: “Thế nếu như ký hiệu trên cột đá không còn, thì là làm sao?” Tôi không biết phải trả lời câu hỏi này thế nào, nếu trên cột đá thật sự không có ký hiệu… chẳng lẽ đã bị ma quỷ xoá mất?

Tôi bảo Tuyền béo chớ có suy nghĩ nhiều làm gì, cứ đi trước đã rồi có gì để sau hẵng nói, nếu như muốn xoá sạch chỗ ký hiệu do xẻng công binh tạo ra, nhất định phải lưu lại dấu vết nào đó. Tiêm Quả bật đèn pha, đi lùi lại mấy bước, hướng chùm ánh sáng chiếu thẳng tới cột đá đối diện. Tuyền béo cầm cây đuốc, chạy nhanh tới, cúi đầu xuống kiểm tra cột đá, rồi vẫy vẫy tay về phía chúng tôi ra dấu, ý bảo ký hiệu vẫn còn nguyên, ngay sau đó vội vàng chạy trở lại. Nếu không phải là do ma quỷ quấy phá, vậy có khả năng chúng tôi đang tiến vào một địa hình rất sâu, chúng tôi vẫn luôn đi theo hướng Bắc, giống như khi đi vào khe nứt kia, càng đi thì lại càng thấy sâu, không biết lúc nào mới đi tới điểm cuối. Chúng tôi lúc này quyết định quay đầu đi về hướng Tây, vẫn tiếp tục để lại những ký hiệu lên các cây cột đá, đi cả nửa ngày, vẫn chưa tới được nơi cần tới. Ba người đều cảm thấy tuyệt vọng, đúng như lời Tuyền béo nói, cứ tiếp tục cắm đầu đi như này, đến khi đèn đuốc tắt hết, cả lũ sẽ thành người mù, kêu trời trời không thấu, gọi đất đất không hay, có muốn khóc cũng không khóc nổi, làm cách nào ứng phó được đây?

Tuyền béo nói với chúng tôi: “Đuốc với đèn pha còn đủ dùng một lúc nữa thôi, lương khô cũng sắp hết rồi, sớm biết thế này thì đã cố bắt thêm vài con chuột, tốt xấu gì cũng có cái mà bỏ vào trong miệng, không lo chết đói, đợi đến khi chén sạch chỗ lương khô còn lại, chỉ còn nước gặm đá mà nhai. Cậu giỏi như vậy, thử nói xem vì sao lũ chuột vừa nãy kéo xuống nơi này đông như vậy, mà giờ lại chẳng thấy một con nào? Chúng trốn đi đâu rồi cơ chứ?”

Tôi thở dài, lúc này mới cảm thấy không bằng cả loài chuột bọ, ở nơi tăm tối như này bọn chúng còn có thể nhìn thấy đường, chúng tôi nếu không có đuốc, chưa chắc đã đi được đến đây!

Tuyền béo không đi tiếp nữa, mà giơ thấp ngọn đuốc, cúi đầu xuống muốn tìm hang chuột. Tôi nói với Tuyền béo: “Lương khô hãy còn mấy khối nữa, cậu việc gì phải vội vàng như thế?”

Tuyền béo đáp: “Mấy ngày nay ngày nào cũng phải nhai cái thứ lương khô cứng hơn cả đá ấy, ông đấy ngán đến tận cổ rồi, bắt lấy hai con chuột lớn, đem đi nướng thơm phức, thay đổi chút khẩu vị không được sao?”

Tiêm Quả cũng lên tiếng khuyên Tuyền béo, thịt chuột làm sao có thể ăn được? Tôi lại nói: “Thịt chuột quả thật không thể ăn được, lúc ở trong thôn kim phỉ cậu cũng thấy rồi đấy, nhà nào cũng có bài vị thờ cúng khôi tiên gia, nhỡ nó là một vị tiên gia thật thì sao? Có mấy lời bình thường tôi không nói ra bao giờ, là vì sợ người ta bảo rằng tôi là kẻ mê tín dị đoan, bất quá đối với hai người các cậu, tôi cũng không ngại nói ra, để tôi kể cho mọi người một chuyện tôi từng gặp qua lúc trước. Năm 1966 được gọi là năm Đại Xuyến Liên, đường sắt được kết nối khắp cả nước, tôi cùng Tuyền béo bắt xe lửa đi Tinh Cương Sơn. Giữa đường xe phải dừng lại để tiếp nước, tôi thấy cứ ngồi mãi trong buồng xe thì cũng thật là buồn chán, cho nên mới xuống xe đi bộ một vòng, kết quả là bị nhỡ chuyến, bất đắc dĩ đành phải tìm đến một nhà đồng hương gần đó để tá túc. Nửa đêm khát nước quá, lăn qua lăn lại mãi vẫn không ngủ được, định đi ra ruộng hái dưa hấu ăn cho mát.

Ban đêm gió lạnh trăng mờ, mặt đất tối đen, tôi mò mẫm tìm kiếm một hồi, chẳng hiểu sao lại đi lạc tới một ngôi mộ hoang, vòng tới vòng lui vẫn không tìm được đường về, từ đầu đến cuối vẫn chỉ đi loanh quanh một chỗ, bất luận tôi đi theo hướng nào, ngôi mộ đó vẫn luôn ở phía sau. Tôi khi đó gan lớn, chẳng hề tin vào quỷ thần ma mãnh, thấy một khối gạch đè trên đỉnh mộ, liền một cước đá văng nó đi, nào ngờ bên dưới khối gạch có một lỗ thủng, bên trong loáng thoáng phát ra ánh sáng. Tôi nổi lòng hiếu kỳ, bèn nằm bò ra đất, ghé mắt vào nhìn thử, thì ra lỗ thủng này thông thẳng tới mộ thất bên dưới. Trong mộ có một cái kháng đất, bên cạnh là chiếc bàn lò (Trans: Bàn đắp bằng đất, bên dưới có đặt bếp lò để giữ ấm trong mùa đông), trên bàn thắp một ngọn đèn dầu, một lão đầu tử cùng lão bà của mình ngồi xếp bằng trên kháng đất, chụm đầu ghé tai thì thầm gì đó. Tôi nhớ đã từng được nghe tổ phụ kể qua, cho nên có thể khẳng định hai người này tám chín phần là do bọn chồn vàng chó sói sống lâu ngày trong mộ hoang hóa thành, trốn ở đây quấy phá dọa người! Vừa hay trong túi tôi có một quả pháo đất, những người sống ở nông thôn rất hay mang theo bên người thứ đồ chơi này, đề phòng nửa đêm ra thăm ruộng gặp phải lợn rừng tấn công, chỉ cần đốt một cái là có thể dọa cho chúng chạy té khói, tôi nửa đêm định bụng ra ngoài hái dưa, cho nên cũng tiện tay cầm lấy một quả. Tôi cũng không biết khi ấy có phải do mình ăn gan hùm mật gấu hay không mà lại có thể bạo gan đến như vậy, bật lửa, châm ngòi, thò tay vào trong lỗ thủng ném quả pháo xuống, nhưng còn chưa kịp rút tay ra thì đã bị ai đó túm lại. Tôi vô cùng sợ hãi và hoảng loạn, trợn mắt nghiến răng mãi mà vẫn không tài nào rút được tay ra, bỗng nhiên có tiếng pháo nổ vang, tôi cảm thấy tay mình bị thứ gì đó hung hăng ngoạm lấy một cái, lúc này mới thu lại được cánh tay.

Tôi lấp kín lỗ thủng, rồi vội vội vàng vàng chạy về nhà người đồng hương kia, hôn mê suốt mấy ngày liền, miệng không ngừng ú ớ mê sảng, sắp sửa gần đất xa trời. Cũng may bọn họ tìm được một người biết xem chân hương, bày trận dựa theo “hương phổ”, tôi mới giữ lại được cái mạng này. Vậy mới nói, những thứ này nó không chọc đến cậu, thì cậu cũng đừng có cố đấm ăn xôi mà đụng tới nó, không tin cậu nhìn đây này, trên tay tôi vẫn còn lưu lại vết sẹo năm đó!”

Nói rồi tôi giơ mu bàn tay ra cho Tuyền béo cùng Tiêm Quả nhìn, bên trên quả thật có mấy vết sẹo. Tiêm Quả liền tin là thật, nhưng lại không qua được mắt Tuyền béo. Cậu ta nói: “Thôi ông tướng bốc phét ít thôi, mấy vết sẹo này chẳng phải là do năm ấy cậu hứng lên xuống xe đi rình trộm dưa nhà người ta, rồi bị chó săn phát hiện tợp cho mấy phát sao? Thế quái nào giờ lại thành vết cắn của khôi đại tiên gia thế?”

Tôi không ngờ Tuyền béo ngay cả chuyện này cũng biết, nhưng dù sao cũng chỉ là muốn cậu ta không đi bắt chuột ăn, năm đó cả nước mất mùa, ở nông thôn rất nhiều người phải đi bắt chuột để ăn, bất luận là bị tiên gia trả thù hay dính dịch hạch, phần lớn đều chết không được tử tế, cho dù là chuột nhắt trên núi, cũng không thể tùy tiện ăn bậy.

Trong lúc nói chuyện, ba người chúng tôi vẫn chưa đi tiếp được bước nào, cảm thấy đại điện này giống như mê cung, càng đi càng khiến cho người ta sau lưng phát lạnh, đã thử đi cả hai hướng mà mãi vẫn không thể đi tới được điểm cuối, chỉ thấy một cây lại một cây cột đá nối tiếp nhau liên miên, cùng với muôn vàn đồ hình xoáy nước chỗ nào cũng có, người đi ở trong đó, giống như đưa thân vào vô biên vô tận xoáy nước hải vực, hoàn toàn không có lối ra!
 

trucxinh0505

Xóm nhỏ phố núi
Thành viên BQT
Administrator
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,856
Điểm cảm xúc
1,702
Điểm
113
Chương 18: Xoáy nước sâu (thượng)
Dịch: Đặng Nam

Tuyền béo không ngừng mở miệng kêu khổ: “Thà rơi xuống biển còn sướng hơn, trong biển ít ra còn có cá mà ăn, có cảnh mà ngắm, chứ đâu như cái nơi bỏ mẹ này, nhìn đâu cũng chỉ thấy toàn đá là đá! Chưa nói đến ngoài biển, chẳng bị cái mẹ gì úp lên đầu cả, bao la phóng khoáng, không khí trong lành, sướng hơn không biết bao nhiêu lần cái hầm mộ chó chết này!”

Người nói vô tâm, người nghe hữu ý, Tuyền béo chỉ thuận miệng nói như vậy, nhưng lại khiến tôi nảy sinh một ý nghĩ, phía trên đỉnh đá còn có một không gian khác, chúng tôi ban đầu chính là từ trên đó bám theo thạch đá đi xuống, bên trên có lẽ có thể đi ra ngoài. Cho dù từ bên trên đi ra, đồng dạng cũng không có lối mà đi, đường sống thực sự còn phải tìm ở nơi này, nếu có thể lần nữa leo lên được đỉnh hang, ít nhất cũng có thể nói rõ một điều, cái cung điện dưới lòng đất này bất quá chỉ là kích thước quá lớn, chứ không phải là do yêu ma quỷ quái gì quấy phá cả. Tôi lập tức leo lên một cây cột đá, được chừng hơn mười trượng, đã có thể với tay ra chạm vào đỉnh hang, bên trên cũng có khắc đồ hình xoáy nước, dùng xẻng công binh đục thử vài nhát, lớp đá ở đây cứng rắn vô cùng, không thể làm gì được. Tôi cúi đầu nhìn xuống bên dưới, cây đuốc trong tay Tiêm Quả bây giờ chỉ còn là đốm sáng nhỏ, trông như một hạt đậu nành, căng mắt ra mới có thể nhìn thấy. Tôi từ trên cột đá tụt trở xuống, nói lại tình hình bên trên cho hai người Tuyền béo và Tiêm Quả được biết, nếu như không gặp phải yêu ma quỷ quái gì cản đường, thì còn có thể tìm được đường ra.

Tuyền béo nói: “Cái hang chết tiệt này rốt cuộc là nơi nào vậy hả Nhất ơi? Trông rõ là lớn mà lại chẳng có cái mẹ gì cả!”

Tiêm Quả đáp: “Lẽ nào chúng ta lại lạc một ngôi cổ mộ khác?”

Tuyền béo nghe thế, cũng gật gù đồng ý với ý kiến của Tiêm Quả, đây có lẽ quả thực là một ngôi mộ cổ, cậu ta nói: “Tổ phụ cậu năm đó chẳng phải làm đã từng làm chuột đất hay sao? Cậu thể nào cũng được truyền thụ một hai, thế mà vẫn nhìn không ra đây là loại mộ gì à?”

Tôi không muốn trước mặt Tiêm Quả nhắc đi nhắc lại chuyện tổ phụ tôi từng dính dáng đến cái nghề này, nó chẳng phải là chuyện vinh quang hay vẻ vang gì để mà ông ổng suốt ngày cả. Huống chi tôi cũng không cho rằng mê quật này là một ngôi mộ cổ, trên đời tuy có đại mộ thật, nhưng tuyệt nhiên không có cái nào lớn đến mức quái dị như thế này. Tuyền béo lại hỏi tôi: “Thế mấy cái đại mộ từ đầu đến cuối lớn chừng nào?”

Tôi từng xem qua cuốn “lăng phổ” do tổ phụ truyền lại, “lăng phổ” còn được gọi với cái tên khác là “táng huyệt đồ”, chỉ có rất ít cuốn là thật còn đâu đa số đều là giả, trong sách thật có ghi lại các phương hướng, bản đồ huyệt vị của các lăng mộ theo từng triều đại, còn sách giả thì đa số nhắc tới các phương vị thổ táng, nội dung liên quan đến đại mộ thời cổ đại tuy nhiều nhưng không hề đáng tin. Bất quá cuốn “lăng phổ” kia của tổ phụ tôi là có lai lịch gốc gác đàng hoàng, mấy thứ hàng dởm hàng nhái trong tay đám trộm mộ vớ vẩn làm sao có thể so sánh được. Dựa theo “lăng phổ” ghi chép lại, Ly Sơn Tần Lăng được mệnh danh là đệ nhất đại mộ từ xưa tới giờ, người được an táng trong Ly Sơn chính là Tần Thuỷ Hoàng, trong mộ bày ra một hàng tiên long tiên phượng, vô số kỳ trân dị bảo được vơ vét từ khắp nơi trong thiên hạ chất thành từng đống cao như núi, trải dài như biển, lấy trầm hương đẽo thành thuyền, dùng vàng đúc thành chim nhạn, ở giữa còn đặt một con kình ngư bằng ngọc nguyên chất, trong miệng có ngậm hoả châu, giống như ánh sáng chiếu rọi khắp địa cung, vô cùng thần diệu, không cần đèn đuốc. Nhưng so với nơi này thì thật không đáng nhắc tới, muốn ở trong mê quật tạc ra được một toà đại điện lớn như thế kia, không biết phải dùng đến biết bao nhiêu sức người cơ chứ? Thời gian để hoàn thành cũng không phải là ngắn?

Cung điện khổng lồ bên dưới lòng đất này hoàn toàn trống trơn, khắp nơi chỉ có một cây lại một cây cột đá nối tiếp nhau, tất cả đều được khắc đồ hình xoáy nước, vậy là có ý gì? Hay chính xác hơn chúng dùng để làm gì? Với sự hiểu biết của cả ba chúng tôi, căn bản không thể nghĩ nổi. Tuyền béo vỗ trán bốp một cái: “Còn có thể làm cái gì cơ chứ, chính là để dụ người ta đi vào rồi không tìm được đường ra chứ sao!”

Tiêm Quả nói: “Tại sao phải làm như vậy? Phải chăng là vì không muốn người ta đến gần những thứ kia?”

Tuyền béo gãi gãi đầu: “Nơi này không phải toàn là cột đá sao? Lấy đâu ra thứ gì nữa chứ?”

Một ý nghĩ xẹt qua trong đầu tôi: “Có lẽ nào làm thế là để ngăn không cho người khác đến gần bảo tương hoa? Hay do chính bảo tương hoa đang tác oai tác quái?”

Lúc trước chúng tôi đã vô tình bỏ qua một vấn đề quan trọng, thụ mạch bảo tương hoa nằm dưới mê quật này, trước sau trái phải đều không có đường ra, tại sao không thử đi sâu xuống dưới? Đi xuống vừa vặn có thể tiếp cận được bảo tương hoa, nói không chừng còn có thể men theo dây leo của nó thoát ra ngoài! Ba người vất vả lắm mới nắm được một cái phao cứu mạng, vội vàng cạy bỏ lớp gạch đá dưới nền, nào ai biết lớp gạch này cứng rắn không kém gì so với tầng đá trên đỉnh hang, cạy mãi mà không ra. Đại điện bốn phía không thấy điểm cuối, thật có thể nói là “lên trời không có lối, xuống đất không có đường”!

Tuyền béo không thể làm gì khác hơn là ngồi phịch xuống, cây đuốc trên tay cậu ta vừa may tắt ngấm đúng lúc này, đành thuận tay ném sang một bên. Tôi với Tiêm Quả cũng chẳng còn cách nào, cùng ngồi xuống thương lượng đối sách. Tôi nói với Tuyền béo: “Cậu đừng có ngồi im như hòn đá nữa có được không? Trước mắt nhất định sẽ còn gặp nhiều khó khăn, nhưng chúng ta đã một đường đi xuống được đến tận đây, trải qua biết bao nhiêu khảo nghiệm thử thách khó khăn cùng thời khắc kích động lòng người, gánh vác trên vai sứ mệnh cách mạng to lớn, làm sao có thể bỏ cuộc lúc này? Hãy dùng sức chịu khó suy nghĩ một chút đi, chưa chắc đã không tìm được đường ra.”

Tuyền béo nói: “Nói thì hay lắm Nhất ạ, cậu muốn nghĩ thì tự mình nghĩ một mình đi, đừng có lôi kéo thằng này, tôi chịu rồi không nghĩ ra được cái mẹ gì nữa đâu, suốt ngày phải gặm cái thứ lương khô chết tiệt kia, lấy đâu ra dinh dưỡng bổ sung cho não? Ngồi không còn chẳng dám nghĩ nhiều nghĩ nhanh, giờ cậu lại bảo tôi dùng sức thì chẳng phải là vỡ toác mẹ đầu ra à?”

Tôi tức giận đáp lại: “Lương khô cũng không thể ăn không được! Ngay cả một cái chủ ý nhỏ nhoi cũng không nghĩ ra được, vậy cậu còn có tác dụng gì nữa chứ?”

Tuyền béo dõng dõi nói: “Tôi là người sinh ra để làm lãnh đạo, đứng trên cao bao quát đại cục, làm nên việc lớn! Chờ các cậu nghĩ ra kế sách, tôi có thể tham khảo rồi đưa ra ý kiến phê bình, cái nào cần phải triển khai, cái nào phải loại bỏ, cái gì có thể làm, cái gì không thể, các cậu kinh nghiệm đều không có, không có thủ trưởng hướng dẫn chỉ bảo, sao mà làm được nên chuyện.”

Tôi thấy Tuyền béo bắt đầu hồ ngôn loạn ngữ, đến cả tên mình là gì cũng sắp quên mất rồi, đang muốn tạt cho cậu ta một gáo nước lạnh, lại thấy Tiêm Quả lên tiếng: “Các anh thử nghĩ lại xem, nếu chỉ để vây khốn người khác, thì việc gì phải tạo ra một cái địa cung lớn như thế này?”

Tôi chợt ngẩn người, rất nhanh đã hiểu ý Tiêm Quả muốn nói đến là gì, đỉnh hang cách mặt đất ước chừng hơn mười trượng, tạo thành một tòa địa cung quy mô khổng lồ, nếu như chỉ để vây khốn những người tiến vào, quả thật rất khó nói, hoàn toàn không cần phải tốn công tốn sức đến như vậy, rốt cuộc tòa đại điện này là dùng để làm gì?”

Tiêm Quả bật đèn pha chiếu lên những cây cột đá, cột đá trong đại điện cao chừng mười trượng, chiều rộng không dưới năm trượng, nếu chỉ để vây khốn người ngoài, thật sự không cần phải làm to đến như vậy. Vừa suy nghĩ, Tiêm Quả vừa đi đến bên trái cột đá. Hai thằng tôi sợ có chuyện không hay xảy ra, vội đốt lại một cây đuốc khác, cùng nhau tiến lên. Tôi mượn ánh sáng từ cây đuốc, ngẩng đầu nhìn về phía cột đá, không chỗ nào không khắc đồ hình xoáy nước, đều xoáy theo một hướng nhất định, càng nhìn càng loạn, đầu óc tôi lúc này đã rối như tơ vò, đang lúc căng não suy nghĩ, Tiêm Quả đột nhiên cả kinh thốt lên: “Có người!”

Tôi vội vàng giơ cây đuốc về phía sau soi thử, nhưng lại chẳng thấy có bất cứ thứ gì hết, trong lòng thầm nghĩ: vợ khóc thì con kêu, trên trời rơi xuống Lâm muội muội, nửa đường nhảy ra Trình Giảo Kim, bên trong cung điện trống rỗng này làm gì còn ai khác?

Tuyền béo tháo cây súng săn tự chế trên lưng xuống, đạn đã lên nòng, hỏi Tiêm Quả: “Nơi nào có người?”

Tiêm Quả run rẩy chỉ tay về phía con đường chúng tôi đã đi qua: “Hình như là… quỷ môn… lão tổ!”

Tôi cùng Tuyền béo nghe thấy vậy càng cảm thấy kỳ quái hơn, lẽ nào lại là quỷ môn lão tổ, tên quái nhân thân hình bị co rút lớn chưa bằng một đứa bé năm tuổi? Lão chuột đất rõ ràng đã chết, chính ba chúng tôi đã tận mắt trông thấy, hơn nữa còn bị con quái vật dưới nước xé xác thành nhiều mảnh, làm sao có thể xuất hiện ở chỗ này? Ba người cẩn thận di chuyển tới mặt bên của cột đá, nhưng không thấy dù chỉ là một vết chân người, trên mặt đất chỉ có cây đuốc đã tắt từ lâu. Tuyền béo cho rằng Tiêm Quả hẳn đã nhìn lầm, có lẽ do quá khẩn trương, nên mới thần hồn nát thần tính, sinh ra ảo giác. Tôi thầm nghĩ tuy lão chuột đất đã chết, nhưng ở cái địa phương quỷ quái này, nếu có thấy quỷ thì cũng không có gì là kỳ lạ, thường nói “người chết như đèn tắt", đèn tắt còn có một làn khói cuối sót lại, huống chi là con người? Tôi trong đầu nghĩ vậy, nhưng không hề nói ra, thấy bên này không có, lại đi về phía trước mấy bước, bỗng nhiên ánh sáng từ cây đuốc chiếu rọi lên một khuôn mặt người, da dẻ nhăn nheo, vặn vẹo dữ tợn, rõ ràng chính là quỷ môn lão tổ đã chết từ lâu!

Tôi giật mình hoảng hốt, cây đuốc trong tay vì thế mà chao đảo một phen, không thể chiếu tới khuôn mặt lão chuột đất. Tuyền béo giơ khẩu súng săn tự chế lên, tôi cầm chặt xẻng công binh, Tiêm Quả theo sát phía sau, ba người đánh liều đi về phía trước, nhưng không thấy tung tích của lão chuột đất đâu nữa cả. Mấy cây đuốc làm vội của chúng tôi toả ra thứ ánh sáng ảm đạm như có như không, bất quá dưới con mắt ngũ luân bát quang tinh tường của tôi, tuyệt đối sẽ không nhìn nhầm, đó quả thật là lão chuột đất đã chết! Chỉ bất quá, hai mắt của lão vốn luôn loé lên hung quang gian xảo, nhưng mới vừa rồi khi bị cây đuốc chiếu qua, lại chỉ như hai cái hố đen! Tôi trong lòng lạnh toát, quỷ môn lão tổ không chỉ đã chết, mà ngay cả đến xác cũng chẳng còn, tại sao lại xuất hiện trong toà đại điện này?

Tuyền béo định đuổi theo, liền hỏi: “Lão chuột đất chạy hướng nào?” cây đuốc chỉ thoáng đung đưa trong phút chốc, ấy thế mà quỷ môn lão tổ đã biến mất ngay trước mắt chúng tôi, không thể xác định được lão đã chạy về hướng nào. Tôi bảo Tuyền béo không cần đuổi theo, bốn phía tối đen như mực, lại không nghe được tiếng bước chân nào, làm sao có thể đuổi kịp?

Tuyền béo nói: “Chôn chân mãi ở đây lâu như vậy, chỉ thấy cột với cột, thật vất vả lắm mới thấy một bóng người, còn không mau đuổi theo xem rốt cuộc là ai?”

Tôi trong đầu thầm nghĩ quỷ môn lão tổ mà là người sao? Thật khó mà nói lão bây giờ đã thành cái giống gì, rõ ràng đã chết mười mươi, tại sao lại xuất hiện ở chỗ này?

Tuyền béo nói tiếp: “Cậu còn ngây ra đấy làm gì, không đuổi theo thì làm sao biết được chuyện gì đang xảy ra?” Tôi thấy có gì đó không đúng, tạm chưa nhắc đến việc lão chuột đất có phải là quỷ hay không, thoắt ẩn thoắt hiện, dường như là cố ý để chúng tôi nhìn thấy, bằng không cũng đã không đến gần như vậy! Dựa theo hướng này mà suy luận thêm - lão chuột đất hiện thân xuất hiện, mười phần thì có tám, chín phần là muốn dụ chúng tôi đuổi theo, tại sao lão lại muốn làm thế?

Tuyền béo là người chỉ biết chiếm tiện nghi chứ không chịu thua thiệt ai, so với bất kỳ ai cậu ta cũng đều sáng suốt, nhanh nhạy hơn, vừa nghe thấy tôi nói như vậy, lập tức hiểu ra, lão chuột đất đây là muốn thực hiện một chiêu gọi là điệu hổ ly sơn!

Tôi gật đầu một cái, quỷ môn lão tổ muốn dụ chúng tôi đuổi theo, nhất định không có ý tốt, phía trước nói không chừng đang có cạm bẫy giăng ra chờ sẵn, đã không đuổi thì thôi, một khi đuổi theo nhất định sẽ bị mắc lừa.

Tiêm Quả bỗng nhiên giống như nghĩ ra điều gì đó, nói: “Chúng ta ở trong mê quật không thể thoát ra, lương khô cũng sắp hết, sớm muộn gì cũng bỏ mạng ở đây, tại sao còn muốn dẫn dụ chúng ta rời đi?”

Tôi cùng Tuyền béo sững sờ, lời này của Tiêm Quả nói rất đúng, quy mô của cái mê quật này lớn đến kinh người, chúng tôi bị vây khốn bên trong, có mọc thêm cánh cũng chưa chắc đã bay ra được, lên trời cũng khó mà xuống đất cũng chẳng xong, đã hoàn toàn rơi vào tuyệt lộ, quỷ môn lão tổ tại sao còn muốn đẩy chúng tôi đi vào chỗ chết? Chẳng lẽ do lão ăn no dửng mỡ, còn chê chúng tôi chết chưa đủ nhanh? Nhưng nghĩ kỹ lại, có lẽ còn có một loại khả năng khác, sở dĩ quỷ môn lão tổ dụ chúng tôi rời đi, là bởi vì không muốn mấy người tiếp tục loanh quanh ở đây, chắc chắn nơi này có gì đó không đúng! Nơi chúng tôi đang đứng bây giờ, phải chăng đã rất gần với bảo tương hoa?

Toà mê quật này đã ngủ yên bên dưới lòng đất phải hơn nghìn năm, quy mô to lớn hiếm thấy trên đời, nơi ánh sáng của đèn pha cùng cây đuốc có thể chiếu tới, chỉ thấy hết xoáy nước này đến xoáy nước khác nối tiếp nhau, người đứng ở bên cạnh như bị mê hoặc, dù có đi theo hướng nào đi chăng nữa cũng không thể đi tới điểm cuối, ba người chúng tôi không nghĩ ra thêm được cái gì nữa cả, đành ngồi ôm gối chờ chết. Theo như tình cảnh trước mắt mà nói, sự xuất hiện đột ngột của quỷ môn lão tổ chính là một cơ hội để mấy người xoay chuyển tình thế, có thể nắm bắt được cơ hội này hay không, đều phụ thuộc vào lựa chọn cuối cùng của chúng tôi. Câu nói của Tiêm Quả đã khiến tôi cùng Tiêm Quả ý thức được một điều - quỷ môn lão tổ dẫn dụ ụ chúng tôi chạy ra ngoài, cũng không phải là vì muốn đẩy chúng tôi vào chỗ chết, mà ắt hẳn lão có mưu đồ khác!

Tôi nghĩ quỷ môn lão tổ đúng là âm hồn bất tán, đã khiến chúng tôi ăn đủ các loại thua thiệt. Không biết lão ta là cái thứ quỷ quái gì, rõ ràng đã chết trong huyệt động, ấy thế mà vẫn có thể quấy phá tới tận bây giờ. Chúng tôi ba người chẳng ai biết vẽ bùa niệm chú, cũng không có bản lĩnh hàng yêu tróc quỷ, chỉ sợ không đối phó nổi với cái giống nửa người nửa quỷ này. Bất quá lão chuột đất tới đây là vì nhắm đến bảo tương hoa, chúng tôi trong lúc vô tình rất có thể đã tiếp cận gần với bảo tương hoa, đối phương lúc này mới phép đem chúng tôi dẫn dụ ra ngoài. Tuy là thế nhưng chúng tôi đã đi lòng vòng xung quanh mê quật này không biết bao nhiêu lần, khắp nơi đều thấy đồ hình xoáy nước khắc trên những cột đá lớn, nhưng tuyệt chưa thấy bảo tương hoa đâu cả. Đến nỗi hình dáng sinh trưởng của nó ra sao, thật ra chúng tôi cũng không hề hay biết, chỉ tình cờ thấy qua những sợi dây leo khổng lồ bên trên khe nứt. Thực không dám tưởng tượng, dây leo đã to đến kinh người, bảo tương hoa còn lớn đến mức nào? Nếu như đã đến rất gần, tuyệt không thể không trông thấy. Tôi giơ cao cây đuốc chiếu khắp nơi một lượt, quan sát cột đá trước mặt từ trên xuống dưới, vẫn là vô số đồ hình xoáy nước lớn nhỏ, tựa hồ biến hoá vô cùng, xem đi xem lại cũng chẳng hiểu gì.

Tôi đứng ngẩn ngơ hồi lâu, không phát hiện thấy có điều gì bất thường, trong đầu thầm nghĩ trong toà đại điện này đều là đá với đá, sao có thể mọc ra được bảo tương hoa? Lão chuột đất muốn tìm bảo tương hoa để làm gì? Không phải là vì thứ gọi là “trái cây" đấy chứ? Hiểu biết của tôi về bảo tương hoa chẳng có mấy, chỉ nghe nói đó là một trong hai mươi tư loài Phật hoa, có thể toả ra hào quang vạn trượng, sáng tỏ thập phương thế giới, chính là loài hoa vãng sinh được ghi lại trong kinh Phật, toà Liêu mộ này được xây dựng phỏng theo táng chế thời nhà Đường, cho nên bên trên gạch mộ mới có dùng hoa văn bảo tương hoa để trang trí, trong khi đó loài thực vật to lớn có thể phát sáng này sinh trưởng ngay đúng nơi có địa mạch, đã tồn tại từ trước đó không biết mấy chục nghìn năm. Có thể thấy bảo tương hoa là cái tên mà mãi sau này người ta mới đặt cho nó, hào quang vạn trượng là để chỉ kích thước to lớn của nó, còn sáng tỏ thập phương thế giới ý nói loài hoa này sinh trưởng bên dưới lòng đất. Tôi nhớ lão chuột đất từng nói qua, lão nói năm đó trong một lần trộm mộ chẳng may trúng phải súc thi chú, cơ thể càng ngày càng co rút lại, chỉ khi nào lấy được thứ trái cây do bảo tương hoa kết thành, thì mới có thể thoát thai hoán cốt, vượt lên trên sinh tử. Tôi không hiểu lời này của lão có ý gì, vì sao không phải là trường sinh bất tử, mà lại là vượt lên trên sinh tử? Thử nghĩ kĩ lại một chút, kỳ thực chuyện này cũng không có gì là khó hiểu cả, người xưa có câu - sinh có giờ, chết có đất chôn, một đời người, sống cũng chỉ là một đoạn thời gian nằm giữa sinh và tử. Bản lĩnh của ngươi cho dù có lớn đến đâu đi chăng nữa, chung quy vẫn sẽ phải quay trở về với cát bụi, đằng này quỷ môn lão tổ lại muốn thoát ra khỏi quy luật ấy của thiên địa, vậy chẳng phải là quá si tâm vọng tưởng rồi hay sao?

Trước khi trông thấy bảo tương hoa, tôi chỉ có thể suy nghĩ linh tinh, đi mãi mà chẳng tìm được thứ gì, cây đuốc trên tay cũng chẳng cháy được mấy hồi nữa, xem ra phán đoán của chúng tôi lúc trước là hoàn toàn sai lầm, liều mình đi về con đường tối đen phía trước, hay là tiếp tục ở lại chỗ này, phải mau chóng đưa ra quyết định. Tuyền béo không cam lòng ngồi chờ chết, vẫn muốn đi về phía trước. Tiêm Quả thế nhưng lại cảm thấy việc quỷ môn lão tổ bất ngờ xuất hiện lúc này nhất định là có nguyên nhân nào đó, trong mê quật khắp nơi đều là cự thạch khắc đồ hình xoáy nước, nếu cứ đi về phía trước, rất có thể lại một lần nữa chẳng thu được bất kỳ kết quả gì. Tôi cũng có ý đó, nếu như không nắm bắt lấy cơ hội này, ắt sẽ rơi vào cảnh vạn kiếp bất phục, mới vừa rồi vẫn luôn cho rằng lão chuột đất không muốn để cho chúng tôi trông thấy bảo tương hoa, nhưng xét cho cùng đây cũng chỉ là suy nghĩ một phía từ chúng tôi, tốt nhất không nên đem hết sự chú ý đặt lên bảo tương hoa.

Tuyền béo nói: “Tìm làm cái mẹ gì? Nơi này còn có cái quái gì để mà tìm?” Tôi bảo cậu ta hãy bình tĩnh đi, thử suy nghĩ kỹ lại xem lúc trước chúng ta đã làm cái gì, tại sao quỷ môn lão tổ lại xuất hiện đúng vào lúc đó?

Tiêm Quả nghĩ ngợi một hồi, rồi nói: “Lúc ấy chúng ta cảm thấy mê quật quá lớn, bốn bề cột đá bên nào cũng phải rộng hơn dăm ba trượng…”

Tuyền béo chỉ tay về phía cột đá bên trái, tiếp lời Tiêm Quả: “Lúc trước chúng ta đi ở bên kia, sau đó đụng phải khuôn mặt ghê tởm của lão chuột đất ở phía sau, quay lại đã không thấy đâu nữa, tôi nói đuổi theo, hai người lại không đồng ý…”

Tôi cúi đầu nhìn chỗ mà lúc trước Tuyền béo đã ném cây đuốc xuống, đồng thời lấy ra la bàn hành quân để xác định phương vị, sau đó bảo Tiêm Quả vẽ lên cuốn sổ tay không thấm nước một hình vuông, bốn hướng Đông Nam Tây Bắc được đánh số lần lượt 1, 2, 3, 4. Lúc trước ba người vẫn luôn đi về phía Tây, dừng lại phía trước một cây cột đá. Khi ấy cột đá chúng tôi đang đứng là ở phía Đông, tức là vị trí số 1. Sau đó chúng tôi lại từ phía bên trái đi vòng qua cột đá, thuận theo chiều kim đồng hồ, vậy là phía Nam, vị trí số 2; còn phía Tây là vị trí số 3. Thời điểm chúng tôi sắp đi đến vị trí số 3, quỷ môn lão tổ đột nhiên xuất hiện, chúng tôi liền quay đầu trở về vị trí số 1. Lúc ấy theo như trực giác của tôi, toàn bộ xoáy nước bên trong toà đại điện này đều xoay theo chiều từ trái sang phải, ba người chúng tôi theo bản năng đi một vòng xung quanh cột đá, cũng chính là từ bên trái sang bên phải, nếu như từ vị trí số 1 vòng qua vị trí số 4, liệu có phát sinh chuyện gì hay không?

Tuyền béo nói với tôi: “Cậu trầm ngâm cả nửa ngày trời mà cũng chỉ nghĩ được đến thế thôi sao?” Tôi đáp tôi chẳng thể nghĩ ra được biện pháp nào khác đâu, nếu nói chúng tôi trong lúc vô tình đã làm gì đó, khiến cho quỷ môn lão tổ buộc phải xuất hiện dẫn dụ chúng tôi tránh xa ra, cũng không phải là từ bên trái vòng qua, có táo hay không có táo, cứ phải đập cho một gậy đã rồi sau hẵng nói! (Trans: Đây là một câu nói dân gian của Trung Quốc, người xưa cho rằng cây táo nếu không dùng gậy đánh doạ nó, thì nó sẽ không thể ra hoa để mà kết trái được, nên trước khi đến mùa táo, không cần biết là cây táo này có bị “điếc” hay không, cứ phải dùng gậy đập mấy phát cái đã.)

Mê quật đại điện chôn sâu trong lòng đất, cột đá bên trong rộng phải đến gần bốn, năm trượng, ánh sáng từ cây đuốc chỉ có thể chiếu đến được không quá mười bước chân, không thể xa hơn được nữa. Tuyền béo tay cầm đuốc đi ở phía trước mở đường, tôi cùng Tiêm Quả theo sát ngay phía sau, ba người dựa theo chiều xoay của xoáy nước, từ bên trái cột đá đi vòng quanh một lượt, lại trở về vị trí số 1 ban đầu. Tuyền béo giơ cao cây đuốc quan sát cả nửa ngày, nhưng tuyệt không cảm thấy có thứ gì bất thường cả. Lòng tôi cũng trầm xuống, chẳng nhẽ cách này hoàn toàn vô dụng. Tiêm Quả so với tôi và Tuyền béo thì cẩn thận hơn nhiều, cô ấy cúi đầu nhìn một cái, liền phát hiện cây đuốc lúc trước đã không thấy đâu nữa. Thời điểm chúng tôi vừa mới tới vị trí số 1 lần đầu tiên, có một cây đuốc bị tắt, Tuyền béo bèn tiện tay ném xuống đất, chúng tôi tiếp tục đi về phía trước thì phát hiện quỷ môn lão tổ nấp ở đằng sau, ba người liền lập tức quay người lại đuổi theo, lúc ấy rõ ràng vẫn còn thấy cây đuốc nằm ở đó, vậy mà bây giờ chúng tôi vòng lại, nó đã biến mất một cách khó hiểu!

Tình hình lúc đó khiến tôi dựng hết cả tóc gáy, sở dĩ chúng tôi đi theo chiều xoay của xoáy nước là do đã hết cách rồi, đành nghĩ được tới đâu thì nhắm mắt làm bừa tới đấy, không ngờ lại thật sự có vấn đề nảy sinh, tại sao cây đuốc kia lại đột nhiên biến mất? Tuyền béo lẫn Tiêm Quả cũng giống như tôi, đầu óc cả hai đều mơ mơ hồ hồ không hiểu chuyện gì đã xảy ra? Hay là đã bị lão chuột đất nhặt đi rồi?

Tuyền béo nói: “Chắc cũng không đến mức đó chứ, cây đuốc kia đã chẳng thể dùng được nữa, lão nhặt lại để làm cái quái gì?” Tôi đáp: “cây đuốc có thể bị người ta lấy đi một cách dễ dàng, nhưng vết khắc thì rất khó xoá mờ, tôi sẽ để lại một ký hiệu ở đây, chúng ta thử đi một vòng nữa rồi quay trở lại xem nó có còn hay không?”Dứt lời tôi liền vung xẻng công binh, khắc lên vách đá một ký hiệu riêng biệt, lại từ bên trái đi vòng quanh cột đá, mỗi mặt đều để lại một ký hiệu khác nhau, sau khi đi hết một vòng bốn mặt, lại quay về vị trí số 1, mượn ánh đuốc leo lét để kiểm tra, cả ba chúng tôi đều cả kinh thất sắc, trên cột đá chi chít đồ hình xoáy nước, nhưng tuyệt nhiên không có bất cứ ký hiệu nào do xẻng công binh để lại!

Tôi dùng sức xoa xoa hai mắt, lại đưa tay ra sờ thử một hồi lâu, quả thật không thấy cái ký hiệu nào cả. Tuyền béo bực bội nói: “Tôi đếch tin chuyện này đâu, hai người cứ đứng đây chờ, tôi vòng qua đó kiểm tra thử xem sao.” Nói xong cậu ta liền xách theo cây súng săn đi một vòng về phía trước, một lát sau mới trở lại, khuôn mặt đầy vẻ kinh hãi, không cần phải hỏi cũng biết, cậu ta từ đằng trước vòng qua, cũng không thấy chúng tôi đâu. Ba người chưa hề từ bỏ ý định, lại đi vòng quanh cột đá thêm một lần nữa, qua mỗi mặt đều khắc lên một cái ký hiệu. Ky quái chính là, nếu đi ngược trở về thì vẫn có thể nhìn thấy ký hiệu đó, nhưng khi chúng tôi đi vòng qua thì lại không thấy. Mọi người không hẹn mà cùng ý thức được chuyện gì đã xảy ra, không phải ký hiệu ở vị trí số 1 bị biến mất, mà là xuất hiện thêm một vị trí số 5 - vốn không nên tồn tại!

Chúng tôi có một cây đuốc để chiếu sáng, vừa dùng xẻng công binh khắc ký hiệu lên cột đá, vừa tiếp tục đi vòng về phía trước, càng đi trong lòng càng cảm thấy hoang mang. Những ký hiệu lúc trước hoàn toàn không thấy đâu nữa, không gian bốn phía xung quanh cột đá giống như một cái xoáy nước vậy, liên tục hút mọi thứ vào tận sâu bên trong. Ba người kinh hãi không nói nên lời, toà đại điện này rốt cuộc là nơi nào?

Tuyền béo lẩm bẩm một mình: “Cứ đi vòng quanh như thế, liệu có thể đi được tới điểm cuối không?”

Tôi thầm nghĩ: Cậu hỏi tôi thì tôi biết hỏi ai đây? Tình cảnh trước mắt của chúng tôi, giống như bị rơi vào một cái xoáy nước đáng sợ, bất luận có vùng vẫy thế nào đi chăng nữa cũng không thoát được ra, chỉ có thể càng ngày càng lún sâu vào… Tuy nhiên tôi không thể nói với Tuyền béo cùng Tiêm Quả những lời như vậy, tôi lúc này nên động viên họ: chúng ta ít nhất vẫn sẽ tìm được một con đường có thể dẫn ra ngoài, đột phá khốn cảnh trước mắt. Quỷ môn lão tổ lúc trước đột nhiên hiện thân, có thể cũng không muốn chúng ta tiếp tục đi như này, bởi vì chúng ta đang từng bước từng bước đến gần hơn với bảo tương hoa. Còn việc sau khi đến gần bảo tương hoa sẽ thế nào? Quỷ môn lão tổ đã chết vì sao lại đột nhiên sống dậy? Toà mê quật đại điện này tại sao không có điểm cuối? Chúng tôi đối với hết thảy các câu hỏi này đều không biết gì cả, thậm chí ngay cả nghĩ tới cũng không dám, sợ rằng một khi nghĩ ngợi quá nhiều sẽ không còn dũng khí để mà đi tiếp về phía trước.

Chẳng ai ngờ rằng đi tiếp mãi như vậy vẫn không thấy điểm cuối, ba người trố mắt ra nhìn nhau, ai nấy trong lòng đều dâng lên một cảm giác tuyệt vọng đến tột cùng, tình hình bây giờ so với lúc trước cũng chẳng khả quan được hơn tí nào, chỉ có những đồ hình xoáy nước toả ra hung tướng vô hình vẫn không ngừng xuất hiện, ngoài ra không có bất kỳ biến hoá gì khác. Liên tiếp rơi vào mê đoàn (Trans: Tình trạng mông lung, khó hiểu, không xác định được phương hướng, suy nghĩ cụ thể,...), cùng với toà đại điện dường như không có điểm cuối, khiến cho ba người chúng tôi chỉ biết bó tay chịu trận. Đã đến nước này, thật sự có thể nói là tiến thoái lưỡng nan, giờ có quay về vị trí số 1 ban đầu thì cũng chẳng để làm gì cả, lúc trước đã không thoát ra được, thì giờ cũng thế mà thôi. Xem ra với tình huống trước mắt, cứ tiếp tục đi lòng vòng, cũng chẳng thu được kết quả gì. Bất luận là tiến hay là lùi, kết quả vẫn chỉ có một mà thôi - bị vây sống bên trong mê quật này! Tôi bảo Tuyền béo cùng Tiêm Quả đừng đi về phía trước nữa, không phải chỉ có dựa vào hai cái chân là có thể thoát ra được, đi vòng quanh chỉ là một bước đầu tiên, bước kế tiếp chúng tôi nên đi như thế nào đây?

Ba người vừa mệt vừa đói, thấy rằng cần phải thương lượng lại kế sách một lần nữa rồi mới tiếp tục hành động được, cho nên mò mẫm tìm một cột đá ngồi xuống nghỉ chân, đồng thời vẫn luôn cảm thấy đâu đây phảng phất có mùi hôi thối tởm lợm, nhưng lại không thấy có thứ gì xuất hiện. Tôi hỏi Tuyền béo: “Chúng ta tổng cộng còn bao nhiêu cây đuốc nữa?”

Tuyền béo đáp: “Đuốc chỉ còn có mỗi hai cây thôi, nốt hai cây này là phải chuyển sang dùng đèn pha rồi.”

Tôi trầm ngâm nói: “Đi tiếp như vậy mãi cũng không được, vẫn là nên nghĩ cách khác…”

Tuyền béo nói: “Thôi nghĩ làm cái mẹ gì nữa cho nặng đầu hả Nhất ơi, lương khô cũng chỉ còn có vài miếng, không bằng chia nhau ra ăn hết đi, sau đó… nhẹ gánh mà tiến về phía trước!”

Tôi giữ chặt tay Tuyền béo, đề phòng cậu ta lại lấy lương khô ra ăn, nói: “Nhẹ gánh mà đi cái đầu nhà cậu, chẳng phải cậu còn chưa có đói đến chết hay sao? Lương khô tuyệt đối không thể ăn tuỳ tiện bừa bãi được.”

Tuyền béo nói: “Cậu để tôi ăn no một bữa có được không? Trong bụng tôi giờ trống huếch trống hoác, sức đâu ra mà nghĩ kế?”

Tôi đáp lại cậu ta: “Cậu thử nghĩ một chút mà xem, sau khi chúng ta thoát được ra ngoài, đám thợ săn trong thôn cũng vừa hay đến lúc xuống núi, khi đó còn lo không có rượu có thịt mà ăn sao? Thịt hươu xào, gà rừng hầm măng khô, chẹp chẹp, mới chỉ nghĩ đến thôi mà nước miếng cứ chảy thành dòng thế này, cậu muốn được thưởng thức những thứ này ý, phải cắn chặt răng, kiên trì tới cùng!”

Tuyền béo lau lau cái miệng đang chảy đầy nước miếng, nói: “Cậu nghĩ hay nhỉ, đến lúc ra được ngoài về được đến thôn, không bị người ta đem đi hỏi tội là may, ở đấy mà mơ tưởng đến thịt hươu, thịt gà!”

Tôi nói: “Cậu yên tâm đi, dù gì cũng rơi vào tay người mình, tốt xấu gì thì cũng đều là chỗ quen biết cả, chắc cũng không đến nỗi bị hành cho ra bã, cùng lắm thì bị chụp cho vài cái mũ thôi, dù sao mũ giấy bồi cũng không đánh chết người được đâu.”

Tuy miệng nói như vậy, nhưng cũng không cách nào tưởng tượng nổi, trước tiến không được, sau lùi không xong, trên không lên nổi, dưới chẳng thể xuống, đi theo chiều xoay đồ hình xoáy nước cũng không thành, toà mê quật đại điện này, tại sao lại kỳ quái đến như vậy, đi theo cách nào cũng chẳng thể ra ngoài? Tôi quay sang nói với Tuyền béo cùng Tiêm Quả nói: “Cách nào có thể nghĩ chúng ta đều nghĩ hết cả rồi, nhưng vẫn chẳng thu lại được kết quả gì, bởi vì chúng ta vốn dĩ không hề biết toà đại điện này là nơi nào?”

Tuyền béo nói: “Aiii, tôi cứ tưởng rằng chúng ta cái gì cũng biết cơ, nhưng hoá ra là chẳng biết cái mẹ gì hết!”

Tiêm Quả nói: “Có một việc mà tôi nghĩ mãi vẫn không thông…”

Tuyền béo nói: “Tôi cũng có nhiều việc nghĩ mãi mà không thông lắm, Lỗ Tấn tiên sinh đã nói như nào ấy nhỉ, đã không nghĩ được thì thôi khỏi phải nghĩ nữa cho đỡ đau đầu.”

Tôi bảo Tuyền béo đừng có chen ngang, trước hết hãy nghe Tiêm Quả nói xong đã. Tiêm Quả nói: “Lúc trước chúng ta phát hiện quỷ môn lão tổ nấp ở phía sau cột đá, cứ nghĩ rằng bởi vì chúng ta đã đi tới gần bảo tương hoa nên lão muốn dẫn dụ mọi người tránh xa, nhưng rõ ràng lão ta vẫn luôn đi cùng phía sau, hết thảy tình huống đều không rõ ràng, làm sao biết được chúng ta đã tới gần bảo tương hoa?”

Tuyền béo chợt nói: “Cô em nói chỉ có chuẩn, lão chuột đất cũng chỉ có một cái đầu không hơn không kém, chúng ta ba người ba cái đầu còn chẳng biết nơi này là nơi nào, lão làm sao có thể?”

Tôi cúi đầu cẩn thận suy nghĩ một chút, thật đúng là không nghĩ ra, lão chuột đất nhiều lắm cũng chỉ biết bảo tương hoa sinh trưởng bên trong toà đại điện này, theo như lời lão trước kia từng nói, lão cũng không hề biết bên dưới ngôi mộ cổ thời Liêu lại có một cái khe nứt thông xuống dưới lòng đất, điểm này tựa hồ cũng giống với chúng tôi, lúc đến rồi mới biết. Chúng tôi cũng không biết đi vòng qua cột đá có đến gần được với bảo tương hoa hay không, thì lão làm sao mà biết được? Chỉ bất quá lão chuột đất rõ ràng là một người đã chết, nhưng bây giờ lại bất ngờ hiện thân trong đại điện, việc này nên giải thích như thế nào đây?

Tuyền béo không thèm để ý đến quỷ môn lão tổ, đứng thẳng còn chưa biết thằng nào cao hơn thằng nào, sống còn đếch sợ, sợ gì một người đã chết? Tôi thì không dám khinh thường sơ xuất, trước tôi cũng đã nói, người sống còn dễ đối phó, chứ ma quỷ thì chẳng biết đâu mà lần. Ai cũng biết, ma quỷ sợ pháp khí, tỷ như gương bát quái, đào mộc kiếm, chu sa phù chú, nghe nói ngoài ra còn có ba thứ sợ khác, đầu tiên là sợ nghe tiếng gà gáy trời sáng, gà gáy ba tiếng, hoặc là sắc trời hửng nắng, tuy là ác quỷ nhưng cũng phải hồn phi phách tán. Nhưng chỗ này thì lấy đâu ra mặt trời, đến ngày hay đêm còn không phân biệt nổi nữa là. Thứ hai là sợ bị người ta biết rõ thân phận, có câu “người chết sợ bị lật tẩy”, chỉ cần kêu lên sinh thần bát tự của người chết, là có thể doạ cho ma quỷ sợ chạy, nhưng cả ba chúng tôi cũng chẳng ai hay biết tên họ của lão chuột đất là gì. Còn thứ sợ nữa là sợ người sống, bởi vì người sống trên người có tam muội chân hoả, cô hồn dã quỷ không dám lại gần, bất quá một khi xui xẻo ào ào kéo đến, tam muội chân hoả sẽ bị dập tắt, chúng tôi rơi vào hoàn cảnh này, có thể nói là đã xui xẻo tận mạnh, bằng không cũng sẽ không nhìn thấy quỷ. Nhưng nói gì thì nói, trên đời kỳ thực làm gì có quỷ, những thứ này đều là sản phẩm của mê tín dị đoan mà thôi, bất quá trước mắt tôi chỉ có thể tạm gọi quỷ môn lão tổ là “quỷ”, có lẽ lão đã từng tới mê quật này một lần, hay là có nguyên nhân gì khác, chúng tôi vẫn chưa thể nghĩ ra được. Ba người đều hiểu, chỉ có tiến gần đến bảo tương hoa mới có thể biết rõ chân tướng mọi chuyện, vấn đề là một khi đi bước này rồi, liệu còn thoát được ra ngoài nữa hay không?

Tuyền béo móc ra nửa bao thuốc lá hiệu Chiến Đấu, lúc ở sông ngầm đã bị ngấm nước, sau đó hong khô, giấy gói thuốc nhăn nheo không còn như ban đầu. Cậu ta chọn lấy hai điếu còn tốt, đưa cho tôi một điếu. Để có được bao thuốc lá này Lục Quân đã phải dùng cả mạng của mình để đánh đổi, chúng tôi vốn không muốn hút nó, nhưng đến nước này rồi cũng chẳng thể nghĩ nhiều được nữa.

Tuyền béo khuyên tôi đừng cố hơn thua với cậu ta: “Từ lúc vào núi tới nay, đầu óc lúc nào cũng căng như dây đàn, suốt ngày phải gặm cái thứ bánh bột ngô còn cứng hơn cả đá, không héo rũ như tàu lá chuối là may lắm rồi, sao có thể tiếp tục cầm cự? Cậu thử nhìn tôi một chút xem, khuôn mặt nhỏ nhắn đẹp trai giờ đã xanh lét như đít nhái, không cố nữa được đâu, nếu đã không nghĩ ra được gì thì thôi đừng nghĩ nữa cho nhẹ đầu, đã đi đến đây rồi, là phúc thì không phải hoạ, mà đã là hoạ thì có tránh cũng không được, chi bằng như này, để tôi canh gác, hai người nhắm mắt ngủ một giấc cho lại sức trước đi.

Tôi châm điếu thuốc lá Chiến Đấu, rít mạnh một hơi đầy lồng ngực, cảm thấy Tuyền béo nói cũng có lý, hành quân trăm dặm, không đánh cũng mệt, chúng tôi quả thật đã quá nôn nóng vội vã, vẫn nên hành động chậm lại thì tốt hơn. Tôi bảo Tiêm Quả tranh thủ chợp mắt một lát, nói không chừng trong cơn mơ lại tìm ra được cách hay nào đó. Đồng chí Lênin đã nói như nào - ai không biết nghỉ ngơi, người đấy không làm được việc! Nói còn chưa dứt lời, vừa nhắc đến chữ ngủ, hai mắt đã díu hết cả lại, vì thế tôi liền cố hít nốt vài hơi cho hết điếu thuốc, dùng tay dụi tàn, mới vừa nhắm được một mắt, lại không yên tâm về Tuyền béo, nhắc nhở cậu ta là người canh gác đầu tiên, đừng có lăn ra ngủ gật mà làm hỏng chuyện, vạn nhất lão chuột đất âm hồn bất tán, mò tới quấy phá lần nữa, chúng tôi ba người đều ngủ say, chẳng phải mặc cho người ta ức hiếp?

Tuyền béo chẳng thèm lên tiếng, tôi thầm nói trong bụng: “Con mẹ nhà cậu chứ, nói thì rõ oai mà giờ đã lăn ra ngủ trước cả tôi, lần này bắt được quả tang cậu nằm mộng xuân rồi nhé!” Bất quá Tuyền béo trước giờ mỗi khi ngủ đều ngáy to như sấm, nếu nói cậu ta đã ngủ, tại sao tôi lại không nghe thấy bất kỳ tiếng động nào? Không gian xung quanh tối đen như mực, xoè bàn tay ra cũng không thấy năm ngón, tôi loáng thoáng cảm thấy tình hình có gì đó không đúng, không biết tại sao lại không thấy vị trí Tuyền béo ngồi đâu, lại kêu lên hai tiếng, cậu ta vẫn không trả lời. Tiêm Quả nằm bên vừa mới lim dim ngủ, chợt nghe thấy tôi gọi Tuyền béo liên tục, liền giật mình tỉnh giấc. Đèn pha vẫn ở trên người cô ấy, vội bật lên chiếu khắp xung quanh, Tuyền béo mới vừa rồi còn ngồi ở đây mà giờ đã không thấy nữa! Hai người bốn mắt nhìn nhau, tôi nhìn cô, cô nhìn tôi, miệng đều há hốc, không nói nên lời.
 
Top