Trạng thái
Không mở trả lời sau này.
[Trinh thám] Trâm II: Kẻ yểu mệnh - Châu Văn Văn

Cam Miên

đậu phụ của hòa thượng
Thành viên BQT
Mod - Sưu Tầm
Mod - Công Viên Xanh
Sưu tầm
Tham gia
13/4/19
Bài viết
1,447
Điểm cảm xúc
980
Điểm
113
Có lúc Hoàng Tử Hà phục Lý Thư Bạch sát đất.

Chuyện khác không bàn, chỉ riêng chuyện một người có thể quản tất cả mọi việc, lo lắng cho khắp các nha môn, giao thiệp với hết thảy sứ giả ngoại bang, chẳng phải là kỳ tích rồi ư.

Cô vừa cảm khái vừa khoanh chân trong bộ Hộ cắn hạt dưa, tay cầm hồ sơ lấy từ Đại Lý Tự, ngẫm nghĩ về vụ án, tiện thể phụ Lý Thư Bạch xử lý các loại án kiện.

“Vương tri sự, trong chú giải về luật lệ hôm trước ông soạn ra, trang ba mươi bảy có một chỗ sai ngày tháng, trang mười sáu và trang năm mươi tư bị sai tên người, ông đối chiếu lại lần nữa đi. Từ tri sự, ông đem ghi chép về quá trình thăng chức của Tưởng Vĩ Húc lại đây cho ta, ở trên giá thứ mười hai gian thứ tư dãy đầu tiên của khu lưu trữ ấy, buổi chầu sớm mai hoàng thượng muốn đề bạt ông ta, đến lúc đó nhớ trình lên hoàng thượng ngự lãm. Trương tri sự, mai ông báo cho Trình thị lang phải bác việc điều Sử Thừa Diệu đến Vân Châu làm thứ sử, vì chú ruột ông ta năm xưa từng phạm tội ở Vân Châu, theo lệ cần phải kiêng kỵ, Lương Đình Phương ba năm trước nhậm chức thứ sử Diễn Châu, giờ sắp mãn tang, có thể thay thế…”

Nghe y căn dặn người dưới, Hoàng Tử Hà không cắn nổi hạt dưa nữa, cứ miết mãi một hạt trong tay thầm nhủ, với trí nhớ thế này, có phải y còn nhớ cả số lá trên tán cây trước song cửa sổ từ một buổi sáng mười năm trước hay không?

Chẳng bao lâu sau, Lý Thư Bạch đã giải quyết xong công việc ở bộ Hộ, bèn dắt cô đến bộ Công. Y sắp đi Thục, mà hiện giờ các nha môn đều chồng chất cả đống công việc đợi y xử lý, không xong chỉ e khó rời khỏi kinh thành.

Người ở bộ Công vừa nhác thấy Lý Thư Bạch đã mừng như bắt được vàng, đừng nói là thượng thư bộ Công Lý Dụng Hòa bình thường chỉ làm việc nửa ngày cũng cố ngồi chờ Quỳ vương đến tối, ngay tên đắt ngựa cũng mừng ra mặt.

Thoạt trông thấy cả đống sổ sách, bên trên toàn chữ đỏ*, Hoàng Tử Hà hiểu ngay nỗi khổ của họ - gặp phải một vị hoàng đế thích xây hành cung như đương kim hoàng thượng, quả là bất hạnh lớn cho bộ Công.

* Ý nói là bội chi

Mỗi lần kê khai một khoản, Lý Dụng Hòa lại khổ sở phân trần: “Năm ngoái Đồng Xương công chúa hạ giá, riêng tiền xây phủ công chúa đã dốc cạn cả quốc khố. Đầu năm nay lại xây cung Kiến Bật, đến giờ đình đài lầu gác vẫn còn chưa xong hết, thực chẳng biết lấy tiền đâu để hoàn thiện. Mà bây giờ bộ ty chức lâm vào tình thế không thể không bỏ tiền ra, hôm trước mưa lớn, mấy phường phía Nam thành nằm ở khu vực trũng thấp đã ngập nặng, cống thoát nước không thoát được, chỗ ngập nặng nhất sâu hơn trượng! Vương gia cũng biết mà, đắp cống nổi còn đỡ, đào cống ngầm chi phí thế nào khó đo đếm, đám thợ đó đào lộn tùng bậy dưới đất một chập, người coi quản chỉ đứng trên quan sát, nhìn bên ngoài ngon nghẻ là kết toán, thực ra bên dưới thế nào ai biết? Cống rãnh mấy tháng trước vừa thông, giờ đã tắc nghẽn, hôm qua Lục tri sự dưới quyền ty chức còn bị ngã xuống nước chết đuối! Giờ trong thành đang bàn tán xôn xao, nói rằng bộ Công tự làm tự chịu, đúng là ép cả bộ này vào đường cùng mà!”

Lý Thư Bạch chau mày đón lấy đống sổ sách, im lặng ngồi xuống lật xem.

Người bộ Công ai nấy tất bật bưng trà rót nước cho y như hầu hạ cứu tinh, khiến tiểu hoạn quan thật sự là Hoàng Tử Hà thành ra rảnh rỗi, bèn rút cây trâm trên đầu xuống vạch vẽ lại tình tiết vụ ở chùa Tiến Phúc, đồng thời suy đoán tình hình lúc ấy.

Khi cây nến bị sét đánh nổ tung, nghi phạm thứ nhất là Lữ Chí Nguyên đang ở nhà, có thầy thuốc và nhiều láng giềng làm chứng, về cơ bản có thể coi là có chứng cứ ngoại phạm. Trừ phi tìm ra thủ đoạn giết hại Ngụy Hỷ Mẫn từ xa của lão ta.

Nghi phạm thứ hai là Trương Hàng Anh. Khi Ngụy Hỷ Mẫn bén lửa cũng là lúc Trương Hàng Anh lại gần cây nến nhặt mũ cho Tích Thúy. Có khi nào vì báo thù cho Tích Thúy mà Trương Hàng Anh đã đẩy đổ cây nến, thiêu chết Ngụy Hỷ Mẫn hay không?

Nghi phạm thứ ba, Lữ Tích Thúy. Ngụy Hỷ Mẫn đứng gần cây nến, tất không xa Tích Thúy. Nhà cô ta có nghề làm nến nhiều năm, có lẽ có cách nào đó làm cho cây nến bên cạnh phát nổ trong nháy mắt?

Hoàng Tử Hà ngẫm nghĩ, rồi vạch ra khả năng thứ tư là Trương Hàng Anh và Lữ Tích Thúy liên kết với nhau giết Ngụy Hỷ Mẫn tại chùa Tiến Phúc.

Chần chừ giây lát, cô bổ sung thêm khả năng thứ năm, Lữ Chí Nguyên và Lữ Tích Thúy phối hợp với nhau diễn kịch lừa người, giết chết Ngụy Hỷ Mẫn.

Nhưng rồi nhìn lại khả năng vừa viết, cô thở dài, chậm rãi xóa đi.

Thành ra các khả năng hiện giờ, mới có bốn.

Cô lại rút tư liệu điều tra của Đại Lý Tự mà Lý Thư Bạch đưa, đối chiếu lần lượt từng người trong danh sách.

Đây là bản liệt kê tất cả những kẻ liên quan có mặt hoặc không có mặt vào hôm phò mã bị thương, bao gồm cả đám nài ngựa ở Tả Kim Ngô Vệ và những người phụ trách coi sóc sân kích cúc, theo yêu cầu của Hoàng Tử Hà, trong hồ sơ còn kê khai rõ việc những người này đã từng tiếp xúc với phò mã hay chưa.

Song đọc những dòng “chưa từng gặp phò mã”, “từng gặp ở nha môn một lần”, “từng cho ngựa của phò mã ăn cỏ”, Hoàng Tử Hà chỉ biết chống trán thở dài, thấy đầu đã phình to bằng cái đấu.

“Sao thế? Xem bộ còn rầu rĩ hơn cả ta?”

Sau lưng vang lên một giọng lạnh lẽo ơ hờ, hẳn là Lý Thư Bạch.

Cô ngán ngẩm đáp: “Nếu nô tài được như gia, nắm rõ tất cả người trong kinh như lòng bàn tay có phải tốt không.”

“Ta đâu nắm rõ được. Kinh thành cả trăm vạn người, dù lang thang suốt ngày trên phố, ta cũng không gặp hết chừng ấy. Huống hồ chẳng ai thật sự hiểu được người khác đâu, dẫu sớm chiều bên nhau, cũng không thể.”

Đoạn y cầm lấy tập giấy từ tay cô, lật xem.

Lý Thư Bạch đọc rất nhanh, một lần đọc lướt cả mười hàng, rồi trả lại, trỏ một cái tên trên giấy: “Người có thể tra kỹ kẻ này.”

Hoàng Tử Hà cúi đầu nhìn, là một nam nhân tên Tiền Quan Sách, bốn mươi hai tuổi, ông chủ tiệm ngựa Tiền Ký, con ngựa đen bị long móng từ đây mà ra.

Khi bị Đại Lý Tự hỏi, hắn đã trả lời thế này:

Con ngựa này đến từ Trương Dịch, tháng Tư năm ngoái mua ở chợ ngựa Hoắc gia về. Tháng Sáu đến kinh thành, chăm sóc hai tháng, đầu tháng Chín đưa tới Tả Kim Ngô Vệ. Vì béo tốt khỏe khoắn, lại được huấn luyện kỹ càng nên từng được Vương đô úy khen ngợi. Còn việc long móng là do móng ngựa có vấn đề, không liên quan gì đến bầy ngựa hắn đưa đến.

Lại hỏi hắn có qua lại gì với phò mã không, hắn quả quyết phủ nhận, nói rằng mình chưa được hân hạnh gặp mặt phò mã.

Hoàng Tử Hà ngạc nhiên hỏi: “Ý vương gia là, việc phò mã gặp tai nạn có liên quan đến lai lịch con ngựa kia ư?”

“Không, ý ta chỉ là…” Y trỏ vào câu sau, “Ông chủ Tiền thực ra đã gặp phò mã một lần.”

Hoàng Tử Hà vội hỏi: “Sao gia biết?”

“Khi bầy ngựa đó được đưa đến, Vương Uẩn có mời ta cùng người của bộ Binh tới thử. Bấy giờ phò mã Vi Bảo Hoành cũng có mặt. Ta đang thử ngựa thì nghe Vi Bảo Hoành phàn nàn rằng người ở biên tái phát âm không chuẩn, ngựa từ đó đưa đến cũng phải nửa năm một năm mới nghe quen khẩu lệnh kinh thành. Người xung quanh nghe vậy đều cười ồ lên, chỉ duy gã đàn ông béo lùn dẫn theo mấy tay dạy ngựa là có vẻ trầm tư. Không lâu sau ta nghe trong kinh đồn rằng, các thầy dạy ngựa ở tiệm xe ngựa Tiền Ký đang tập nói tiếng quan thoại, khổ không kể xiết, có mấy kẻ còn đứng giữa đường chửi ông chủ Tiền là tên lùn chết tiệt, nên ta nghĩ, Tiền Quan Sách ắt là người hôm đó.”

Hoàng Tử Hà gật đầu: “Theo ghi chép của Đại Lý Tự thì những người khác ngay việc cho ngựa của phò mã ăn cũng phải kê khai, vậy mà ông ta lại giấu giếm chuyện này, hẳn là có nguyên do khác.”

Thấy cô đã chú ý hơn, Lý Thư Bạch cũng chẳng nói thêm, quay lại ra hiệu cho người ở bộ Công dọn đống sổ sách đi: “Ta tạm thời giảm bớt mấy khoản chi, gom được hơn hai vạn năm ngàn lạng bạc, cũng đủ tu sửa lại toàn bộ đường thoát nước trong thành Trường An đấy.”

Thượng thư Lý Dụng Hòa cười gượng: “Đa tạ Vương gia, nhưng… năm nay ắt nhiều mưa, ty chức sợ lần này bỏ tiền khơi thông cống rãnh xong, mấy bữa nữa lại có mưa lớn, rồi chỗ nào đó lại tắc nghẽn, đến lúc đó vương gia xoay giúp chúng ty chức một khoản nữa được không?”

“Sửa một lần là được rồi, bản vương bảo đảm năm nay Trường An sẽ không tắc nữa đâu.” Đoạn y quay lại ra ý bảo Hoàng Tử Hà theo mình về phủ, “Sáng mai ngươi tập trung thợ thuyền và đốc công lại đây, bản vương sẽ ban bố điều lệnh mới, để chúng khỏi chậm trễ dối trá, bòn rút vật liệu nữa.”

Hoàng Tử Hà theo Lý Thư Bạch về phủ.

Xe ngựa chạy đường êm ru. Lý Thư Bạch thuận miệng hỏi: “Vừa nãy không tiện hỏi han, hôm nay Vương hoàng hậu có làm khó gì ngươi không?”

Hoàng Tử Hà nhăn mặt đáp: “Dĩ nhiên là có. Nương nương bắt một tiểu hoạn quan như tôi giúp bà ấy quay lại gác Bồng Lai cung Đại Minh.”

Y tỏ vẽ hờ hững: “Bà ta thông qua ngươi chuyển lời đến ta đấy thôi, ngươi không cần để tâm.”

“Vâng… ngoài ra cũng không có gì nữa cả.”

“Cho truyền gọi ngươi đến, chỉ để chuyển lời thế thôi ư?”

Hoàng Tử Hà gật đầu.

Lý Thư Bạch nhíu mày. Nhưng y không nói ra, cô cũng không thể hỏi, chỉ vô thức nhìn lướt qua song. Các phường trong thành Trường An lần lượt trôi qua cửa, có phường tường bao rất cao, có phường tường lại rất thấp, chỗ thấp nhất chưa đến nửa người.

Bởi thế, khi ngang qua phường Đại Ninh, cô thoáng nhác thấy hai người.

Nử tử nọ đứng phía trong tường bao chỉ cao ngang lưng phường Đại Ninh, gương mặt nhìn nghiêng lờ mờ dưới bóng tối nhập nhoạng, song cô vừa nhác thấy đã đứng bật dậy, chẳng kịp gọi A Viễn dừng xe đã nhảy ngay xuống.

May mà đang đi trên phố nên xe ngựa chạy từ từ. Cô lại rất nhanh nhẹn, nhảy xuống xong chỉ hơi loạng choạng đã đứng vững được ngay.

Lý Thư Bạch nhìn từ cửa sổ ra, thấy cô đứng vững, bèn ra hiệu cho Cảnh Dục nãy giờ vẫn đi theo cạnh xe.

Xe ngựa ngoặt vào góc đường rồi từ từ dừng lại, đợi Hoàng Tử Hà.

Hoàng Tử Hà khom người áp sát vào tường, rón rén lại gần hai người kia, nín lặng nghe ngóng.

Nam nhân nọ quay lưng về phía tường, giọng nói ôn hòa thuần hậu: “Tích Thúy cô nương chẳng buồn che mặt, một mình chạy đến đây, định làm gì vậy?”

Người con gái khiến Hoàng Tử Hà chỉ thoáng nhác thấy trong bóng xế nhập nhoạng đã phải nhảy ngay xuống xe, chính là Tích Thúy.

Còn kẻ đối diện nàng có giọng nói rất quen, nhưng hiện giờ Hoàng Tử Hà không có thời gian suy đoán, chỉ nín thở nghe ngóng.

Tích Thúy luống cuống đứng đó, giọng toát lên vẻ căng thẳng cực độ: “Tìm… tìm tôi làm gì?”

Người nọ im lặng nhìn nàng, hồi lâu mới mở miệng, song chẳng trả lời mà chỉ hỏi: “Cô định giết Tôn ghẻ chứ gì? Cô không đội mũ có mạng che bởi không định về nữa phải không?”

Tích Thúy bất động, đờ ra trước mặt y, không nói một lời.

“Kẻ vừa rời khỏi – Trương Hàng Anh, đến đây cũng vì mục đích giống cô, đúng không?” Nói đến đây, y bật cười khẽ: “Tôn ghẻ dưới đất cũng nên lấy làm vinh hạnh vì trong một ngày có bấy nhiêu người cùng kéo tới đây để giết hắn, hắn tự dưng lại thành món đồ người ta phải tranh giành, đúng là nực cười.”

Trời tối hẳn, gương mặt và bóng dáng Tích Thúy đã tan nhòa vào màn đêm. Trống đóng cổng thành đang điểm từng tiếng như giục giã, sắp đến giờ giới nghiêm.

Tích Thúy giơ tay nắm lấy vạt áo trước ngực, run rẩy đáp: “Tôi… tôi không hiểu ngài nói gì cả… Tôi phải đi đây.”

“Cô sợ gì chứ? Người cô căm hận nhất đã chết trong nhà lao kín bưng như ý cô, chẳng lẽ cô còn không vui?”

Tích Thúy không nói gì thêm, quay ngoắt người đi thẳng ra cổng phường gần đó.

“Đợi đã…” Người kia gọi với theo, giọng nhẹ nhàng, chỉ mấy bước đã đuổi kịp.

Tích Thúy kinh hãi ngoảnh đầu, bất giác lùi lại một bước.

Song người kia lại ngồi thụp xuống trước mặt, giơ tay phủi vết bụi đất trên quần cho nàng: “Cô không để ý gì cả. Đừng để bẩn quần vẫn hơn.”

Tích Thúy vô thức kéo vạt quần lùi lại, hốt hoảng: “Tôi… tôi tự lo được mà.”

Hình như nàng rất sợ người nọ, lùi lại mấy bước rồi quay phắt người chạy thẳng qua cổng phường.

Nam nhân kia đứng lên nhìn theo bóng nàng tan vào màn đêm, lặng thinh hồi lâu mới lên tiếng, như tự nói với mình: “Người chết cũng chết rồi, tìm đâu được kẻ tương tự, chẳng phải thế ư?”

Hoàng Tử Hà ngồi dưới chân tường, nghe thấy tiếng bước chân y chầm chậm đi về hướng khác. Cô đương ngồi thừ ra đấy thì nghe sau lưng có tiếng hỏi: “Chưa đi à?”

Nhận ra giọng Lý Thư Bạch, Hoàng Tử Hà quay lại thì thấy đường đường Quỳ Vương cũng ngồi lê dưới góc tường nghe lén như mình, không khỏi giật nảy mình, lắp bắp: “Vương… vương gia!”

Y không đáp mà lẳng lặng đi thẳng về phía cỗ xe ngựa đậu trong hẻm.

Hoàng Tử Hà theo sau hỏi nhỏ: “Vương gia nhận ra người kia không?”

“Lẽ nào ngươi không nhận ra?” Y vặn lại

Hoàng Tử Hà gật đầu, một lúc lâu sau mới nói: “Công chúa… đẹp hơn Tích Thúy nhiều.”

Lý Thư Bạch mĩm cười, không muốn nói tới chuyện đó, bèn đổi chủ đề: “Theo lời họ nói thì có vẻ Tôn ghẻ đã chết rồi.”

“Vâng, nô tài sẽ đi nghe ngóng ngay.” Dứt lời, Hoàng Tử Hà định chạy về Đại Lý Tự hỏi thăm.

Nào ngờ Lý Thư Bạch gọi giật cô lại: “Dương Sùng Cổ.”

Cô ngạc nhiên ngoái đầu nhìn y.

“Vội gì chứ?” Lý Thư Bạch nhíu mày, “Việc lớn bằng trời cũng ăn cơm đã rồi nói. Huống hồ, có kẻ sắp đến bây giờ đấy.”

Hoàng Tử Hà cũng thấy cả ngày chạy qua chạy lại vừa mệt vừa đói, đành nín lặng theo y lên xe.

Về đến phủ Quỳ Vương, trời đã tối đen.

Lý Thư Bạch vừa bước xuống, Cảnh Hữu đã chạy ra đón.

Lý Thư Bạch vừa đi thẳng vào trong, vừa căn dặn: “Chuẩn bị cho ta hai cái khóa sắt thật to, càng to càng đáng sợ càng tốt.”

Cảnh Hữu vâng dạ rồi lui xuống chuẩn bị, cũng không hỏi dùng để làm gì.

Hoàng Tử Hà thoáng nghĩ đã hiểu ra cách làm của y, không khỏi chặc lưỡi: “Vương gia, thế này có ác quá không…”

“Lúc chúng lười biếng trộm cắp, có nghĩ mình ác quá không?” Lý Thư Bạch liếc cô, “Chừng nào cống rãnh tắc nghẽn làm người ta chết đuối, chúng mới hiểu được đây là việc lớn chết người, không phải cứ cầm tiền rồi làm qua quýt cho xong được.”

Hoàng Tử Hà gật đầu thầm nghĩ, vị vương gia ghê gớm này đã để mắt, e rằng từ mai việc coi quản đường thoát nước trong kinh thành đang từ miếng thịt béo sẽ trở thành khúc xương khó nhằn.

Định cáo lui thì Lý Thư Bạch quay lại liếc một cái sắc lẻm, cô đành ngoan ngoãn theo y đi tiếp – tuy ông chủ này khó hầu hạ, song cùng ăn cơm thì cô rất sẵn lòng, dù sao giờ cô cũng đói meo rồi.

Tiếc rằng bữa cơm này cũng không được yên ổn mà ăn, cô mới và được mấy miếng thì thấy Cảnh Hữu chạy vào. Quả nhiên, tay y đang cầm hai ổ khóa to tướng, đen sì, nặng trịch, nhìn mà phát khiếp.

Y dâng khóa lên cho Lý Thư Bạch xem qua, rồi quay sang bảo Hoàng Tử Hà: “Sùng Cổ, tiểu công tử nhà Chu thị lang đến tìm cậu, đang đợi ở cổng đấy.”

“Chu Tử Tần ư?” Hoàng Tử Hà và Lý Thư Bạch nhìn nhau, đều thấy trong mắt người kia một câu: quả nhiên đến rồi.

Y vẫy tay: “Bảo Tử Tần vào đây đi, xem có chuyện gì.”

“Đương nhiên là có chuyện lớn rồi!”

Chu Tử Tần mặc áo dài màu hồng phấn, thắt lưng xanh biếc, đầu đội mũ màu vàng mỡ gà, phối màu thật rực rỡ chói mắt.

Gã vốn hay khoe mẽ, lần này lại càng khoa trương tợn, thái độ trống giong cờ mở thế này, có thể miêu tả bằng một câu: chỉ sợ thiên hạ không loạn.

“Vương gia, Sùng Cổ! Chiều nay tôi đã ở Đại Lý Tự xem xét lời khai của những người có liên quan tới vụ tai nạn của phò mã, công công xem qua chưa?”

Hoàng Tử Hà gật đầu: “Đại Lý Tự cũng sao lại một bản cho tôi.”

“Ừm, còn ta ngồi xem trong Đại Lý Tự. Đến hoàng hôn, công công biết đấy, người của Đại Lý Tự ai nấy đều kỳ quái, phòng ốc u ám, nên ta xem hai lượt chẳng tìm được gì có ích, đang định ra về. Đúng lúc ấy thì, công công thử đoán xem, ta nghe bên ngoài nhốn nháo cả lên, nói là có người chết!”

“Ai chết?” Giữa hàng tràng lời thừa thãi ba hoa của gã, Hoàng Tử Hà vẫn móc ra câu nói có nghĩa duy nhất, liền hỏi.

“Đúng là không sao ngờ được, đúng là trời long đất lở, đúng là khiến ta trợn mắt há miệng, không dám tin vào tai mình mà.”

Lý Thư Bạch nghe mãi cũng hết cả kiên nhẫn, nhíu mày nạt: “Kể vắn tắt!”

“Tôn ghẻ chết rồi!” Chu Tử Tần tức thì thay đổi phong cách.

Quả nhiên Tôn ghẻ, tên súc sinh nhân lúc Tích Thúy hôn mê giở trò không bằng cầm thú, đã chết.
SPONSORED / ĐƯỢC TÀI TRỢ
Hoàng Tử Hà nghiền ngẫm lời phò mã từng nói, lại hỏi: “Hung thủ là ai?”

“Nào biết! Manh mối hiện giờ… có thể nói là chưa có gì!” Nói đến đó, Chu Tử Tần mới nhận ra mình chạy một mạch đến đây đã khát khô cổ, vội chụp lấy ấm trà trên bàn tu ừng ực.

Hoàng Tử Hà và Lý Thư Bạch bất lực nhìn nhau, đều cố nín nhịn, ngồi yên ở hai bên bàn đợi gã kể tiếp.

Chu Tử Tần tu hết ấm trà mới quẹt miệng nói: “Không ổn, chuyện này tôi không thể vắn tắt được, nhất định phải kể từ đầu.”

“Thì kể mau đi.” Hoàng Tử Hà cũng hết cách.

“Đầu đuôi câu chuyện là thế này, các vị đừng trách tôi huyên thuyên, chuyện này không kể kỹ không được, nếu không các vị làm sao hiểu được ai là ai. Chuyện là trong kinh có tiệm ngựa Tiền Ký, làm ăn lớn lắm, ông chủ tên Tiền Quan Sách, có lẽ các vị không biết đâu…”

Hoàng Tử Hà và Lý Thư Bạch im lặng nhìn nhau, cuối cùng Hoàng Tử Hà lên tiếng, giọng điệu lạ lùng mà phức tạp: “Biết rồi, đã từng nghe tên.”

Chu Tử Tần vẫn không phát hiện ra, tiếp tục kể: “Các vị biết rồi thì tốt. Tiền Quan Sách là tay buôn ngựa nổi tiếng nhất Trường An, rất nhiều ngựa của quan phủ đều do hắn tìm giúp. Tôi cũng từng giáp mặt một lần, hắn vóc người béo lùn, lúc nào cũng tươi cười niềm nở, quả là hòa khí sinh tài. Từ năm ngoái, hắn mở rộng kinh doanh, lôi kéo một toán thợ mộc, thợ nề, thậm chí người của bộ Công phụ trách khơi thông cống rãnh cũng có dăm kẻ ăn lộc của hắn, giờ những việc như tu sửa phòng ốc, đào hồ đắp đê trong kinh đều phải tìm đến hắn. Ai dà, hắn còn hùng hồn nói, trong bốn việc ăn mặc đi ở thì nương tử ở nhà quản hai khoản đầu, còn hắn quản hai khoản sau, vậy chẳng phải…”

Hoàng Tử Hà nghe mãi cũng phát ngán, vội cắt lời: “Tử Tần, công tử kể từ vụ án mạng kia được không?”

“Thôi được.” Chu Tử Tần tiu nghỉu, “Chiều nay, lúc sắp hoàng hôn, Tiền Quan Sách cùng một tay thủ hạ làm cai thầu ngồi uống rượu ở chợ Tây, uống say hắn liền chửi bới tay cai thầu kia. Nguyên nhân là gì, người quanh đó đều nghe rõ mồn một, thì ra Tôn ghẻ vốn đã bị người trong phường chửi rủa, sau khi Ngụy Hỷ Mẫn bị sét đánh chết, hắn sợ mình cũng gặp báo ứng nên cả ngày nhốt mình trong nhà, không dám ra ngoài. Có điều nhà lụp xụp rách nát, hắn sợ có kẻ phá cửa xông vào hại mình, nên đi tìm tay cai thầu kia nhờ sửa nhà rồi ghi nợ. Chẳng hiểu sao tay cai thầu cũng gọi mấy người sửa sang lại cửa nẻo cho hắn, mất một buổi chiều. Tiền Quan Sách đang uống rượu, nghe được chuyện đó thì nổi trận lôi đình, mắng rằng tên khốn nạn người người chửi rủa như thế, lại nghèo đến nỗi sửa nhà cũng phải sửa chịu, tay cai thầu đúng là bị bùn lấp óc mới nhận lời. Hắn chửi bới một trận tàn tệ, rồi mượn hơi rượu lôi tay cai thầu đến nhà Tôn ghẻ, luôn miệng nói dù phải dỡ nhà họ Tôn, cũng quyết đòi bằng được khoản tiền kia.”

Hoàng Tử Hà rất vừa ý với đoạn trần thuật này, gật đầu hỏi: “Tiền Quan Sách tìm thấy Tôn ghẻ rồi đôi bên xung đột ư?”

“Không! Bấy giờ người trong quán rượu thấy có chuyện náo nhiệt, bèn rồng rắn theo hắn đến nhà Tôn ghẻ. Nghe nói cửa nẻo nhà đó được sửa lại chắc chắn lắm, cửa chính gia cố, cửa sổ cũng gia cố, dùng ván gỗ dày nửa tấc, đóng im ỉm, chẳng khác nào cái thùng sắt. Tiền Quan Sách vừa đạp cửa vừa réo tên Tôn ghẻ ra chửi, song bên trong vẫn im lìm. Có kẻ dúi cho hắn một cây rìu, Tiền Quan Sách sẵn hơi rượu bèn vung rìu chém vào cánh cửa, mọi người sợ hắn xách rìu xông vào chém cả Tôn ghẻ, bèn giật lấy rìu trả lại cho chủ, công công đoán xem là kẻ nào dúi rìu cho Tiền Quan Sách?”

Hoàng Tử Hà lắc đầu, Chu Tử Tần quay sang thấy Lý Thư Bạch cũng đoán không ra, bèn đắc ý kể: “Người này có mặt ở đó kể cũng lạ, mà cũng không lạ, chính là lão Lữ Chí Nguyên đó!”

Hoàng Tử Hà ngạc nhiên: “Sao lão ta lại ở đó?”

“Người trong kinh sửa sang nhà cửa, chẳng phải thường gắn giá nến lên tường ư? Lữ Chí Nguyên vẫn hợp tác với tay cai thầu nhận gắn giá nến cho các nhà. Quán rượu mà Tiền Quan Sách ngồi ở chợ Tây ngay cạnh tiệm nhang đèn, nghe họ Tiền nói muốn tìm Tôn ghẻ đòi nợ, Lữ Chí Nguyên cũng gào lên bảo Tôn ghẻ đã hứa đền tiền cho mình mà chưa đưa đủ, giờ sao lại có tiền sửa sang nhà cửa. Lão đùng đùng xách cây rìu nhỏ vẫn dùng chặt sáp nến, đi theo Tiền Quan Sách đòi tiền.”

Hoàng Tử Hà đã chẳng còn lời nào để bình luận về lão già này nữa, chỉ hỏi: “Sau đó cả đám người ấy chặt Tôn ghẻ ra à?”

“Không! Tôn ghẻ chết rồi!” Chu Tử Tần kích động đấm xuống mặt bàn, mạnh đến nỗi làm nảy cả ấm trà lên. “Họ đạp tung cửa ra, thấy Tôn ghẻ nẳm trên cái giường nát giữa nhà, đã chết cứng. Trời thì nóng, phòng lại đóng kín, bên trong bắt đầu thoang thoảng mùi thối.”

Hoàng Tử Hà cau mày: “Tình hình lúc ấy thế nào?”

“Bấy giờ người xung quanh ngửi mùi thối, đã thấy không ổn, chỉ mình Tiền Quan Sách đang say khướt xông tới tóm lấy áo Tôn ghẻ xách lên định tẩn cho một trận. Lữ Chí Nguyên đằng sau vội chạy theo giữ họ Tiền lại, song thi thể Tôn ghẻ đã bị kéo ra đến mép giường, Tiền Quan Sách bị lão Lữ giữ chặt, hơi lỏng tay ra, cái xác liền rơi bịch xuống đất, đã chết cứng đơ. Lữ Chí Nguyên ngồi thụp xuống lật cái xác lại xem, tức thì sợ đến hồn xiêu phách lạc, vội kéo Tiền Quan Sách lùi lại, Tiền Quan Sách thấy khuôn mặt méo mó của thi thể cũng sợ đến nỗi giật lùi mấy bước. Cả hai ngã ngửa ra đất, chới với mãi không bò dậy được. Mấy người bên cạnh kẻ thì chạy lại đỡ dậy, kẻ thì đi báo quan, rồi đi gọi lý chính*. Khi đến tai Đại Lý Tự thì trời đã sắp tối. Ta vừa nghe nói Tôn ghẻ chết, bèn tức tốc chạy đến nghiệm thi rồi đến đây tìm công công.”

* Người đứng đầu một phường hoặc một thôn.

“Tôn ghẻ làm sao mà chết?” Hoàng Tử Hà hỏi.

“Bị đâm chết! Vết thương nông mà nhỏ, hẳn là một thanh chủy thủ vừa nhỏ vừa sắc, rộng chừng tấc rưỡi, hơn nữa sức hung thủ rất yếu, vết thương không sâu, chắc hung thủ cũng biết mình sức yếu nên đã tẩm thuốc độc vào lưỡi dao, chỉ đâm hai nhát đã bỏ chạy. Hiện trường không có hung khí để lại, chắc hung thủ đem theo rồi.”

“Có dấu vết vật lộn không?”

“Không có, chắc hẳn hung thủ thừa lúc Tôn ghẻ ngủ mới xuống tay.”

“Vết thương ở đâu?”

“Bấy giờ Tôn ghẻ nằm nghiêng, quay lưng vào tường, mặt hướng ra cửa, thi thể vẫn giữ nguyên tư thế ngủ tự nhiên. Có điều toàn thân đã bốc mùi, lúc nghiệm thi ta cũng buồn nôn gần chết.” Chu Tử Tần vừa nói vừa huơ tay minh họa trên người mình, “Bị thương hai chỗ, một ở dưới xương quai xanh bên vai trái, một ở eo phía bên phải rốn, vết thương đều chéo xuống dưới, rõ ràng là hung thủ ngồi trên giường đâm Tôn ghẻ trong lúc ngủ.”

“Dấu vết giãy giụa thì sao?”

“Không có.”

“Thật không bình thường.” Lý Thư Bạch lạnh lùng buông một câu.

Hoàng Tử Hà gật đầu: “Đúng là không bình thường. Không đâm vào chỗ hiểm, vết đâm lại không sâu, ít nhất nạn nhân cũng phải giãy giụa phản kháng chứ.”

Chu Tử Tần ấm ức nhìn hai người: “Chu mỗ không biết nữa, lúc nghiệm thi thì thi thể đã nằm dưới đất rồi. Nhưng theo những người phá cửa xông vào thì quả đúng Tôn ghẻ nằm trên giường với tư thế ấy, không hề động đậy, nhìn như ngủ vậy.”

Hoàng Tử Hà nhíu mày, gạt bỏ nghi vấn này sang một bên, rồi hỏi tiếp: “Thời gian tử vong cụ thể là bao giờ?”

“Điểm này ta có thể khẳng định, muộn nhất cũng không quá giờ Ngọ hôm nay. Nhất định hắn đã chết vào giờ Ngọ, hoặc trước giờ Ngọ.”

“Cũng có nghĩa là, Tôn ghẻ đã chết ít nhất hai canh giờ trước khi Tiền Quan Sách và Lữ Chí Nguyên xông vào?”

“Đúng, mà lại chết ngay trong căn nhà vừa sửa sang, giữa gian phòng như cái thùng sắt vừa gia cố. Cửa đóng chặt, cài then trong, Tiền Quan Sách đạp mấy phát còn không bật ra. Khung cửa sổ duy nhất đóng cả tấm gỗ dày cộp, không có hoa văn gì, cũng cài chốt trong. Tường vách đều bằng đất nện, không có hang chuột.” Trông Chu Tử Tần như sắp phát điên, “Bởi thế, chẳng biết hung thủ vào phòng giết người theo đường nào, rồi lại theo đường nào ra ngoài, còn chốt cả cửa chính cửa sổ, không để lại mảy may dấu vết?”

Hoàng Tử Hà nhíu mày: “Hiện giờ không có vật chứng nào ư?”

“Không có. Nhưng… có nhân chứng.” Nói đến đây, Chu Tử Tần lại nhăn nhó như bị đau răng, “Có điều, có điều…”

Hoàng Tử Hà tỏ ý bảo gã nói tiếp.

Chu Tử Tần cau mày hạ giọng: “Theo mấy bà mấy chị trong phường khai thì khoảng giờ Ngọ, họ ngồi dưới bóng cây bên giếng nước khâu đế giày, trông thấy hai người lạ mặt, một nam một nữ lần lượt đến gần nhà Tôn ghẻ, còn lảng vảng nhìn ngó gì đó, nhưng hình như không làm gì cả mà lẳng lặng bỏ đi.”

“Hai người nam nữ à?” Hoàng Tử Hà chau mày.

“Đúng thế, một nam một nữ.” Chu Tử Tần rầu rĩ đỡ trán, lẩm bẩm: “Nghe nói người nam đến trước, dáng dấp cao lớn, tướng mạo đường hoàng, lưng thẳng, nhìn rất khôi ngô, các bà các chị tuy đã lớn tuổi, lại ngồi ở chỗ khuất nẻo, song vẫn nhìn không chán mắt. Nhưng từ chỗ họ ngồi không trông thấy nhà họ Tôn, nên cũng chẳng rõ người nọ tới đó làm gì.”

“Vậy còn người nữ?”

“Người nữ cứ cúi gằm mặt nên không trông rõ dung mạo, song thân hình mảnh mai, chắc tuổi tác không lớn. Cô ta đến sau khi người nam kia đi khỏi, cũng dạo một vòng quanh những chỗ người kia vừa đi, lảng vảng quanh nhà Tôn ghẻ một lúc lâu.”

“Những đặc điểm khác thì sao? Không biết à?”

“Biết...” Chu Tử Tần khó nhọc đáp, “Cô ta đi hài vải xanh đế gỗ, trên hai chiếc hài thêu hai đóa râm bụt nở hướng vào nhau.”

Hoàng Tử Hà nhớ lại hôm nay lúc gặp tại nhà Trương Hàng Anh, Tích Thúy cũng đi đôi hài như thế, bất giác biến sắc: “Công tử nói với Đại Lý Tự chưa?”

“Chưa. Nhưng ta nghĩ, Đại Lý Tự tra xét quanh các phường, chẳng bao lâu sẽ tra ra hai người họ thôi, tới lúc đó họ sẽ bị gọi thẩm vấn.”

Hoàng Tử Hà nín lặng nhìn sang Lý Thư Bạch. Lý Thư Bạch đi đến bên án, lấy giấy viết một tờ công văn rồi dặn: “Tối nay các ngươi mau đi tra xét tình bên đó đi, kẻo chứng cứ lại bị phân tán tan tác.”

Chu Tử Tần nghe vậy liền tóm ngay tay áo Hoàng Tử Hà, giục giã: “Đi thôi đi thôi, ta đã điều tra rồi, phòng Tôn ghẻ không có chỗ nào ra vào được cả, công công mau tới xác nhận hộ ta đi, xem có cách nào giết người trong một gian phòng kín thế không?”

“Dương Sùng Cổ.” Hai người vừa ra đến cửa, chợt nghe thấy Lý Thư Bạch ở phía sau gọi khẽ.

Hoàng Tử Hà quay phắt lại: “Thưa gia.”

Ánh mắt Lý Thư Bạch dừng ở ống tay áo cô đang nằm trong tay Chu Tử Tần, thong thả dặn: “Sáng mai chúng ta còn có việc, ngươi nhớ về phủ cho sớm, không được đi qua đêm.”

Hoàng Tử Hà vội giật tay áo ra, cúi đầu hành lễ: “Thưa vâng.”
 

Cam Miên

đậu phụ của hòa thượng
Thành viên BQT
Mod - Sưu Tầm
Mod - Công Viên Xanh
Sưu tầm
Tham gia
13/4/19
Bài viết
1,447
Điểm cảm xúc
980
Điểm
113
“Sáng mai hai vị có việc gì thế? Vương gia còn căn dặn kỹ càng nữa chứ.”

Dọc đường cùng Hoàng Tử Hà đến phường Đại Ninh, Chu Tử Tần nghi hoặc hỏi.

“À, có chút việc trong triều.” Thực ra tôi không đi cũng chẳng sao. Cô thầm nghĩ.

Chu Tử Tần tỏ vẻ ngưỡng mộ: “Sùng Cổ lợi hại thật, bên cạnh một người như Quỳ vương, hiếm ai có thể làm việc đắc lực đến thế lắm.”

Hoàng Tử Hà gật đầu: “Quỳ vương bẩm sinh tài giỏi, làm việc bên cạnh gia, đương nhiên áp lực rất lớn.”

“Đúng thế, đầu năm nay vương gia mới đi bái tế mẫu phi nửa tháng mà triều đình loạn lên, các nha môn tìm mấy chục người cũng không gánh vác nổi công việc của gia, cuối cùng hoàng thượng buộc phải hạ chỉ, mời gia mau về kinh.”

Hoàng Tử Hà từng chứng kiến Lý Thư Bạch xử lý công vụ tại các nha môn nên hết sức thấu hiểu, chỉ nín lặng gật đầu, thầm nghĩ, người ta sống trên đời, ai cũng có sở thích, song xem ra Quỳ vương cái gì cũng có, mà hình như chẳng thích cái gì. Không rõ thứ gì mới khơi gợi được hứng thú của y?

Nghĩ đi nghĩ lại thì, dường như chỉ có con cá nhỏ kia lúc nào cũng được y đem theo bên mình không rời. Không biết nó có liên quan tới việc hệ trọng gì nữa. Ngay cả đương kim hoàng thượng cũng không thể hỏi tới, ắt là một bí mật đủ làm nghiêng ngả thiên hạ.

Song một con cá nhỏ nuôi rong bình lưu ly, yếu ớt đến nỗi chỉ cần hai ngón tay là đủ bóp chết, có thể ẩn giấu bí mật gì đây?

Cô vừa giục ngựa đi theo Chu Tử Tần, vừa nhớ lại nam nhân mình gặp trong cung Thái Cực.

Cạnh y đặt một bể cá, bên trong là những con các nhỏ đỏ như máu, tuy cách rất xa, không nhìn rõ hình dạng, nhưng cô vẫn cảm thấy có gì đó là lạ...

Dường như việc Vương hoàng hậu cố ý triệu cô vào cung gặp mặt, cũng có liên quan tới kẻ đó.

Nhà họ Vương Lang Gia... Vương Uẩn.

Nhớ lại cuộc gặp lần trước, cô càng thấy tình cảnh trước mắt càng thêm phức tạp, đúng là căng thẳng đến nghẹt thở.

Hiện giờ, những gánh nặng trên vai cô gồm có, vụ án oan của cha mẹ, thân phận bị truy nã toàn quốc, trọng trách phải đưa Vương hoàng hậu trở về cung Đại Minh, vụ án bế tắc của Đồng Xương công chúa...

Còn cả Vũ Tuyên tình cờ gặp lại và Vương Uẩn đã lật tẩy thân phận của cô…

Đầu cô ong lên cả vì đau, ngồi trên ngựa mà suy nghĩ cứ trôi tận đâu đâu, ngay bàn tay cầm cương cũng bắt đầu không nghe lời.

Chu Tử Tần đột nhiên dừng ngựa thốt lên: “Vương Uẩn.”

Cô ừm một tiếng, vô thức buột miệng: “Vương Uẩn cũng khó đối phó lắm...”

Nói đến đây, cô mới sực tỉnh, thấy Chu Tử Tần gãi đầu bối rối nhìn mình, còn Vương Uẩn đang giục ngựa từ phía bên kia thong dong đi lại.

Tối mùa hạ trời mát mẻ, một màu xanh thẳm trong suốt bao phủ toàn thành Trường An, Vương Uẩn đi về phía họ, vẻ mặt điềm tĩnh ôn hòa, toát lên phong thái con cháu thế gia, ưu nhã như nhành liễu ngày xuân.

“Trường An sắp giới nghiêm, hai vị còn định đi đâu thế?”

Giọng y vẫn ôn hòa như thế, chưa nói đã thấy ý cười. Ánh mắt y lướt qua Chu Tử Tần rồi dừng ở Hoàng Tử Hà, ý cười đã rõ hơn, khóe môi cong lên cũng đẹp hơn hẳn.

Nhớ lại lần gặp trước cùng những hành động và lời nói của y, lại nhìn nụ cười rạng rỡ như trăng Trường An bây giờ, lòng cô chợt dâng lên cảm giác sợ hãi và chống đối, song chẳng thể nói ra lời, đành im lặng cúi đầu né tránh ánh mắt y.

Vương Uẩn giục ngựa đi đến bên cạnh cô, cúi đầu hỏi nhỏ: “Lại đi tra án ư?”

Hoàng Tử Hà cắn môi khẽ gục gặc đầu.

Chu Tử Tần bên cạnh vội phân bua: “Là Quỳ vương bảo bọn tôi cùng đi, còn cả thủ bút của vương gia đây, huynh xem...”

Vương Uẩn liếc qua rồi cười nói: “Phường Đại Ninh xảy ra chuyện như thế, e rằng không được an toàn lắm, để tôi đưa các vị đi.”

“Tốt quá, tôi vẫn biết Vương huynh nhiệt tình lắm mà.” Chu Tử Tần mừng rỡ, “Sùng Cổ nói có phải không?”

Hoàng Tử Hà gật đầu.

Vương Uẩn đi song song hai người, đột nhiên lại buột miệng, vẻ vô ý: “Ngày mai Trương Hàng Anh sẽ đến báo danh.”

Bấy giờ Hoàng Tử Hà mới lên tiếng: “Việc này thực phiền Vương công tử quá, hôm khác... nhất định sẽ cảm tạ.”

Vương Uẩn cười đáp: “Ngày mai các vị đến Tả Kim Ngô Vệ mà xem, Trương Hàng Anh vào đó ắt như cá gặp nước, đầu xuôi đuôi lọt thôi.”

“Được lắm, tôi thích nhất là đến chỗ các vị ăn chực!” Hễ nhắc đến ăn là Chu Tử Tần mặt mày hớn hở, phấn chấn hẳn lên: “Kể ra thì tôi đã ăn chực khắp các nha môn trong kinh rồi. Ngự Sử Đài ăn một bữa là một đi không trở lại, trước bữa cơm lúc nào cũng phải giảng đạo tuyên dương công giáo hóa của triều đình, các vị coi có khổ hay không? Khó nuốt nhất là cơm của Đại Lý Tự, tường nhà bếp ở đó trắng xóa toàn điều với luật, không chặt đầu thì treo cổ, không nữa thì lưu đày ba ngàn dặm! Tôi thích nhất là ăn cơm ở Tả Kim Ngô Vệ các huynh đấy, nhiều thanh niên, khẩu vị cũng tương đồng, vừa lắm người quen vừa náo nhiệt, vui hơn cả dùng bữa ở nhà. À còn nữa, tôi cũng gặp đầu bếp của các huynh rồi, quả là nữ tử nấu nướng ngon số hai trong thành!”

Vương Uẩn cười hỏi: “Không biết người số một là ai?”

“Đương nhiên là cô dâu chưa qua cửa của Trương nhị ca rồi, cô ấy quả là thánh thủ nấu nướng!” Chu Tử Tần khoa trương tán tụng.

“Thật hay đùa đấy, lẽ nào sư phụ tay nghề mấy chục năm ở quán rượu còn không bằng một tiểu cô nương?”

“Đâu phải mình tôi nói thế, cả Chiêu vương Ngạc vương cũng tán thành mà. Sùng Cổ thấy sao?”

“Ừm, ví như hoa râm bụt, A Địch cô nương sẽ ngắt bỏ từng đài, bỏ đi những cánh hoa héo, còn quán rượu thường cho người chuẩn bị sẵn, tới lúc dùng thì bốc một nắm cánh hoa bỏ vào, có thể có rất nhiều cánh không tươi. Nếu xét theo tiêu chuẩn này, đương nhiên canh A Địch cô nương nấu sẽ thơm ngon hơn.”

Hoàng Tử Hà gật đầu tỏ vẻ tán đồng, nhưng đúng lúc ấy một suy nghĩ chợt lóe lên trong đầu, khiến cô ngây người ra.

Cô sực nhớ hôm đó ở nhà Trương Hàng Anh, cả bọn đang ăn canh râm bụt thì Ngạc vương trông thấy một bức họa quái gở, vẻ mặt kỳ dị của y khi ấy, giờ nhớ lại vẫn còn khiến người ta lấn cấn trong lòng.

Hồi tưởng lại nội dung bức họa, cô càng rúng động tâm thần.

Trên giấy vẽ ba hình, thứ nhất là một kẻ bị sét đánh chết cháy; thứ hai là một kẻ chết trong lồng sắt...

Vừa khéo trùng khớp với thủ pháp gây án của hai vụ gần đây...

Lẽ nào chỉ là trùng hợp thôi ư?

Hình thứ ba là một kẻ bị con chim lớn từ trên trời lao xuống mổ chết, chẳng rõ báo hiệu điều gì?

Chim lớn... Loan phượng...

Chẳng hiểu sao, trong đầu Hoàng Tử Hà lại hiện lên hình ảnh Đồng Xương công chúa.

Nàng đứng trên đài cao thuật lại cơn ác mộng của mình. Nàng kể, Phan thục phi nhà Nam Tề Phan Ngọc Nhi, báo mộng đòi lại cây trâm Cửu loan.

Trâm Cửu loan... Người chết dưới trâm Cửu loan.

Hoàng Tử Hà ngồi trên lưng ngựa, vừa ngây ra một thoáng đã thấy mồ hôi lạnh túa khắp, khiến cô không sao ngồi thẳng lên được.

“Sùng Cổ sao thế?” Giọng Vương Uẩn chợt vang lên bên tai. Thấy cô lảo đảo sắp chực ngã, y bèn nắm lấy dây cương, giúp cô ghìm Na Phất Sa lại.

Hoàng Tử Hà bấy giờ mới định thần, vội vã xua đi những liên tưởng quái gỡ trong đầu, miệng đáp: “Tôi không sao... Trời tối thật, thoáng cái đã không trông rõ đường rồi.”

Đoạn cô ngẩng đầu, thấy phía trước là bức tường bao quanh phường thấp tè, trước cổng phường treo hai ngọn đèn lồng đã phai màu, bên trên viết hai chữ Đại Ninh.

Ba người xuống ngựa trước cổng phường Đại Ninh, Chu Tử Tần thấy Vương Uẩn cũng theo vào thì kinh ngạc hỏi: “Vương huynh... đêm nay không phải đi tuần các phường ư?”

“Trường An rộng như thế, nếu chỉ mình ta đi tuần chẳng phải mệt chết ư?” Vương Uẩn cười, “Thực ra hằng ngày ta cũng chỉ đi loanh quanh mấy vòng rồi quay về thôi. Hôm nay ta tình cờ gặp các vị, ta cũng chưa được xem người cửa công tra án bao giờ, lần này coi như mở rộng tầm mắt.”

“Thi thể đã được đưa ra nghĩa trang rồi, còn gì mà mở rộng tầm mắt? Lần sau có dịp, tôi sẽ mời huynh đến xem nghiệm thi.” Chu Tử Tần vừa nói vừa giơ ra tờ giấy Lý Thư Bạch viết cho mấy người lính già gác cổng, rồi dẫn bọn họ đi thẳng tới nhà Tôn ghẻ.

“Tôn ghẻ tên thật là Tôn Phú Xương, vì khắp người lở loét, đầu lại bị chốc, nên ai ai cũng gọi là Tôn ghẻ. Hắn không có anh chị em, họ hàng cũng hiếm khi qua lại, mấy năm trước cha mẹ theo nhau mất cả, giờ sống một mình trong căn nhà nát ở mé Tây Bắc phường Đại Ninh.”

Chu Tử Tần dẫn hai người đi dọc theo tường bao, tới một dãy nhà nhỏ ở góc Tây Bắc, trong đó có một gian không khóa, trên cửa dán giấy niêm phong của quan phủ.

Chu Tử Tần giơ tay nhẹ nhàng bóc giấy niêm phong xuống, rõ ràng gã làm việc này không chỉ một hai lần, tờ giấy gỡ ra rất khéo, không rách mảy may. Đoạn gã đẩy cửa, căn phòng kín đã lâu, vừa mở ra, mùi ẩm mốc, mùi thối, hòa cùng đủ thứ mùi hỗn tạp xộc ra, khiến người ta lợm cả giọng.

Chu Tử Tần đã chuẩn bị sẵn, rút ngay ra hai miếng vải tẩm nước gừng tỏi giấm cho Hoàng Tử Hà và Vương Uẩn, còn mình thì bịt mũi nói: “Mùi gì thế nhỉ?... Mùi xác thối thì đã đành, còn có một mùi gì ấy rất khó tả, thối hơn cả mùi xác thối nữa?”

Vương Uẩn dùng vải bịt mũi song vẫn nhăn nhó không thôi, rõ ràng không quen thứ mùi “trừ tà” này. Đành bỏ luôn miếng vải ra, “Ta không dùng tranh đồ của huynh nữa đâu, cái này trả cho... ”

Chưa nói dứt câu, y bỗng ngưng bặt, do dự một thoáng rồi lại bịt miếng vải lên mũi, lúng búng qua làn vải che: “Tử Tần, Sùng Cổ, hai vị vất vả quá. Mùi thối hòa lẫn mùi thơm, quả thật còn khó ngửi hơn cả mùi thối đơn thuần.”

Chu Tử Tần ngạc nhiên hỏi: “Mùi thơm gì cơ?”

“Huynh không ngửi thấy ư?” Vương Uẩn nhíu mày, dù đang bịt vải, y vẫn vô thức phẩy phẩy tay trước mũi mấy cái: “Là hương linh lăng.”

Hoàng Tử Hà cũng ngạc nhiên không kém: “Trong phòng này có... linh lăng hương ư?” Trước khi bước vào cô đã bịt mũi, nên chẳng ngửi thấy gì cả.

“Đúng thế, là hương linh lăng.” Vương Uẩn quả quyết khẳng định, “Tuy rất nhạt, lại lẫn với đủ thứ mùi hôi hám, nhưng ta rất nhạy cảm với mùi hương, không nhận lầm đâu.”

“Mọi người đều ca tụng huynh là cao thủ đệ nhất kinh thành về các loại hương thơm, tôi không thể nghi ngờ huynh được.” Chu Tử Tần nhíu mày, “Nhưng linh lăng hương rất quý, sao có thể xuất hiện trong gian nhà tồi tàn này chứ?”

“Đúng là rất lạ, nhưng hình như không sai đâu.” Vương Uẩn khẳng định.

Hoàng Tử Hà gỡ khăn bịt xuống, hít ngửi trong phòng. Có điều cô không có thiên tư về mặt này, chỉ ngửi thấy mùi giấm và tỏi sặc sụa ở chóp mũi.So ra thì Chu Tử Tần lợi hại hơn, vừa bỏ tay bịt mũi ra, gã đã hít hít rồi gật đầu: “Ừm, nghe huynh nói tôi cũng ngửi thấy rồi, đúng là thoang thoảng thật... Ồ, rốt cuộc là từ đâu ra thế nhỉ?”

Hoàng Tử Hà vừa nghe vừa cầm lồng đèn soi quanh phòng.

Đúng như Chu Tử Tần nói, đây là một gian nhà bằng đất lụp xụp, có thể gọi là chỉ trơ bốn bức vách. Bước qua cửa, đập vào mắt là chiếc giường thấp ngổn ngang đủ thứ, đối diện cửa vào. Trong nhà không có lấy cái bàn, ở góc trái bắc một cái bếp, ba bốn chiếc bát sành sứt miệng nằm chỏng chơ, bên cạnh là củi khô và lu gạo vỡ lăn lóc. Bên phải có một chiếc ghế nát kê dựa vào tường, đằng trước đặt một chiếc kỷ thấp dài chừng hai thước, trên kỷ cũng bày đầy đồ đồng nát.

Hoàng Tử Hà bươi móc trong đống tro bếp, không phát hiện thấy tàn tro của linh lăng hương, lại chạy đến săm soi đống đồ trên kỷ, thấy đa phần là những vật dụng hàng ngày như làn hay đá lửa, đều phủ đầy bụi bặm.

Cô đi đến bên giường, ngồi xuống nhìn ngó. Chiếc giường nhỏ hẹp, xấp xỉ bằng cánh cửa, vậy mà trên giường chất chồng bao nhiêu thứ, nào là mấy manh áo rách, một cây kéo gỉ ngoèn, một viên đá mài, hai cọc vàng mã, một bầu nước.

Mặt đất cạnh giường cũng lăn lóc nào gối đầu, một mảnh ngói vỡ đen sì, mấy gói bột ngải cứu bọc trong lá sen khô.

Còn đương xem xét thì lý chính đã từ phía sau tiến lại, ghèn mắt chưa lau hết, khom lưng bẩm với họ: “Ba vị quan gia, chẳng phải quan sai đã tra xét xong vừa đi rồi ư, sao đêm hôm lại phiền các vị đến xem xét nữa?”

Chu Tử Tần vỗ ngực hùng hồn: “Chúng ta ăn lộc vua thì trung với vua, phải làm hết chức trách, giữ lẽ công bằng, nửa đêm canh ba thì sao? Ở đâu có thi thể... à không, có án oan thì ở đó có chúng ta!”

Lý chính sinh lòng kính phục, vội hành lễ với gã: “Vâng, vâng!”

Hoàng Tử Hà ngán ngẩm liếc Chu Tử Tần, rồi trỏ đống lộn xộn trên giường hỏi lý chính: “Lão trượng có biết mấy thứ trên giường này là gì không?”

Lý chính quay sang nhìn, rầu rĩ đáp: “Biết chứ, còn chẳng phải mấy thứ đó sao?”

“Mấy thứ gì?” Chu Tử Tần vội gặng.

“Chẳng phải trước đây Tôn ghẻ làm chuyện xấu xa, tiếng xấu đồn ầm lên ư? Về sau chẳng hiểu sao lại không bị truy cứu, nên hắn nghênh ngang đắc ý, khoe khoang khắp nơi, đúng là làm mất mặt cả phường! Mãi tới mấy hôm trước, chùa Tiến Phúc xảy ra chuyện, một hoạn quan ở phủ công chúa bị sét đánh chết, mọi người đều nói là ác giả ác báo, Tôn ghẻ bấy giờ mới hoảng lên, sợ gặp báo ứng, có bệnh thì vái tứ phương, hắn bèn đi khắp nơi rước về đủ thứ trừ tà. Các vị quan gia nhìn mà xem, đây là ngói tẩm máu chó mực, đây là vàng mã đã phun nước bùa. Còn cái kéo này, là để phòng thân... Trên giường kia nữa kìa, các vị xem!”

Nói đoạn lý chính giơ cao cây đèn trong tay lên, họ liền trông thấy trên tường dán đủ thứ bùa chú loằng ngoằng cùng tranh chữ, chẳng biết Tôn ghẻ nhặt nhạnh từ đâu về, cái mới cái cũ, cái của nhà Phật, cái theo đạo Lão. Cửa sổ treo biển gỗ từ bi phổ độ, trên cửa ra vào gắn một tấm hoành phi bằng sắt có ghi: “Mục Liên cứu mẹ, ở đầu giường dán tranh Quan Âm ban con.

Chu Tử Tần kinh ngạc trỏ cái giường hỏi: “Cái giường này bé tí, lại bày bừa bấy nhiêu thứ, Tôn ghẻ nằm ngủ trên đó vẫn trở mình được ư?”

“Hắn còn cần trở mình à? Nửa người lở loét, lúc ngủ phải nằm nghiêng, thì còn trở mình nỗi gì!” Rõ ràng Lý chính rất căm hận Tôn ghẻ, xem như mối nhục của cả phường, vừa nói vừa dè bỉu, “Ba vị à, không phải mình tôi nói đâu, hồi chiều phát hiện ra thi thể Tôn ghẻ, mọi người đều bảo là báo ứng đó! Ngang nhiên chà đạp con gái nhà người ta, còn đi khắp nơi khoe khoang, nghe nói cô gái đó đã phải tự tử rồi! Đúng là báo ứng đến nhanh thật! Dù hắn trốn trong nhà, đóng chặt cửa, cài chốt trong, dán đầy bùa chú xung quanh, không ra ngoài nửa bước, cũng không thoát khỏi cái chết!”

Chu Tử Tần gật đầu đồng cảm: “Đúng thế! Bởi vậy người sống trên đời không nên làm việc xấu!”

Thấy có người tán đồng với mình, lý chính tiếp tục thao thao bất tuyệt: “Nghe nói khi đạp cửa xông vào, người ta trông thấy một luồng oán khí từ trông nhà xộc ra, sát khí đen kịt xông thẳng lên trời! Mọi người đều bảo đó là cô nương chết oan kia báo thù xong, hồn phách quy tụ lại, cuối cùng cũng được yên nghỉ!”

Hoàng Tử Hà và Chu Tử Tần chỉ biết câm nín nhìn nhau – vì mới trưa nay, họ còn trò chuyện với Tích Thúy “chết oan” kia.

Rà soát một lượt trong phòng, lại tra xét kỹ then cửa chính và then cửa sổ xong xuôi, Chu Tử Tần bèn dán giấy niêm phong lại, ghi thêm một chữ “Chu” lên trên.

Vương Uẩn gỡ vải bịt mũi xuống, quay đầu nhìn lại gian nhà lần nữa, rồi đưa mắt sang Hoàng Tử Hà, cảm thán: “Hôm nay mới biết Sùng Cổ thực là vất vả, ta rất khâm phục.”

Hoàng Tử Hà cúi đầu tránh ánh mắt y, đáp cho qua chuyện: “Cũng bình thường thôi... dù sao không phải ngày nào cũng thế này.”

Trái lại, Chu Tử Tần dương dương tự đắc: “ Lần này có là gì! Dạo trước lúc tôi và Sùng Cổ đi đào thi thể bị hỏa thiêu, huynh còn chưa được chứng kiến đâu, cả lần vớt xác dưới kênh nữa... ”

Hoàng Tử Hà đành vờ như không nghe thấy, đi thẳng đến chỗ Na Phất Sa.

Vương Uẩn theo sát bên cạnh hỏi: “Căn nhà này gần như kín bưng, rốt cuộc hung thủ đã ra taythế nào vậy? Mà công công... định điều tra theo hướng nào đây?”

Hoàng Tử Hà tung mình nhảy lên ngựa đáp khẽ: “Cứ từ từ mà tra thôi, tôi luôn cho rằng, nếu đã gây án, ắt không thể giấu giếm được.”

“Đúng thế, trong mắt Tử Tần này, Sùng Cổ là thiên tài phá án, có thể sánh ngang với ý trung nhân của tôi đấy, trên đời làm gì có vụ án nào làm khó được công công?” Chu Tử Tần tự đắc nói, như thể vinh quang của Hoàng Tử Hà cũng là vinh quang của gã vậy.

Hoàng Tử Hà chẳng biết có nên cảm tạ gã đã lược bỏ ba chữ đầu trong cụm “Hoàng Tử Hà ý trung nhân của tôi” không – may mà Chu Tử Tần chưa đến nỗi quá ngốc, không nói toẹt ra trước mặt Vương Uẩn rằng ý trung nhân của mình chính là vợ chưa cưới của y.

Cũng may Vương Uẩn không có hứng hỏi đến ý trung nhân của Chu Tử Tần, thấy sắp đến ngã tư, y chỉ mĩm cười bảo Hoàng Tử Hà: “ Vậy Tử Tần, Sùng Cổ, ngày mai gặp lại nhé.”

“Được! Ngày mai chúng tôi nhất định sẽ đến chỗ các huynh dùng bữa đúng giờ,” Chu Tử Tần vẫy tay lia lịa.

Đợi Vương Uẩn đi khỏi, Chu Tử Tần cho ngựa thả bộ trên đường, thảo luận với cô: “Sùng Cổ, vụ này xem chừng khó nhằn đấy, công công thấy thế nào?”

Hoàng Tử Hà gật đầu: “Ừm... cửa chính cửa sổ đều đóng chặt, lần này không như vụ ở nghĩa trang, lách miếng đồng vào mà nạy được đâu.”

“Đúng thế,” Chu Tử Tần rầu rĩ nhận xét, “có thể nói Tôn ghẻ đã chết trong một cái lồng sắt kín bưng!”

Vừa nói đến đây, Chu Tử Tần bỗng sững ra, rồi buột miệng ồ lên: “Sùng Cổ! Còn nhớ bức họa ở nhà Trương Hàng Anh không? Chính là bức họa kỳ quái, nghe nói được tiên hoàng ngự ban, treo ngay giữa nhà ấy!”

Hoàng Tử Hà gật đầu, chậm rãi nói: “Đương nhiên vẫn nhớ!”

“Ba cái chết quái dị trong đó... Thứ nhất là bị sét đánh chết cháy; thứ hai là chết trong lồng sắt; thứ ba là bị chim lớn mổ chết!” Chu Tử Tần quay sang nhìn cô, vẻ mặt vừa kích động vừa kinh hãi, “Giờ đây, ba cái chết đã có hai xảy ra với kẻ thù của Tích Thúy rồi!”

Hoàng Tử Hà nặng trĩu tâm sự, chỉ gật đầu: “Ừm.”

“Công công không kinh ngạc ư? Công công nói xem, lần này là trùng hợp hay có người cố ý giở trò? Công công không thấy việc này quá kì quái ư?”

“Tử Tần” Hoàng Tử Hà quay sang nhìn gã, dưới ánh đèn leo lét dọc đường, cặp mắt cô toát lên vẻ điềm tĩnh: “Sáng mai chúng ta đến Tả Kim Ngô Vệ gặp Trương nhị ca rồi nói.”

Chu Tử Tần gật đầu, mặt lại tươi hẳn lên, đầy vẻ tự đắc: “Sùng Cổ xem, cuối cùng cũng có lần suy luận của ta nhanh hơn công công rồi.”

“Đúng thế... tôi tự thẹn không bằng.” Cô vừa nói vừa nhìn về phía phủ Quỳ vương đã thấp thoáng đằng xa, lòng bất giác nghĩ đến một việc quan trọng nhất...

Cái chết thứ ba... liệu có xuất hiện không?

Nếu có thì... người chết sẽ là ai?

Sáng hôm sau, trời trong gió mát. Trường An có đến cả trăm vạn người, chết một hai người cũng chẳng hề gì, toàn thành vẫn bình yên.

Lý Thư Bạch dẫn Hoàng Tử Hà đến bộ Công, không xuống xe, chỉ hỏi một câu: hôm nay khơi thông cống nước ở đâu, rồi đi thẳng tới đó.

Hôm nay người của bộ Công đang sửa sang cống thoát nước tại phường Thông Tế, lúc hai người đến thì thấy cả đám thợ thuyền và phu phen đang nạo vét bùn ở cửa cống, Tưởng chủ sự bộ Công ngồi chồm hổm dòm xuống, cửa cống bên dưới đen ngòm, mùi hôi thối nồng nặc, họ Tưởng chỉ bịt mũi nhăn nhó ngồi nhìn, chẳng có cách nào.

Lúc Lý Thư Bạch và Hoàng Tử Hà xuống xe, một tên phu đang thông báo với Tưởng chủ sự, “Bên dưới thông rồi, chủ sự xem... đã nên tính tiền chưa?”

Tưởng chủ sự chần chừ: “Vét sạch thật rồi chứ?”

“Tiểu nhân đã làm thì đại nhân cứ yên tâm!” Tay phu vỗ ngực đảm bảo, “Tốt xấu gì tiểu nhân cũng được bộ Công tín nhiệm cử làm việc này, đâu thể làm láo lếu được! Nếu thấy chưa thông, đại nhân cứ tìm tôi!”

“Nói vậy là bên dưới đã thông hết rồi ư?” Lý Thư Bạch thong dong cất tiếng hỏi từ phía sau Tưởng chủ sự.

Gã nọ không biết lai lịch của y, song thoáng nhìn cũng đoán được người này thân phận bất phàm, vội đáp: “Ôi chao, quý nhân cứ yên tâm! Trương Lục Nhi tôi đã làm là không có vấn đề!”

“Tưởng chủ sự ngoái lại thấy Lý Thư Bạch, vội quỳ sụp xuống hành lễ: “Quỳ vương gia, sao gia lại đến chỗ dơ dáy này? Ôi ôi, mời gia ra đứng đầu gió cho thoáng... ”

“Khỏi cần.” Quỳ vương ưa sạch sẽ nổi tiếng kinh thành đứng ngay cửa cống nhìn xuống hỏi: “Việc này do Trương lục Nhi kia quản ư?”

“Vâng, đường nước ngầm to nhỏ trong kinh hắn đều nắm rõ cả, mấy năm trước bộ Công tuyển phu làm cống ngầm, hắn trở thành thủ lĩnh, hằng tháng được bộ Công phát lương, ngoài ra mỗi lần khơi thông cống rãnh đều phải cho thêm tiền.”

Hoàng Tử Hà ở phía sau nghe thấy bèn nhủ bụng, ai định ra cái quy củ vớ vẩn mỗi lần thông cống phải thêm tiền vậy, làm thế chẳng phải đám người này chỉ mong cho cống tắc suốt ngày, ba ngày tắc một chỗ bé, năm ngày tắc một chỗ lớn hay sao, đời nào chịu dốc sức làm việc nữa?

Lý Thư Bạch cũng chẳng bình phẩm gì, chỉ gọi Trương Lục Nhi lại hỏi: “Bên dưới thông thật chưa?”

“Thưa gia, thông thật rồi ạ!”

“Thông theo ý ngươi, là moi lấy một lỗ giữa đống bùn tắc, đủ cho nước chảy lọt qua để đối phó, hay là vét sạch bùn đọng bên dưới, không còn tắc nghẽn?”

“Ôi, xem gia nói kìa! Đương nhiên là vét sạch sành sanh, không còn một mảy may bùn đất nào nữa rồi!” Trương Lục Nhi đoán Lý Thư Bạch sẽ không xuống xem, nên bù lu bù loa kể lể hết sức cảm động: “Triều đình hằng tháng phát lương cho mấy anh em tiểu nhân, chúng tiểu nhân cũng biết việc này liên quan đến cuộc sống dân chúng, nào dám qua quýt? Ai nấy đều hết lòng hết sức, không dám lơ là mảy may!”

“Tốt lắm!” Lý Thư Bạch chẳng buồn nhiều lời, ra ý bảo Cảnh Hữu khiêng hai ổ khóa phía sau lên. Quả nhiên, hai ổ khóa to tướng vừa bưng ra, mọi người đã đổ dồn mắt vào.

“Từ hôm nay, bộ Công ban hành quy định mới về cống rãnh thoát nước, bản vương sẽ triển khai thử lần đầu. Ngươi đã cam kết bên dưới thông suốt không còn bùn lầy, bản vương cũng biết, đường cống triều ta xưa nay đều xây bằng gạch xanh, cao ba thước, rộng năm thước, thừa đủ cho một người lom khom đi lại, chưa nói tới còn có thể bò.” Lý Thư Bạch trỏ một ổ khóa nói: “Vét sạch cống rãnh rồi, ngươi là trưởng nhóm phụ trách việc này, phải xuống dưới đó, bản vương sẽ chính tay khóa đường cống lại, ngươi có thể theo đường cống thông thoáng ấy mà đi, còn bản vương đi trên mặt đất. Ta sẽ theo tuyến đường thông tắc của ngươi, đi đến chỗ lối ra, rồi vòng về đi lại từ đầu. Khi ta đến lối ra lần thứ hai, bất kể ngươi đã thoát ra hay chưa, bản vương cũng dùng ổ khóa còn lại khóa luôn lối ra, cầm chìa khóa đi.”

Nghe y nói vậy, Trương Lục Nhi mặt tái nhợt, môi xám ngoét, cứ rên rẩm mãi trong cổ họng mãi không thốt nổi lời nào.

Lý Thư Bạch cầm ổ khóa lên, ra hiệu cho Hoàng Tử Hà mở khóa, chuẩn bị khóa đường cống lại: “Còn nữa, ngươi đã nói bên dưới sạch bong không còn mảy may bùn đất, vậy thì lát nữa ngươi chui ra, nếu trên người bẩn thỉu quá, bản vương sẽ không vui đâu.”

“Vương... vương gia!” Trương Lục Nhi run như dẽ, quỳ sụp xuống giữa đường: “Xin... xin cho tiểu nhân, xuống, xuống dưới kiểm tra lần nữa... để khỏi... khỏi có sơ suất!”

Lý Thư Bạch nửa cười nửa không, đặt ổ khóa trong tay xuống mâm: “Đi đi.”

Cảnh Hữu đằng sau đã bày sẵn ghế dưới tán hòe, Lý Thư Bạch bèn ra đó ngồi, rửa tay hóng mát.

Cảnh Dục bày trà nước và bốn món điểm tâm ra, rồi mở thùng nước đá bắt đầu pha nước mát.

Hoàng Tử Hà bưng một chén sữa lạnh nhấm nháp, quan sát Trương Lục Nhi cùng cả đám phu phen cứ lên lên xuống xuống miệt mài quanh miệng cống như người điên, móc ra từng gánh từng gánh bùn, chồng chất như núi, may mà họ ngồi xa nên không ngửi thấy mùi thối.

Tưởng chủ sự mừng rỡ đi đến cạnh Lý Thư Bạch, hào hứng thưa: “Đạo luật này ban ra, về sau kinh thành không phải lo ngập lụt nữa rồi!”

“Đạo cao một thước, ma cao một trượng, chẳng bao lâu nữa chúng sẽ tìm ra cách đối phó thôi, hơn nữa e rằng sẽ bắt đầu từ chính Tưởng chủ sự đấy!”

Tưởng chủ sự sợ đến toát mồ hôi lạnh, vội thưa, “Tiểu nhân xưa nay giữ đúng phép công, không hề dám mưu lợi gì cho bản thân cả.”

“Ta không có ý đó, chỉ lo Tưởng chủ sự thấy chúng vất vả lại lơi lỏng kỷ luật thôi. Dù sao, chuyện này cũng từng làm bá tánh trong thành tan nhà nát cửa.”

“Vâng vâng, tiểu nhân sẽ giữ đúng chức phận, quyết không dám lơi lỏng.”

Mặt trời lên gần đến đỉnh đầu thì Trương Lục Nhi, giờ đã bê bết bùn sình trông như một con khỉ đất, cuối cùng cũng hạ quyết tâm, chạy đến lắp bắp thưa: “Vương gia, chắc... chắc là ổn rồi ạ.”

Lý Thư Bạch gật đầu, đứng dậy đi đến bên miệng cống.

Trương Lục Nhi đón lấy thùng nước cạnh đó, giội thẳng từ đầu xuống chân, gột sạch bùn đất trên áo xống và mặt mũi, rồi khom lưng chui xuống cống.

Lần này Trương Lục Nhi hừng hực quyết tâm, Lý Thư Bạch mới thong dong đi được nửa đường thì hắn đã chui ra từ đầu kia, mình mẩy không lấm bùn nhiều.

“Khá đấy, nếu lúc nào cũng được thế này thì cần gì bản vương phải đích thân đến trông coi nữa.” Lý Thư Bạch tỏ vẻ tán thưởng.

Dân chúng xúm đông xúm đỏ xung quanh cũng xôn xao bàn tán, ai nấy đều mừng ra mặt. Có người còn hét bảo Trương Lục Nhi: “Lục Nhi chạy nhanh quá nhỉ! Đáng lẽ Quỳ vương nên bắt ngươi chạy khắp các đường cống trong thành một vòng mới phải, ha ha ha!”

Lại có người chen vào: “Lục nhi chui cống có gì hay, phải bảo ông chủ Tiền chui một chuyến mới thú, phải không nào!”

Trong tiếng tán thưởng lao nhao, một người mập lùn sa sầm mặt, cúi gầm đầu xuống.

Lý Thư Bạch liếc qua đã nhận ra hắn, bèn ra hiệu cho Hoàng Tử Hà.

Tưởng chủ sự gọi mọi người lại lĩnh tiền công. Hoàng Tử Hà để ý thấy Trương Lục Nhi nhận tiền xong liền đi tới cạnh người nọ, đôi bên nhìn nhau cười gượng, cô bèn tới trước mặt hắn, chắp tay hành lễ: “Vị đại ca này, xin hỏi quý tính là gì vậy?”

Gã béo lùn thấy hoạn quan bên cạnh Quỳ vương đột nhiên hỏi thăm mình, vội cười cười nịnh nọt: “Tham kiến công công! Công công làm tiểu nhân giật cả mình... Chẳng rõ quý nhân tìm tiểu nhận có việc gì thế?”

Hoàng Tử Hà hỏi: “Đại ca có phải ông chủ Tiền, Tiền Quan Sách nổi tiếng kinh thành chăng?”

“Ôi chao, không dám không dám! Tiểu nhân chỉ mở mấy cửa tiệm, kiếm ít tiền sống qua ngày thôi mà.” Hắn vừa phân bua vừa cúi đầu khom lưng, bộ dạng khúm núm, thân hình béo lùn như lu nước cũng gập được thấp đến thế, quả là hiếm có.

Hoàng Tử Hà từng gặp đủ loại người, song kẻ khom lưng uốn gối như hoạn quan thế này thì thực ít thấy. Cô ngán ngẩm nói: “Ông chủ Tiền không cần đa lễ, ta chỉ hỏi mấy câu thôi.”

“Vâng vâng, xin công công cứ hỏi, tiểu nhân nhất định biết đâu nói đó.”

Cô bèn trỏ đường cống phía trước hỏi: “Ông chủ Tiền quen Trương Lục Nhi ư?”

“Thực chẳng dám giấu, công công, tiểu nhân... có một tiệm ngựa, sau lại chiêu mộ một đám thợ mộc thợ nề, chuyên dựng nhà giúp người ta, về sau tiểu nhân còn, còn nhận vài ba việc, rồi bắt tay với mấy anh em chuyên khơi thông đường cống trong kinh cùng làm, nên... ”

Thấy hắn ấp úng, Trương Lục Nhi bèn đáp thay: “Thực có lỗi quá, là mấy tên phu phen chúng tôi nhận thêm việc bên ngoài, thỉnh thoảng giúp ông chủ Tiền kiếm chút đỉnh thôi.”

Tuy những kẻ này ăn lương nha môn, song đôi lúc vẫn nhận thêm việc bên ngoài, chuyện này mọi người đều mắt nhắm mắt mở cho qua, nên Hoàng Tử Hà cũng chẳng truy xét. Nhưng Tiền Quan Sách lại sợ đến hồn phi phách tán, luôn miệng phân bua: “Tiểu nhân có tội! Xin công công trách phạt! Xin công công đại từ đại bi tha cho tiểu nhân một con đường sống... ”

“Ông chủ Tiền, việc này chẳng liên quan gì đến ta, ta cũng không định truy cứu ông đâu mà.” Hoàng Tử Hà nghe hắn van vỉ chẳng biết làm sao, đành ra hiệu cho hắn bước sang một bên nói chuyện.

Hai người đi đến bên một bức tường thấp tè đổ nát, Hoàng Tử Hà mới hỏi: “Ông chủ Tiền có quen Tôn ghẻ chăng?”

“Tiểu nhân không... không quen.” Vừa nhắc đến chuyện đó, gương mặt nần nẫn của họ Tiền như chảy nhão cả ra, trông rất khó coi: “Công công, tha cho tiểu nhân đi... Tiểu nhân rượu vào làm càn, lỡ xách rìu phá cửa nhà họ Tôn thôi... Bấy giờ tất cả mọi người ở đó đều có thể làm chứng, khi tiểu nhân xông vào, Tôn ghẻ đã sắp thối rữa rồi mà!”

Mới chết hai canh giờ, làm gì mà thối rữa được. Song Hoàng Tử Hà chẳng buồn vặn vẹo hắn, chỉ nói: “Việc đó ta biết. Ta chỉ muốn hỏi, giờ Ngọ hôm qua ông ở đâu?”

“Giờ Ngọ hôm qua... tôi đang ở phường Tĩnh An đòi nợ. Rất nhiều người có thể làm chứng!” Tảng thịt trên mặt họ Tiền rung lên bần bật vì kích động: “Người Đại Lý Tự cũng điều tra rồi, là thật mà! Công công, tiểu nhân thực xui xẻo quá! Hôm qua tiểu nhân còn…còn chạm vào thi thể nữa! Nghe nói vận rủi sẽ đeo đẳng ba năm kia! Việc làm ăn của tiểu nhân phải làm sao đây, cả đêm qua tiểu nhân lo lắng quá, không sao chợp mắt nổi!”

“Vậy ông đã gặp phò mã Vi Bảo Hoành của Đồng Xương công chúa bao giờ chưa?” Hoàng Tử Hà cắt ngang tràng kể lể thống thiết của hắn.

Vừa nghe câu này, Tiền Quan Sách sững người ra, vẻ bi ai đông cứng trên gương mặt phì nộn, nhìn chỉ thấy tức cười.

“Ông đã nói dối người của Đại Lý Tự, thực ra ông từng gặp phò mã, đúng không?”

Tiền Quan Sách phát hoảng lên, run rẩy móc trong người hai đĩnh bạc dúi vào tay cô, vật nài: “Công công tha mạng... Tiểu nhân quả thật mới gặp phò mã vài lần, còn... còn chưa bao giờ nói chuyện nữa!”

“Tổng cộng mấy lần?” Hoàng Tử Hà chẳng buồn chớp mắt, đẩy bạc trả lại.

“Hai... hai lần thôi, thật mà!”

“Ông chủ Tiền chắc cũng biết dối gạt người làm việc công, nhất là quan sai của Đại Lý Tự, sẽ bị khép tội gì chứ?”

“Ba... ba lần! Thật đấy, có một lần đứng trước cửa phủ nhìn thấy phò mã từ đằng xa, tiểu nhân vội... vội chạy biến... Thế nên tiểu nhân chỉ tính hai lần!” Tiền Quan Sách chỉ hận không thể chảy nước mắt nước mũi ròng ròng cho thêm thảm thiết, lại nhét một đĩnh bạc vào tay áo cô.

Hoàng Tử Hà đẩy đĩnh bạc trả lại, cười nói: “Được rồi ông chủ Tiền, ta biết ông giàu có, ra ngoài mà cũng đem nhiều bạc thế này. Một hoạn quan như ta, làm sao dùng nổi chừng ấy? Ông nên kể lại tường tận mấy lần gặp phò mã cho ta nghe thì hơn.”

Mặt Tiền Quan Sách nhăn như bị, song không dám trái lời, đành xòe ngón tay đếm lượt: “Ôi chao công công à, tiểu nhân nói thật nhé... Là ba lần, thật đấy, chỉ có ba lần thôi!”

“Nghe nói tổng cộng hắn gặp ba lần.Lần đầu tiên ở bãi thử ngựa của Tả Kim Ngô Vệ, gia đã kể cho tôi; lần thứ hai là trong phủ công chúa, người của hắn đến tu sửa đường nước, hắn cũng tới đôn đốc, vì cả người bọn hắn nồng nặc mùi bùn đất hôi hám nên phò mã bảo họ không được đến gần công chúa; lần thứ ba ở ngoài phủ công chúa, Tiền Quan Sách thấy xe ngựa phò mã đi đến, vội lánh vào góc đường, không dám lại gần.”

Lý Thư Bạch nghe xong chỉ hỏi: “Ngươi có tin không?”

“Đương nhiên tôi không tin, hạng lái buôn luồn cúi như hắn, hễ có cơ hội, sẽ tìm trăm phương ngàn kế tiếp cận phò mã, chứ đời nào lại lánh đi?”

Lý Thư Bạch cũng chẳng phán xét, lại hỏi: “Hắn giải thích thế nào về việc dối gạt Đại Lý Tự?”

“Nói là biết phò mã xảy ra chuyện, lại liên quan đến con ngựa hắn bán cho Tả Kim Ngô Vệ, rồi trước đây phò mã từng bình phẩm ngựa của Tiền Ký nên hắn sợ chuốc vạ, đành quả quyết rằng chưa gặp bao giờ.”

“Nghe ra thì cũng xuôi tai đấy.” Lý Thư Bạch đứng dậy nói: “Sắp đến giờ Ngọ rồi, về phủ thôi. Ngươi bảo nhà bếp bày cơm ở đài Chẩm Lưu nhé.”

Hoàng Tử Hà lưỡng lự mãi, không dám lên tiếng.

Lý Thư Bạch liếc cô: “Làm sao?”

“Chu Tử Tần đã hẹn với tôi... trưa nay đến Tả Kim Ngô Vệ.” Cô đánh liều thưa với y, song trong lòng vẫn lo ngay ngáy, còn thòng thêm một câu: “Tiện thể xem... có manh mối gì về vụ phò mã không.”

Lý Thư Bạch nheo mắt lại, nhìn cô chăm chú.

Vầng mặt trời chính ngọ cũng chẳng làm cô đổ mồ hôi, nhưng chỉ một cái liếc mắt cùa y, mồ hôi toàn thân cô đã túa ra, mặt không ngẩng nổi lên.

May sao chỉ lát sau, Lý Thư Bạch đã ngước mắt nhìn lên trời, lạnh lùng buông một câu: “Thân là hoạn quan trong vương phủ mà cứ đi ăn chực khắp nơi.”

Cô khóc thầm trong dạ, nhủ bụng, chẳng phải vì... vì gia để tôi nghèo kiết xác ư? Đến nha môn ăn chực cũng phải có cửa đấy!

“Dạ... nô tài biết tội, nô tài sẽ đi bảo Chu Tử Tần... ”

“Khỏi cần, kẻo ngươi thân ở doanh Tào lòng lại ở Hán, cứ tưởng cơm Tả Kim Ngô Vệ ngon lắm.” Dứt lời y bỏ cô lại, quay ngoắt người đi thẳng.
 

Cam Miên

đậu phụ của hòa thượng
Thành viên BQT
Mod - Sưu Tầm
Mod - Công Viên Xanh
Sưu tầm
Tham gia
13/4/19
Bài viết
1,447
Điểm cảm xúc
980
Điểm
113
Hình như… mình không làm sai gì cả!

Hoàng Tử Hà thấy quá oan ức. Tốt xấu gì cô cũng bớt cho Quỳ vương phủ một bữa cơm, chẳng hiểu sao vị vương gia kia lại sưng sỉa với cô.

“Sùng Cổ đang nghĩ gì thế?”

Chu Tử Tần cướp lấy một miếng chân giò gắp cho cô, hớn hở phân tích: “Công công xem miếng thịt này, có nạc có mỡ, chính là chỗ hai tấc phía trên móng, tập trung tinh hoa của cả cái móng đấy! Cũng chỉ nhân tài như ta mới giành được miếng thịt ngon nhất trong các miếng chân giò, giữa bấy nhiêu người như thế thôi!”

“Đang hè thế này…” Mà lại ăn chân giò, Chu Tử Tần còn tranh cướp gắp cho cô.

Hoàng Tử Hà đưa mắt nhìn chiếc bàn dài trước mặt, tay nghề của đầu bếp Tả Kim Ngô Vệ thực không tệ, đủ cả gà vịt thịt cá, để chào mừng Trương Hàng Anh gia nhập, hôm nay còn có thêm heo sữa quay.

“Nhưng nói đi cũng phải nói lại, Trương nhị ca cưỡi ngựa giỏi thật, hôm đầu tiên đã điều khiển ngựa thành thạo như thế, làm quen với con ngựa đó thêm vài bữa nữa, bảo đảm sẽ đứng đầu Tả Kim Ngô Vệ!” Chu Tử Tần thì thào bình phẩm cuộc huấn luyện vừa được xem.

Hoàng Tử Hà gật đầu, mới ăn được mấy miếng thì cả đám người Tả Kim Ngô Vệ đã xếp hàng lũ lượt đến kính rượu.

“Dương công công, trận kích cúc hôm đó, huynh đệ chúng tôi đúng là được mở rộng tầm mắt!”

“Đúng thế, quả là kỹ thuật tuyệt vời! Bội phục bội phục!”

“Nào nào, Dương công công, tôi kính công công một chén!”

“Lưu tứ ca, đừng tranh với tôi chứ! Tôi đến trước mà! Dương công công, mời!”

Nhìn cả đám nam nhân rồng rắn đợi kính rượu mình, Hoàng Tử Hà đang luống cuống thì Vương Uẩn bước đến quở: “Trên sân kích cúc không địch nổi Dương công công nên định gỡ lại trên bàn rượu đấy hả? Dương công công bận bịu cả ngày, đến chiều còn phải đi tra án, nếu các người chuốc công công say, để xem Đại Lý Tự có tìm tới tính sổ hay không!”

Mọi người nghe nói lại càng kính trọng hơn: “Ô, Dương công công còn biết tra án ư?”

Chu Tử Tần vỗ vai Hoàng Tử Hà khoe khoang, nom còn tự hào hơn là mình phá được án: “Vụ án Bốn phương chấn động kinh thành đầu năm nay, rồi cả vụ hai tỳ nữ nhà họ Vương Lang Gia mưu hại Quỳ vương phi tháng trước, đều do vị Dương công công này phá đấy.”

“Ôi chao! Thất kính thất kính rồi!” Cả đám nam nhân chất phác sững ra vì kinh ngạc, ánh mắt nhìn cô càng thêm sùng kính, “Chẳng hay lần này là vụ trọng án nào mà cần công công đích thân ra tay vậy?”

“Nào nào, vì sự tích anh hùng của công công, chúng ta uống thêm chén nữa.”

“Cút hết cho ta!” Vương Uẩn cười mắng, xua hết đám Tả Kim Ngô Vệ đi, rồi áy náy nhìn sang Hoàng Tử Hà: “Xin lỗi, người của Tả Kim Ngô Vệ thô lỗ, ta cũng hết cách.”

“Đâu có, ở đây rất vui.” Cô nhớ tới thời còn ở Thục, đám bộ khoái cộng sự cũng đơn thuần chất phác, mỗi lần ăn cơm đều cười nói ầm ĩ thế này.

Cô quay sang nhìn về phía Trương Hàng Anh, vốn dĩ là nhân vật chính hôm nay. Gã đang cười, nhưng gương mặt không giấu được vẻ thẫn thờ, ánh mắt nhìn mông lung.

Hoàng Tử Hà bèn đi đến ngồi cạnh gã: “Thế nào, đồ ăn A Địch nấu vẫn thích hơn phải không?”

Gã vội lắc đầu: “Đâu có, cơm ở đây ngon lắm…” Rồi như để chứng minh, gã cầm ngay lấy một cái đùi gà ăn ngấu nghiến.

Hoàng Tử Hà cũng vờ như không biết, bưng bát lên vừa ăn miếng thịt chân giò béo ngậy, vừa da diết nhớ thức ăn ở phủ Quỳ vương.

Đồ ăn phủ Quỳ thanh đạm, rất hợp mùa hạ.

Đài Chẩm Lưu cũng rất hợp để hóng mát ngày nóng nực. Cửa sổ bốn bề mở toang, ba mặt là hồ sen bát ngát, chỉ có một mặt nối liền với cây cầu, thông thẳng tới con đường quanh co trồng đầy dương liễu.

Nước xanh biêng biếc, hương sen ngào ngạt, khiến cả căn phòng mát rượi.

Lý Thư Bạch ngồi một mình trước bàn, nhìn vị trí đối diện bỏ không, rõ ràng muốn phớt lờ, song càng nhìn càng thấy chướng mắt.

Y lặng lẽ ra hiệu cho người bên cạnh dọn hết đi, rồi đứng dậy bước lên cầu. Đóa sen đang nở rộ cũng không chống được cái nắng hè, rũ xuống trước mặt y, hương thơm man mác khiến y bất giác chăm chú ngắm nhìn nó hồi lâu không rời mắt.

Cảnh Dục phía sau nghe thấy y lẩm bẩm: “Lần thứ hai”, còn đương ngẫm nghĩ xem y có ý gì, thì trên bờ đã có người hớt hải chạy đến bẩm báo: “Phủ Đồng Xương công chúa sai người đến mời Dương Sùng Cổ Dương công công.”

Nghe thấy ba chữ Dương Sùng Cổ, Lý Thư Bạch mới ngoảnh lại hỏi: “Có việc gì?”

“Bẩm gia, nghe nói phủ công chúa xảy ra chuyện lớn, Đồng Xương công chúa bị hoảng loạn, thái y đang chữa trị, song công chúa lại sai người tới mời Dương Sùng Cổ công công qua trước.”

Lý Thư Bạch chau mày, men theo cây cầu xăm xăm đi ra, miệng bảo Cảnh Dục: “Chuẩn bị xe.”

“Dương công công, xe ngựa của vương phủ đang đợi ngoài cửa.”

Hoàng Tử Hà ngạc nhiên ngẩng lên nhìn người gác cổng Tả Kim Ngô Vệ vừa chạy vào thông báo: “Xe ngựa ư?”

“Vâng. Nói rằng phải đưa công công tới phủ công chúa ngay.”

Ăn bữa cơm cũng không yên, lương bổng hằng tháng thì trừ gần hết. Thế này có thể gọi là chủ nhân tốt được hay không?

Hoàng Tử Hà gượng cười, uống một chén từ biệt mọi người ở Tả Kim Ngô Vệ rồi hối hả chạy ra cửa nha môn, quả nhiên xe ngựa phủ Quỳ đã lù lù ở đó.

Cô vội gõ nhẹ vào cửa xe, xin lỗi rối rít: “Để vương gia đợi lâu, nô tài thực đáng chết.”

Bên trong im phăng phắc, xem ra Quỳ vương không định màng tới cô.

Hoàng Tử Hà thở phào, đang định vòng ra trước ngồi trên càng xe cùng bác A Viễn, nào ngờ vừa cử động, bên trong đã vang lên giọng lạnh băng của Lý Thư Bạch: “Ngươi thực đáng chết.”

Hoàng Tử Hà nhăn nhó cười, cả người cứng lại không dám nhúc nhích.

“Thân là hoạn quan của vương phủ, được thánh thượng đích thân giao phó vụ án phủ công chúa, giờ sóng trước chưa yên sóng sau đã tới, vừa chết người, mà ngươi lại hớn hở tới đây bù khú tiệc rượu. Ngươi thấy mình không đáng chết ư?”

Hoàng Tử Hà sởn cả tóc gáy, răm rắp vâng dạ không dám phản bác gì.

Y nhìn cô qua song cửa. Mặt trời quá ngọ chói chang, rọi lên gương mặt ửng hồng của cô, chẳng khác nào hoa đào nở rộ, diễm lệ kinh người.

Trước nhan sắc rúng động ấy, Lý Thư Bạch chợt thấy một ngọn lửa lạ lùng bùng lên trong lòng.

Bên cạnh y, cô luôn bình thản an nhiên, tựa hồ trong lòng chỉ có hận thù và vụ án, thậm chí hơi thở cũng không hề rối loạn, từng cái cất tay nhấc chân đều đúng khuôn đúng phép. Song, khi không ở cạnh y, cô lại linh hoạt vui vẻ, lén y theo đám đàn ông đánh mã cầu, còn chén chú chén anh với chúng… Chẳng cần chứng kiến, y cũng thừa sức tưởng tượng ra cảnh tượng cô tươi cười hớn hở, xưng huynh gọi đệ cùng đám người đó…

Hoàn toàn quên bẵng bản thân là nữ, vứt bỏ hết những bình thản an nhiên lúc ở cạnh y.

Ngay cả khoảnh khắc xinh đẹp nhất, cô cũng vĩnh viễn không bộc lộ trước mặt y.

Ngọn lửa lạ lùng trong nháy mắt đã thiêu cháy lồng ngực Lý Thư Bạch, lúc này đây, quên khuấy bản thân là Quỳ vương lạnh lùng lãnh đạm, y đứng phắt dậy, đá tung cửa xe, nhìn xuống cô, quát bằng giọng trầm trầm hơi khàn: “Lên đi.”

Hoàng Tử Hà ngẩng lên nhìn y, bắt gặp gương mặt ngược sáng sa sầm, đôi mắt sắc lẹm như chim ưng, cô bỗng dưng phát hoảng, hơi thở cũng chậm hẳn lại, không dám đáp lời.

“Mọi người trong kinh đều biết Quỳ vương gia xưa nay lãnh đạm, mừng giận không lộ ra mặt, sao hôm nay lại nổi giận vì một tiểu hoạn quan?”

Sau lưng vang lên tiếng cười, tựa hồ không nhận ra không khí căng thẳng giữa hai người, Vương Uẩn tươi cười phe phẩy cây quạt Hoàng Tử Hà trả lần trước, bước tới khom lưng hành lễ: “Hôm nay là ngày đầu tiên bạn của Dương công công gia nhập Tả Kim Ngô Vệ của ty chức. Dương công công trọng tình trọng nghĩa, hơn nữa ở Tả Kim Ngô Vệ cũng có rất nhiều huynh đệ bái phục công công, nên ty chức bạo gan mời công công đến, vương gia không trách tội bọn ty chức đã ép công công uống thêm mấy chén chứ?”

Thấy Vương Uẩn đã đứng ra, Lý Thư Bạch cũng không tiện làm mất mặt y, chỉ nói: “Chuyện riêng của hắn ta không quản, nhưng hôm nay vụ án hắn phụ trách xảy ra vấn đề, phải lập tức đi giải quyết kẻo lỡ việc.”

Vương Uẩn cười bảo Hoàng Tử Hà: “Mau đi đi, khi nào phá xong án, các huynh đệ Tả Kim Ngô Vệ sẽ lại mời công công chén rượu mừng công.”

Lý Thư Bạch liếc Vương Uẩn một cái sắc lẹm rồi ra hiệu cho Hoàng Tử Hà đi lên trước ngồi cùng A Viễn.

Bấy giờ cô mới dám thở phào, đưa mắt ra ý chào Vương Uẩn rồi chạy lên trước, nhảy lên càng xe.

Vương Uẩn mỉm cười nhìn theo bóng cô. Chu Tử Tần từ phía sau hớt hải chạy ra hỏi: “Sùng Cổ đến phủ công chúa rồi à? Có phải xảy ra chuyện gì không? Sao không đem tôi theo?”

“Huynh theo làm gì? Ngày nào cũng lẽo đẽo đi theo Sùng Cổ còn chưa chán hay sao.” Y buông một câu rồi quay người đi vào.

Chu Tử Tần cứng họng: “Đi theo Sùng Cổ có gì không tốt? Theo Sùng Cổ ắt là có án mạng, có thi thể, tài nguyên dồi dào như thế, không theo Sùng Cổ thì theo ai?”

Vương Uẩn ngán ngẩm nhìn trời: “Đi đi.”

Giờ Mùi một khắc.

Người phủ Đồng Xương công chúa răm rắp đứng bên ngoài đợi lệnh, nhưng không một ai dám tiến vào, cả đám người đông như kiến mà không phát ra một tiếng động.

Lý Thư Bạch dẫn theo Hoàng Tử Hà bước lên đài. Trông thấy y đến, ai nấy thở phào nhẹ nhõm, nhất loạt hành lễ bái kiến y.

Thấy Thùy Châu đứng đầu đám người, vẻ mặt hoảng loạn, cặp mắt cứ đảo qua đảo lại, Hoàng Tử Hà liền hỏi: “Công chúa thế nào rồi?”

Thùy Châu vội cúi đầu đáp: “Cây trâm Cửu loan của công chúa… không thấy đâu nữa.”

Không thấy đâu nữa. Giấc mộng của Đồng Xương công chúa cuối cùng thành sự thực, cây trâm nàng trân quý nhất đã biến mất.

Hoàng Tử Hà nhíu mày, thấy Lý Thư Bạch đã bước vào gác, vội gật đầu với Thùy Châu rồi chạy theo.

Rèm trúc tương phi bện chỉ vàng buông rủ, bên trong gác hơi tối. Giữa căn phòng tranh tối tranh sáng, họ trông thấy Đồng Xương công chúa ngả người trên sập, Quách thục phi ngồi cạnh phe phẩy quạt cho nàng.

Đồng Xương công chúa vận một chiếc áo lụa trắng, mái tóc huyền buông xõa như một tấm lụa đen trải dài trên sập, trắng thật trắng, đen rất đen, bệnh tình khiến gương mặt công chúa càng toát lên vẻ mong manh quật cường, nhìn còn động lòng hơn lần trước.

Song nhìn kẻ ngồi trước mặt nàng, Hoàng Tử Hà bỗng thấy lồng ngực mình thắt lại, sực hiểu ra vì sao công chúa lại kiều mỵ đến thế.

Vũ Tuyên.

Ánh sáng bên trong chỉ lờ mờ, song không che giấu được vẻ thanh khiết của hắn. Vũ Tuyên ngồi ngay ngắn trước mặt Đồng Xương công chúa, dáng thẳng tắp mà ung dung. Phong thái hoàn mỹ, dung mạo thanh tú, toát lên một thứ hào quang nhàn nhạt lành lạnh, chẳng khác ánh trăng hạ huyền.

Hắn đang giảng Lễ ký cho Đồng Xương công chúa nghe: “Xưa kia Thuấn chế ngũ huyền cầm để ca bài Nam phong, bấy giờ đàn có năm âm Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ, năm dây lần lượt tượng trưng cho vua, quan, dân, sự, vật, về sau Chu Văn Vương, Chu Vũ Vương mỗi người thêm vào một dây, thành thất huyền cầm…”

Giọng hắn thanh thanh mà ôn hòa, như ngọc vỡ gõ vào băng mỏng, giữa ngày hè nóng nực thế này, tựa hồ có thể xua tan cái nóng. Không chỉ Đồng Xương công chúa, mà cả Quách thục phi cũng buông quạt xuống, chăm chú lắng nghe.

Lý Thư Bạch đứng trước cửa quan sát Vũ Tuyên. Hồi lâu, y lại quay sang nhìn Hoàng Tử Hà. Thấy cô điềm nhiên đứng cúi đầu, không tỏ vẻ gì, y mới yên lòng, bèn đằng hắng một tiếng.

Đồng Xương công chúa thấy y liền ngồi thẳng dậy, cúi đầu hành lễ: “Tứ hoàng thúc.”

Vũ Tuyên đứng dậy tránh sang một bên, không nói không rằng.

“Công chúa không được khỏe, cần gì đa lễ.” Lý Thư Bạch bảo Đồng Xương. Quách thục phi cũng đỡ vai con gái, nói: “Phiền Quỳ vương đích thân tới thăm thế này, Đồng Xương thật là may mắn.”

Song Đồng Xương công chúa chỉ nhìn Hoàng Tử Hà: “Dương công công, cây trâm Cửu loan của ta mất rồi! Ngươi… ngươi bảo phải làm sao đây?”

Rõ ràng nàng còn chưa nguôi kinh sợ, cứ ôm ngực thở dốc, ánh mắt đầy vẻ hoảng loạn.

Hoàng Tử Hà vội hỏi: “Chẳng hay trâm Cửu loan làm sao mà mất? Công chúa điện hạ có thể kể lại thật kỹ cho nô tài nghe chăng?”

Quách thục phi dù sao cũng là phi tần, không tiện ở cùng phòng với vương gia, đành thở dài ra hiệu cho Vũ Tuyên lui xuống. Vũ Tuyên im lặng gập sách lại, theo Quách thục phi ra ngoài.

Lý Thư Bạch ngồi xuống bên cạnh, tiện tay lật cuốn Chu Lễ đặt trên tủ đầu giường ra xem, thờ ơ nghe Đồng Xương công chúa thuật chuyện.

Cạnh cuốn Chu Lễ còn đặt một con chó nhỏ bằng sứ cao hai tấc. Vật dụng trong phủ công chúa hết thảy đều đẹp đẽ trau chuốt, song con chó này lại khác hẳn những món vàng bạc châu báu kia, ước chừng chỉ bằng nửa bàn tay, trông rất đáng yêu, rõ ràng là đồ mua ngoài phố, nhưng nhìn rất tinh xảo.

Lý Thư Bạch vừa ngắm nghía con chó, vừa lắng nghe Đồng Xương công chúa kể: “Mấy hôm trước ta mơ thấy giấc mơ đó, hôm qua công công lại nói sẽ lưu ý tới vụ này, nên sau khi công công ra về, ta đã giao trâm Cửu loan cho đám thị nữ, dặn chúng giữ gìn cẩn thận…”

Mới nói được mấy câu, tim Đồng Xương công chúa đã đập dồn, thở không ra hơi, nàng ngả người trên sập thở dốc, ôm ngực không thốt nổi nên lời.

Hoàng Tử Hà vội vỗ lưng cho nàng, rồi quay ra gọi to: “Người đâu!”

Có tiếng chân dồn dập, rồi Thùy Châu và Lạc Bội cùng mấy ả thị tỳ hầu hạ bên Đồng Xương hớt hải chạy vào, dìu đỡ để công chúa xuôi khí. Thùy Châu móc chiếc lọ nhỏ trong áo, đổ một viên thuốc ra cho công chúa uống, rồi luôn tay vuốt lưng cho nàng, đợi Đồng Xương xuôi xuôi mới dám thở phào nhẹ nhõm.

Trán Thùy Châu lấm tấm mồ hôi, song ả chẳng buồn lau mà đứng ngay dậy chạy đi rót trà bưng đến. Thấy Hoàng Tử Hà quan sát Thùy Châu, Đồng Xương công chúa yếu ớt trỏ ả nói khẽ: “Công công xem, Ngụy Hỷ Mẫn chết rồi, bấy nhiêu người quanh ta, chỉ được mình ả chu đáo nhất… Tiếc rằng sắp gả đi rồi, về sau ai mà được như thế nữa.”

Thùy Châu nghe vậy vội quỳ xuống thưa: “Chỉ cần công chúa nói một câu, Thùy Châu nguyện hầu hạ công chúa đến già, không bao giờ lìa xa.”

“Thôi đi, đến ta còn chẳng biết mình sống được tới ngày nào nữa là.” Nói đoạn, nàng quay lại nhìn Lý Thư Bạch và Hoàng Tử Hà, cười buồn bã: “Tứ thúc, đành để Lạc Bội dẫn hai người đi xem xét vậy, con mệt quá.”

“Công chúa cứ nghỉ ngơi đi, bệnh này đã mắc từ bé, kỵ nhất là nghĩ ngợi nhiều đấy.” Lý Thư Bạch đáp.

Thùy Châu quỳ trước giường công chúa, rút chìa khóa từ hộc tủ đầu giường giao cho Lạc Bội, rồi lê bằng đầu gối đến gần, lấy khăn lau mồ hôi cho công chúa.

Hoàng Tử Hà theo Lạc Bội bước ra rồi hỏi: “Trâm Cửu loan mất ở đâu?”

“Thưa, ở ngay trong kho.” Lạc Bội đáp, đoạn dẫn họ sang một gian nhà ngang ngay cạnh đấy, cửa khóa chặt. Trước cửa có hai hoạn quan đứng canh, thấy Lạc Bội đi đến bèn mở cửa để họ vào.

Đang mùa hè mà cửa sổ trong phòng đóng chặt, chẳng có ngọn gió nào, khiến gian phòng nóng hầm hập. Bên trong bày từng dãy giá đặt đủ thứ hòm xiểng rương tráp, hẳn là kho chứa đồ của công chúa.

Lạc Bội đi đến trước cái giá kê trong góc, ngồi xuống kéo một chiếc rương ở ngăn dưới cùng ra, rồi dùng chiếc chìa vừa được giao mở khóa.

Bên trong chỉ có một cái tráp vuông, mỗi bề chừng một thước, Lạc Bội bưng nó lên, mở ra.

Đáy tráp lót nhung tím, nhưng trên đó không có gì cả.

“Mấy hôm trước công chúa mơ dữ, nên càng chú trọng giữ trâm Cửu loan. Sau khi cho Dương công công xem, công chúa đích thân cất vào tráp này, rồi lại chứng kiến chúng nô tỳ đặt tráp vào rương, khóa lại, bỏ chìa khóa vào hộc tủ đầu giường, sau đó sai chúng nô tỳ khiêng rương vào kho.” Nhắc đến chuyện này, Lạc Bội vẫn vừa sợ hãi vừa lo lắng: “Rõ ràng đã cẩn thận hết mực, chiếc rương này cũng do bốn người, nô tỳ, Thùy Châu, Trụy Ngọc, Khuynh Bích cùng khiêng, cảm thấy góc dưới cùng này là ổn nhất, bèn đặt nó vào đó. Cất đặt xong xuôi, bọn nô tỳ cùng lui ra, kết quả sáng nay công chúa thấy thấp thỏm không yên, bèn lấy chìa khóa ra giao cho chúng nô tỳ, sai đem cây trâm Cửu loan đến. Nô tỳ cùng bọn Thùy Châu Trụy Ngọc đến đây, Thùy Châu mở rương lấy tráp ra xem, tức thì la lên kinh hãi, thì ra bên trong đã trống không!”

Hoàng Tử Hà và Lý Thư Bạch nghe kể đều trầm ngâm suy nghĩ.

“Các thị vệ tức thì ùa đến, bọn nô tỳ cùng mọi người ở gác Thê Vân đều bị soát người, sau đó họ còn lục soát trong nhà ngang, trong gác và chỗ ở của tất cả người trong phủ, nhưng chẳng thấy cây trâm đâu, cứ như… đã bị Phan thục phi… lấy đi vậy…” Lạc Bội sợ hãi ra mặt, “Chuyện này chẳng phải quá kỳ quái ư? Trâm Cửu loan nào có bé nhỏ gì, một cây trâm to như thế, lại cách một lớp tráp, một lớp rương, ai có thể âm thầm lấy đi được chứ?”

Hoàng Tử Hà và Lý Thư Bạch nhìn nhau, đều đọc được suy nghĩ tương tự trong mắt người kia – chuyện lần này rất giống lá bùa quỷ dị đó.

Chính là lá bùa từ Từ Châu, cũng được cất trong hai lần khóa kỹ.

Lẽ nào trên đời thực sự có cách lấy được đồ vật từ xa, qua mấy lớp rương hòm ư?

Lạc Bội không để ý ánh mắt hai người, sợ hãi kể tiếp: “Công chúa vừa được tin thì ngã bệnh. Vương gia cũng biết đấy, công chúa từ nhỏ đã không chịu được kinh hãi, không được quá mừng quá giận, bằng không sẽ lên cơn đau tim. Lần trước Ngụy Hỷ Mẫn chết, công chúa đã khó ở, lại thêm phò mã bị thương, công chúa được một phen hoảng sợ, tối qua còn… còn nghe được…”

Nói đến đây, Lạc Bội mới sực nhớ không nên để lộ chuyện này ra ngoài.

Thấy ả bắt đầu ấp úng, Hoàng Tử Hà liền hỏi thẳng: “Tối qua ư? Ý ngươi là chuyện Tôn ghẻ chết hả? Việc đó chúng ta biết cả rồi, ngươi khỏi cần giấu giếm.”

“Vâng… Chính là tin báo Tôn ghẻ đã chết… Hơn nữa, người ngoài phố đều nói, hắn ta bị oan hồn Tích Thúy hại chết.” Lạc Bội nơm nớp kể, “Nô tỳ cũng không biết tại sao, hôm ấy công chúa vừa trông thấy Tích Thúy thì sinh bệnh… Cô ta, ai bảo cô ta không tránh mặt ngay, để công chúa nổi giận, nói cô ta xúi quẩy rồi sai chúng nô tỳ đánh cho một trận đuổi đi, không cho bước chân vào phủ nữa…”

Hoàng Tử Hà hỏi: “Cô ta đụng phải công chúa đúng không?”

“Đâu có, bấy giờ chúng nô tỳ đều ở đó, cô ta tham kiến công chúa, song công chúa vừa thấy cô ta thì đột ngột lên cơn đau tim, phải dựa vào người Thùy Châu.” Lạc Bội hồi tưởng lại tình hình khi ấy, cũng không giấu được vẻ cảm thương, “Công chúa chỉ sai người đánh đuổi cô ta đi, nào ngờ Ngụy Hỷ Mẫn lại làm ra chuyện như thế…”

Hoàng Tử Hà nhíu mày. Vi phò mã lại kể rằng, vì Tích Thúy giẫm phải gấu váy công chúa, nên công chúa nổi giận…

Rốt cuộc lời của ai đáng tin hơn?

Lạc Bội vẫn thao thao kể: “Thực ra chuyện của cô ta chẳng liên quan gì tới công chúa… Nhưng dù sao hai người có liên quan đến cô ả đều chết không rõ nguyên nhân, còn bị đồn đại là trời phạt, có người nói là oan hồn cô ta đòi mạng… Nô tỳ nghĩ, có lẽ công chúa cũng lo lắng không yên, lại thêm cây trâm Cửu loan biến mất, khiến công chúa hoảng loạn, tái phát bệnh cũ. Mà lần này bệnh đến như núi đổ, thục phi đã dẫn tới mấy vị thái y trong cung song vẫn chẳng thấy khá lên, giờ bọn người dưới trong phủ đang vô cùng lo sợ…”
SPONSORED / ĐƯỢC TÀI TRỢ
Hoàng Tử Hà lại hỏi: “Đã điều tra những kẻ ra vào nhà kho hôm qua chưa?”

“Hôm qua sau khi đưa trâm Cửu loan vào đó thì không ai ra vào nữa.”

“Thế đã tra xét hai hoạn quan canh cửa chưa?”

“Thưa rồi, họ bị khám người và soát phòng trước nhất, nhưng chẳng thu gì hết. Tuy nói chúng có thể thông đồng với nhau để ăn trộm, nhưng gần đây công chúa lo lắng đến mất ngủ, đã phái thêm người trông giữ, hai tên hoạn quan canh nhà ngang đó lúc nào cũng ở trong tầm mắt của các thị vệ, hoạn quan và thị nữ, quả không có cơ hội lẻn vào.”

Hoàng Tử Hà thoáng trầm tư, rồi ngồi xuống quan sát chiếc rương.

Đó là một chiếc rương bằng gỗ nhãn thông thường, ngoài quét sơn đỏ, trên vẽ hoa văn cát tường bằng sơn đen. Bên trong là gỗ nguyên khối, cô gõ khắp các ngóc ngách nhưng chẳng thấy có gì khác lạ.

Sau đó cô lại cầm đến cái tráp, mở ra xem xét một lượt. Tráp làm bằng gỗ đàn hương, điêu khắc tinh xảo, chạm hoa cỏ bốn mùa, thoạt nhìn đã biết vật cất bên trong không phải tầm thường. Xem kỹ khắp trong ngoài, cô cũng chẳng thấy có gì lạ.

“Chìa khóa thì sao? Công chúa luôn đem theo bên mình ư?”

“Thưa vâng, lúc nào cũng đặt trong hộc tủ đầu giường công chúa. Công chúa mấy hôm nay ngủ không yên giấc nên chúng nô tỳ phải chầu chực bên ngoài điện hầu hạ, từ nửa đêm đến gần sáng luôn có mấy người trông nom. Nếu có người ra vào phòng công chúa, nhất định phải ngang qua chỗ bọn nô tỳ.”

“Ngoài cửa sổ thì sao?” Hoàng Tử Hà lại hỏi.

“Công công xem, gác Thê Vân ở trên đài cao, cửa sổ phòng công chúa và nhà kho đều cao đến mấy trượng, ai có thể bò lên đài cao, trèo qua cửa sổ vào ăn cắp chứ?”

Hoàng Tử Hà nghe nói liền đi đến bên cửa sổ, mở cửa nhìn ra.

Đứng trên đài cao chọc trời, cả phủ công chúa đều thu vào tầm mắt, thậm chí còn có thể trông thấy nửa phường Vĩnh Gia đằng xa. Bên dưới là biển hoa hợp hoan màu hồng phấn, chỗ đậm chỗ nhạt, tầng tầng lớp lớp trải dài dập dờn như sóng, còn gác Thê Vân chẳng khác nào ngọn núi tiên nổi lên giữa những đợt sóng hồng, cao vút chạm mây, nguy nga lộng lẫy.

Lối vào duy nhất là những bậc thềm quanh co bên ngoài, đi lên thân đài cao theo hình chữ chi.

Lý Thư Bạch hỏi: “Đồng Xương yếu ớt từ bé, sao lại ở trên đài cao thế này? Đi lên chẳng phải mệt lắm ư?”

“Bẩm gia, công chúa sợ nóng, lại sợ cả lạnh, ở đây mùa hè gió to, mùa đông thì lúc nào cũng có ánh nắng, hơn nữa lại cách xa mặt đất, đỡ bị ẩm ướt, thái y cho rằng có lợi cho thể trạng công chúa. Nếu công chúa mệt thì có thể ngồi kiệu lên mà.”

Hoàng Tử Hà gật đầu, ra ý bảo Lạc Bội cất đặt mọi thứ lại như cũ rồi cả ba bước ra ngoài.

Lý Thư Bạch đứng trên khoảnh sân trống trước gác Thê Văn nhìn xuống dưới, còn Hoàng Tử Hà vào thăm Đồng Xương công chúa. Nào ngờ đi vào chỉ thấy nàng đã ngủ trên giường.

Màn lụa dày buông rủ, treo cả nút thắt như ý tết bằng chỉ vàng tơ bạc, bốn miếng chặn chiếu* bằng ngọc hòa điền chạm hình Phi Thiên nhạc kỹ(**) đặt ở bốn góc chiếu ngà.

* Thời cổ dùng miếng chặn chiếu để chèn mép chiếu khỏi quăn, đồng thời cũng có tác dụng trừ tà.

(**) Phi Thiên nhạc kỹ là hợp thể của nhạc thần Càn Thát Bà và ca thần Khẩn Na La, hai trong tám loài “phi nhân” (không phải người) trong Phật giáo, được gọi chung là Thiên Long bát bộ. Tám loài phi nhân đó là: Thiên thần, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già. Tám loài này do Thiên thần và Rồng đứng đầu nên gọi là “Thiên Long bát bộ”.

Giữa cung vàng điện ngọc cẩm tú phồn hoa ấy, lại là một nữ tử đang cuộn tròn người thiêm thiếp, sắc mặt tái nhợt, hơi thở yếu ớt.

Thùy Châu đứng dậy hành lễ với Hoàng Tử Hà, dẫn cô ra gian ngoài rồi nói nhỏ: “Đêm qua công chúa mất ngủ nên hôm nay rất mệt. Trước lúc ngủ công chúa còn căn dặn, công công cứ thoải mái tra xét trong phủ, nhất định phải tìm cho được cây trâm…”

Nói đến đây, Thùy Châu cụp mắt xuống, rơm rớm: “Công chúa cả nghĩ quá, dù trâm Cửu loan là bảo vật hiếm thấy, thì cũng chỉ là một cây trâm mà thôi. Song chúng nô tỳ khuyên nhủ thế nào, công chúa cũng khăng khăng cho rằng cây trâm ấy có liên quan đến sự vui buồn của mình, còn nói Phan thục phi đã lấy trâm đi, chắc… chắc mình cũng sắp bị bà ta đưa đi…”

Hoàng Tử Hà gật đầu: “Ta biết rồi. Mấy ngày này các vị phải để ý cẩn thận, dẫu sao…”

Dẫu sao, cô vẫn nhớ những hình vẽ trong bức họa ở nhà Trương Hàng Anh, trừ hai hình đã ứng nghiệm, chỉ còn lại hình thứ ba.

Hoàng đế rất sủng ái Đồng Xương công chúa, nếu nàng trở thành nạn nhân bị chim loan bổ xuống mổ chết như hình vẽ cuối cùng, e rằng cả Trường An sẽ dậy sóng, khó mà dẹp yên được.

Thùy Châu quay trở vào trông nom công chúa, còn Hoàng Tử Hà đi đến bên cạnh Lý Thư Bạch, phát hiện y đang nhìn chằm chằm vào rừng hợp hoan.

Cô chưa kịp lên tiếng thì Lý Thư Bạch đã quay lưng đi xuống.

Hoàng Tử Hà liếc mắt trông theo, chỉ thấy Vũ Tuyên đứng bất động dưới tán hợp hoan, tay nắm một thứ gì đó. Có điều khoảng cách quá xa nên cô không trông rõ nét mặt hắn, cũng không thấy được thứ hắn cầm trong tay.

Thấy Lý Thư Bạch đã bước xuống cầu thang, Hoàng Tử Hà vội ép mình quay đầu lại, theo y xuống khỏi gác Thê Vân.

Hai người theo các bậc thang đi xuống, thỉnh thoảng ở chỗ ngoặt, cô nhác thấy gương mặt nhìn nghiêng của Lý Thư Bạch, nghiêm nghị mà đăm chiêu.

Đương không biết thái độ này do đâu mà có, lại ngập ngừng không dám hỏi thì Lý Thư Bạch đột ngột lên tiếng: “Xem ra không có cách nào đột nhập vào kho trộm đồ, rồi mở được rương lẫn tráp, cuỗm món đồ kia đi nguyên vẹn nhỉ?”

Hoàng Tử Hà gật đầu: “Nhất định có cách, chỉ là chúng ta chưa biết đấy thôi.”

“Cách đó có lẽ cũng hữu dụng với lá bùa của ta?” Lý Thư Bạch nói đoạn dừng bước, quay đầu nhìn cô.

Hoàng Tử Hà lặng lẽ gật đầu: “Có hữu dụng không thì chưa biết, song tôi tin rằng, bất luận lá bùa của vương gia, kẻ gặp báo ứng bị trời giáng sấm sét thiêu chết, hay kẻ chết trong căn phòng như lồng sắt, thì mỗi câu chuyện kỳ quái đều có mánh khóe riêng của nó, chỉ là chúng ta chưa biết mà thôi.”

Ánh mắt y nhìn xoáy vào cô, gió lồng lộng lướt qua người họ. Quan sát cô hồi lâu, y mới nhận xét: “Vụ này ngươi phản ứng hơi lạ.”

Hoàng Tử Hà ngạc nhiên nhìn Lý Thư Bạch, không hiểu y ám chỉ cái gì.

“Ví như cây trâm Cửu loan của Đồng Xương công chúa bị mất cắp, vậy mà hình như ngươi chỉ chăm chắm lo cho an nguy của công chúa, việc gì khiến ngươi cảm thấy linh cảm của Đồng Xương là đúng, cây trâm ấy sẽ liên quan tới tính mạng công chúa hả?”

Thấy y chỉ hỏi tới việc này, Hoàng Tử Hà thầm thở phào nhẹ nhõm, vội đáp: “Chuyện này nô tài đang định hỏi ý gia xem có cần tới bái phỏng Ngạc vương không?”

Lý Thư Bạch nhướng mày: “Liên quan gì đến Ngạc vương?”

“Lần trước sau trận kích cúc, chính là bận Vi phò mã bị thương ấy, Chiêu vương đột nhiên đòi ăn bánh cổ lâu, nên mọi người kéo cả đến nhà Trương Hàng Anh, trông thấy giữa nhà huynh ấy treo một bức họa, nghe nói là năm xưa phụ thân Trương Hàng Anh vào cung chẩn mạch cho tiên hoàng, được ngự ban. Bấy giờ Ngạc vương vừa nhác thấy bức họa, vẻ mặt liền trở nên rất khó hiểu.”

Lý Thư Bạch thoáng trầm tư, lại hỏi: “Bức tranh đó thì liên quan gì đến vụ án này?”

“Trên bức họa nghe nói là ngự bút đó, tổng cộng có ba hình vẽ phân bố không đều, hình thứ nhất là một nam nhân bị sét đánh chết cháy; hình thứ hai là một người chết trong lồng sắt; còn hình thứ ba, là một người bị con chim lớn trên trời lao xuống mổ chết.”

Lý Thư Bạch nhíu mày: “Bởi vậy, căn cứ vào cái chết của hai người trước đây, ngươi cho rằng, Đồng Xương công chúa có thể sẽ là… người thứ ba?”

“Thưa vâng. Bấy giờ nô tài có xem nhưng không để ý, song giờ nghĩ lại, có lẽ bức họa ấy liên quan mật thiết tới vụ án này.”

Lý Thư Bạch quay người tiếp tục đi xuống, miệng hỏi: “Bức họa đó là ngự bút thực ư?”

“Không biết. Song xem chất liệu thì là giấy gai vàng ở Thục, mịn mà bền, nhìn bề ngoài quả là thượng phẩm, song nô tài ít tiếp xúc với đồ vật trong cung nên không dám khẳng định.”

“Trong cung thường dùng giấy gai vàng của Thục để viết chữ, còn như vẽ tranh thì tiên hoàng lại ưa giấy Tuyên hoặc gai trắng hơn, sao lại dùng giấy gai vàng nhỉ?”

“Hơn nữa bức họa lại rất nguệch ngoạc, trông cứ như ba mảng mực đen, ai mà biết được là do ai vẽ? Huống hồ hình như người vẽ cũng tiện tay nguệch chơi mà thôi, cái gọi là ba kiểu chết, đều do mấy người bọn tôi tưởng tượng và phỏng đoán ra cả.”

“Ngươi đi làm việc của mình đi, ta qua chỗ phò mã, tiện thể bảo người Đại Lý Tự đi lấy bức họa ấy về, xem có phải ngự bút của phụ hoàng không.”

Đoạn Lý Thư Bạch xoay người toan đi. Chợt nghe thấy tiếng hoàng oanh ríu rít bên tai, véo von êm dịu như châu như ngọc, y hơi ngẩng đầu nhìn lên cành cây, bắt gặp hai con hoàng oanh đang hướng về phía nhau mà hót, thỉnh thoảng còn cọ cọ cánh vào nhau. Những đóa hợp hoan rung rinh đầu cành cũng lả tả rơi xuống như nhung như lụa, vô cùng diễm lệ.

Ánh mắt y dõi theo hoa rơi, dừng ở mặt cô. Một cánh hoa vương vào mai tóc cô, sắc hồng tươi tắn càng tôn lên gương mặt nõn nà, nhan sắc sinh động, khiến ánh mắt y bất giác sững lại.

Thấy cô giơ tay gỡ đóa hợp hoan ra, vẻ đầy tâm sự, y liền hỏi: “Đang nghĩ gì thế?”

Hoàng Tử Hà trầm ngâm: “Ba vụ án này đều có liên quan hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp tới phủ công chúa. Giờ đây hai người đã tử vong, phò mã lại bị thương, nhưng cho đến giờ, về cơ bản vẫn chưa có manh mối gì… Tôi lo rằng nếu không sớm phá xong vụ này, lỡ như công chúa xảy ra chuyện, e rằng khó mà thu xếp được cục diện…”

Lý Thư Bạch thản nhiên nói: “Ta biết rồi. Ngươi đừng nôn nóng, nếu không ổn, sẽ có Thôi Thuần Trạm dọn dẹp tàn cục giúp ngươi.”

Hoàng Tử Hà gật đầu, lòng chợt thương cảm cho Thôi thiếu khanh.
 

Cam Miên

đậu phụ của hòa thượng
Thành viên BQT
Mod - Sưu Tầm
Mod - Công Viên Xanh
Sưu tầm
Tham gia
13/4/19
Bài viết
1,447
Điểm cảm xúc
980
Điểm
113
Hoàng Tử Hà được Lạc Bội chỉ đường, tới nhà bếp tìm Xương Bồ.

Xương Bồ lại đang chọn món cho ngày mai, luôn miệng căn dặn mấy bà nấu bếp và chạy vặt: “Công chúa không được khỏe, phải ăn thanh đạm thôi, bớt gà vịt thịt cá đi, nhất định phải có bốn thức bổ máu ích khí, hôm trước đã bảo công chúa thích cẩu kỷ kia mà, sao không thấy các người mua?”

Đám chạy vặt vâng dạ rối rít, có kẻ rầu rĩ phân trần: “Cẩu kỷ phải đúng mùa mới ngon, giờ quá mùa rồi, trong chốc lát biết tìm đâu ra?”

Xương Bồ thở dài đập bàn nói: “Ta không biết, công chúa đòi ăn, nếu các người không mua được, sáng mai ta sẽ lột da đầu từng người một.”

Lạc Bội thập thò bên ngoài gọi với vào: “Xương Bồ cô cô.”

Xương Bồ quay lại thấy bọn họ, mới xua tay giải tán đám người kia, đoạn đứng dậy miễn cưỡng cười bước ra: “Dương công công, có việc tìm tôi ư?”

Hoàng Tử Hà bước vào ngồi đối diện với Xương Bồ, nói: “Lần trước tới hỏi han cô cô mấy chuyện, giờ vẫn còn vài điểm nghi vấn, mong cô cô giải thích cho.”

Xương Bồ sầm mặt: “Vẫn là chuyện Ngụy Hỷ Mẫn đấy ư? Quả thật tôi cãi vã với y đúng một lần, trong phủ cũng không chỉ mình tôi xích mích với y, tháng trước Trụy Ngọc chẳng phải gây gổ một trận ầm ĩ đấy ư…”

Hoàng Tử Hà cười: “Không không, tôi không định hỏi việc đó.”

“Vậy… chẳng hay công công muốn hỏi gì?”

Hoàng Tử Hà nhìn thẳng Xương Bồ: “Xin hỏi, cô cô có thể kể tường tận cho tôi lai lịch chỗ linh lăng hương lần trước hay không?”

Xương Bồ ngạc nhiên hỏi: “Liên quan gì… đến linh lăng hương?”

“Chuyện này tôi không tiện tiết lộ, tôi cũng chỉ phụng lệnh Thôi thiếu khanh của Đại Lý Tự đến hỏi cô cô thôi.” Hoàng Tử Hà đường hoàng đáp.

Xương Bồ cúi đầu: “Là… là một người ngoài phủ cho tôi.”

“Không biết người ấy là ai?” Hoàng Tử Hà gặng.

Xương Bồ cắn môi, xong vẫn đáp: “Là ông chủ tiệm ngựa Tiền Ký, Tiền Quan Sách.”

Hoàng Tử Hà không ngờ ông chủ Tiền Quan Sách lùn mập kia lại có liên quan tới một người nấu bếp trong phủ công chúa, tức thì nhíu mày lại.

Ngụy Hỷ Mẫn đòi linh lăng hương, dẫn đến cãi vã với Xương Bồ ở nhà bếp; trong phòng Tôn ghẻ, Vương Uẩn ngửi thấy mùi này; mà Tiền Quan Sách là người phá cửa xông vào nhà Tôn ghẻ, đồng thời cũng là kẻ bán con ngựa đen khiến phò mã bị thương…

Thứ gì nối liền tất cả những chuyện này? Manh mối chưa hiển lộ trong đó, rốt cuộc là gì đây?

Cô lại hỏi: “Xương Bồ cô cô, thứ cho tôi tọc mạch, cô cô là người cai quản nhà bếp phủ công chúa còn Tiền Quan Sách lại là chủ tiệm ngựa, có vẻ không dính líu gì tới nhau…”

“Đúng thế… Chúng tôi cũng mới quen đầu năm nay.” Xương Bồ cúi gằm mặt, đầu ngón tay vẽ vẽ lên bàn, vẻ lúng túng, “Bấy giờ ông ta chỉ huy một đám thợ thuyền tu sửa đường nước trong phủ công chúa, vì đường nước trong bếp là nhiều nhất, nên tôi và ông ta thường bàn bạc về phân bổ đường nước, nhờ thế mà quen nhau. Ông ta… béo thì có béo, lùn thì có lùn, nhưng tính tình rất tốt. Trong lúc họ đang sửa chữa, có lần tôi không cẩn thận rơi xuống hố vữa, chính là ông ta cõng tôi ra, còn múc nước gột sạch giày cho tôi rồi đưa trả lại…”

Nhìn gương mặt ửng hồng của Xương Bồ, Hoàng Tử Hà bất đắc dĩ phải nhắc nhở: “Ông chủ Tiền đã ngần ấy tuổi, hẳn cũng có vợ con rồi.”

“Đúng thế, trong nhà ông ta có vợ có thiếp, còn có ba đứa con trai.”

Hoàng Tử Hà chẳng nói thêm gì nữa, chỉ hỏi: “Ông chủ Tiền tặng cô cô linh lăng hương, sau đó theo quy củ trong phủ, cô cô trình lên công chúa, nào ngờ công chúa lại ban cho Ngụy Hỷ Mẫn phải không?”

“Đúng vậy, kết quả tên Ngụy Hỷ Mẫn đó tham lam vô độ, tôi chỉ có chừng ấy, xong hắn khăng khăng cho rằng tôi vẫn còn một ít, bèn chạy đến đòi. Tôi bảo không có, hắn liền nằng nặc đòi địa chỉ của ông chủ Tiền, nói… nói rằng đòi tình nhân của tôi thì cũng thế!” Kể đến đây, Xương Bồ đỏ mặt tía tai vì tức giận, “Rõ là nói nhăng nói cuội! Người nào không biết lại nghĩ giữa tôi và ông chủ Tiền có chuyện gì xấu xa!”

“Xương Bồ cô cô bớt nóng, thực ra… tôi cảm thấy suy đoán của Ngụy công công cũng có lý.” Hoàng Tử Hà giải thích, “Linh lăng hương rất quý, ai mà biết ông chủ Tiền lại rộng rãi, đem tặng cô cô thứ quý giá như thế chứ.”

“Nhảm nhí, tôi giúp ông ta bao nhiêu lần, mạo hiểm…” Nói đến đó, Xương Bồ bỗng ngưng bặt, như vừa nhận ra mình lỡ miệng, xong lời đã thốt ra không thu lại được, đành ủ rũ ngồi im.

Hoàng Tử Hà nhìn vào mắt Xương Bồ hồi lâu, chẳng nói năng gì.

Trước cái nhìn chăm chú của cô, Xương Bồ thở dài, bất đắc dĩ đành tiếp tục, “Có lần ông chủ Tiền kể với tôi, trước đây ông ta có một đứa con gái, nếu còn sống đến giờ thì cũng phải mười bảy mười tám rồi. Tiếc rằng năm ấy ông ta dẫn vợ con chạy nạn đến ngoại ô thành Trường An, nghèo khổ túng quẫn quá, chẳng có cách nào, đành bán con gái lớn mới gần bảy tuổi lấy năm quan tiền. Nhờ năm quan ấy cả nhà ông ta mới sống được, ông ta cũng dựa vào bán cỏ khô mà dựng nghiệp, về sau lại gặp quý nhân, ra quan ngoại móc nối với mấy trại ngựa lớn, làm ăn càng ngày càng phát đạt, ba đứa con trai cũng nối nhau trưởng thành, có điều… ông ta nói đời này nợ con gái là nhiều nhất, chỉ e không tìm lại được nó nữa.”

Hoàng Tử Hà gật đầu hỏi: “Việc này nên đến bộ Hộ hỏi han mới phải, sao lại tìm cô cô?”

“Năm xưa người mua con gái ông ta là một công công, nghe nói là người trong cung đi tìm mua cung nữ. Ông ta đoán có lẽ con gái mình không ở trong cung, mà ở trong phủ đệ các vương. Tiếc rằng ông ta chỉ là thương nhân, sao có thể ra vào cung điện hay vương phủ? Còn tôi dẫu gì cũng là người của phủ công chúa, cũng có tiếng nói với mấy thị nữ hầu cận bên công chúa, thỉnh thoảng họ vào cung hoặc tới nhà các vương làm khách, biết đâu lại nghe ngóng được gì đó. Tuy hy vọng mong manh, nhưng dù sao cũng là một con đường.”

Hoàng Tử Hà cười hỏi: “Cô cô nhiệt tình giúp người, hẳn đã đi nghe ngóng giúp ông ta phải không?”

Nghe xong, Xương Bồ chợt lộ vẻ ngượng nghịu rất lạ: “Việc này… cũng thực trùng hợp, đứa con gái mà ông ta muốn tìm… lại ở ngay trong phủ công chúa.”

Hoàng Tử Hà không khỏi ngạc nhiên. Cung nữ thị nữ trong cung, trong phủ công chúa cũng như phủ đệ các vương nhiều như lông trâu, sơ sơ lên đến vạn người, sao lại trùng hợp đến thế, vừa nhờ người của phủ công chúa tìm, thì người lại ở ngay trong phủ, quả là quá mức trùng hợp.

“Có lẽ đây cũng là do… ông ta thành tâm thành ý, số mệnh đã định, nên mới trùng hợp như vậy.” Xương Bồ giải thích.

“Vậy con gái ông ta là ai?”

Vẻ mặt Xương Bồ càng thêm kỳ lạ, đảo mắt hồi lâu mới đáp: “Tôi nghĩ có lẽ là… Thùy Châu.”

“Thùy Châu ư? Làm sao mà biết được?”

“Ừm… Thùy Châu năm nay mười bảy tuổi, năm bảy tuổi bị bán vào cung, nghe nói… trong nhà cũng có hai em trai, hơn nữa trên cổ tay còn có… vết bớt giống hệt như ông chủ Tiền miêu tả.”

“Hai em trai ư?”

“Đúng vậy, con út của ông chủ Tiền, khi gia đình phát đạt mới chào đời.”

“Đúng là quá trùng hợp, chắc ông chủ Tiền vui lắm.”

“Phải phải, việc này quả là trời ban cho, đến tôi cũng mừng thay cho họ. Nhưng xin Dương công công hẵng giữ kín cho, nếu không cần thiết thì đừng tiết lộ với ai cả.” Xương Bồ thở dài, “Dù sao vẫn là tôi lén nhận tiền của người ta, giúp đỡ người khác sau lưng công chúa, theo lệ sẽ bị đuổi ra khỏi phủ đấy.”

“Cô cô yên tâm, việc này cũng là hành thiện tích đức mà. Chỉ cần không liên quan tới vụ án, tôi sẽ giữ kín như bưng!” Hoàng Tử Hà bảo đảm.

Bấy giờ Xương Bồ mới gật đầu, xong nét mặt vẫn đầy vẻ ưu tư.

Hoàng Tử Hà ngẫm nghĩ giây lát rồi hỏi: “Cô cô là người từ nhà phò mã sang ư?”

Xương Bồ vội gạt đi: “Ôi dào, giờ chúng ta đều là người phủ công chúa rồi, còn phân ra bên này bên kia gì nữa.”

“Tôi không có ý ấy.” Hoàng Tử Hà cười nói: “Tôi chỉ thấy tên của cô cô thực thanh nhã, lại nghe nói trong phủ còn có Đậu Khấu, Diên Vỹ… nên đoán chắc các vị là chị em.”

“Đúng đúng, mấy người chúng tôi tuổi tác xấp xỉ nhau, năm xưa phò mã còn nhỏ tuổi, đều làm việc trong nhà phò mã. Tôi được phu nhân xem trọng, cho quản nhà bếp, Diên Vỹ quản việc sinh hoạt, Ngọc Trúc chăm lo sách vở bút mực… Bấy giờ mấy chị em rất thân thiết.”

“Thế còn Đậu Khấu?”

Nhắc đến Đậu Khấu, Xương Bồ rầu rầu thở dài: “Đậu Khấu không mấy thân thiết với chúng tôi, cô ấy là người hầu hạ bên cạnh phò mã sớm nhất, năm ấy phò mã ba bốn tuổi, còn cô ấy mười ba, năm nay cũng phải… ba mươi ba rồi.”

“Giờ Đậu Khấu ở đâu?”

“Tháng trước, tại vườn Tri Cẩm, Đậu Khấu sẩy chân rơi xuống nước… chết đuối.”

Hoàng Tử Hà nghĩ ngay đến lời Thùy Châu từng nói, nghe đồn trong vườn Tri Cẩm có ma. Cô liền hỏi dò: “Nghe nói vườn Tri Cẩm bị công chúa niêm phong rồi ư?”

“Đúng thế… Nghe nói sau khi Đậu Khấu chết, nửa đêm trong vườn Tri Cẩm thường có người khóc lóc, đạo sĩ làm phép trừ tà cũng vô dụng, nên công chúa cho người khóa lại.”

“Tiếng khóc của nam hay nữ?” Hoàng Tử Hà hỏi.

“Tôi không biết nữa, là công chúa nói có tiếng khóc, công chúa đã nói chẳng lẽ lại sai ư?”

Hoàng Tử Hà gật đầu, lại hỏi: “Trước đây Đậu Khấu ở đó à?”

Xương Bồ lắc đầu: “Không, cô ấy ở vườn Túc Vi. Khi phò mã thành hôn, lão gia phu nhân cũng định tìm một nhà tử tế gả Đậu Khấu, xong phò mã khăng khăng nói từ nhỏ được cô ấy hầu hạ đã quen, nhất định đòi đưa cô ấy theo. Về sau, Đậu Khấu cai quản cả vườn Túc Vi, nơi ở của phò mã, tôi ở nhà bếp thì tối mắt tối mũi, Diên Vỹ có nhàn nhã hơn, xong dưới tay còn hơn mười cô thợ thêu, ngày ngày phải coi sóc việc thêu thùa, Ngọc Trúc cũng bận bịu chăm lo thư phòng. Bốn người chúng tôi ai lo việc nấy, thỉnh thoảng chạm mặt nhau chỉ hàn huyên được mấy câu, sau đó chợt nghe tin Đậu Khấu qua đời, tôi rất xót xa, còn tìm bọn Diên Vỹ hỏi han xong họ chẳng biết gì cả. Nhưng người trong phủ lại đồn rằng, có lẽ Đậu Khấu bị ma quỷ trong vườn Tri Cẩm mê hoặc, đưa lối dẫn đường nên mới rơi xuống giếng. Bằng không vườn Túc Vi cách vườn Tri Cẩm khá xa, sao cô ấy lại chết tại đó được?”

Hoàng Tử Hà trầm ngâm: “Nói vậy thì… phò mã rất quý mến Đậu Khấu ư?”

“Phải rồi, Đậu Khấu lớn hơn phò mã mười tuổi, lại chăm lo cho phò mã từ nhỏ, nên phò mã xưa nay rất kính trọng cô ấy. Có lúc phu nhân cũng đùa rằng, Đậu Khấu ở bên phò mã nhiều năm như thế, còn thân thiết hơn cả mẹ ruột là mình.”

Hoàng Tử Hà gật đầu: “Ra thế.”

Thấy cô không hỏi gì thêm nữa, Xương Bồ liền giở sổ sách ra bắt đầu đối chiếu các khoản thu chi.

Để ý thấy ngón tay gảy bàn phím của Xương Bồ hơi chậm, Hoàng Tử Hà biết Xương Bồ không thoải mái vì có mình ở đây, bèn đứng dậy chào: “Đã vậy tôi phải cáo từ cô cô thôi.”

“Công công đi thong thả.” Xương Bồ thở phào, còn thuận miệng mời mọc: “Hay là ở lại dùng cơm tối đã, để tôi bảo người chuẩn bị vài món công công thích.”

“Thôi thôi, Quỳ vương gia đang đợi tôi ở chỗ phò mã.”

Hoa tử vi trong vườn Túc Vi vẫn đang nở rộ. Dưới ánh nắng chói chang, từng chùm hoa càng rực lên sắc hè.

Phò mã Vi Bảo Hoành đang kể khổ với Lý Thư Bạch: “Vương gia cũng biết đấy, không phải con không đi săn sóc công chúa, mà là vì con còn ốm đau nhếch nhác, công chúa không triệu con đến, con làm sao đến được. Con nguyện bưng trà rót nước cho công chúa, nhưng công chúa lại thích nghe Vũ học chính ở Quốc Tử Giám giảng Chu Lễ hơn kia!”

Nói đến đây, thấy hoạn quan dẫn Hoàng Tử Hà đến, hắn cười ngượng ngập, giơ tay gọi cô: “Dương công công.”

“Tham kiến phò mã.” Cô hành lễ, đoạn đứng ra sau Lý Thư Bạch.

Lý Thư Bạch thản nhiên gạt chủ đề vừa rồi đi, chỉ nói: “Gần đây trong phủ công chúa hình như có rất nhiều chuyện lạ.”

“Đúng thế… Ngụy Hỷ Mẫn chết, con đánh kích cúc cũng xảy ra chuyện, giờ thì… cây trâm Cửu loan công chúa yêu thích nhất lại biến mất một cách lạ lùng.” Vi Bảo Hoành bóp trán thở dài, “Chẳng biết có phải là trong phủ có thứ gì đó tác oai tác quái như đám đạo sĩ thối kia nói không…”

Lý Thư Bạch hỏi: “Thứ gì cơ?”

“Chính là… chuyện ở vườn Tri Cẩm đó.” Hắn quay sang hỏi Hoàng Tử Hà, “Dương công công có phải cũng nghe được lời đồn trong phủ rồi không?”

Hoàng Tử Hà gật đầu: “Có phải phò mã muốn nói tới việc Đậu Khấu, tỳ nữ hầu cận bên mình vô cớ chết đuối trong vườn Tri Cẩm không?”

“Ừm…” Hắn lẳng lặng gật đầu, ánh mắt thoáng vẻ bi ai rất khó thấy, xong đã kịp quay ngay đầu ra ngoài song, nhìn những chùm tử vi nở rộ dưới nắng, giọng vẫn đều đều bình thản: “Từ đó đêm đêm trong vườn Tri Cẩm cứ nghe tiếng ma khóc nỉ non, nên phải đóng cửa vườn, xong dường như cũng từ đó, trong phủ thường xảy ra những việc kỳ quái… Ví như công chúa mơ thấy cây trâm Cửu loan bị mất, kết quả nó thực sự không cánh mà bay, công công bảo, một thứ quý giá nhường ấy, lại được bấy nhiêu người trông giữ nghiêm ngặt, thế mà vẫn biến mất, chẳng phải quái lạ lắm ư?”

Hoàng Tử Hà gật đầu, “Quả có thế, nhìn từ góc độ nào cũng rất vô lý.”

“Bởi vậy… ta cũng nghĩ, chẳng hiểu có phải oan hồn Đậu Khấu tác oai tác quái không…” Vi Bảo Hoành trầm ngâm nói thêm, “Có lẽ chỉ ma quỷ mới có thể lấy cây trâm đi được.”

“Đậu Khấu hầu hạ phò mã gần hai mươi năm, nếu biết được sau khi chết đi lại bị phò mã coi là ma quái, chẳng phải sẽ đau lòng lắm ư?” Hoàng Tử Hà hỏi thẳng.

Vi Bảo Hoành ngẩn ra, rồi đáp khẽ: “Có lẽ… nếu cô ấy chết quá oan uổng, quá đau đớn…”

Hoàng Tử Hà cụp mắt xuống, lặng thinh.

Lý Thư Bạch lại nói: “Tạm gác mấy chuyện ma quái sang một bên đã, ta muốn hỏi phò mã một việc, giờ Ngọ hôm qua, phò mã ở đâu?”

Vi Bảo Hoành thoáng sững sờ: “Giờ Ngọ, con đang ở phường Đại Ninh.”

“Chẳng hay phò mã đến phường Đại Ninh có việc gì?”

“Trụ trì Ngộ Nhân ở chùa Hưng Đường phường Đại Ninh là bậc đại đức. Gần đây trong phủ xảy ra chuyện, nên con đi mời ông ta tới tụng kinh siêu độ.” Hắn hồi tưởng lại, rồi kể rành rọt, “Sau khi hẹn trụ trì ngày giờ, con đi dạo loanh quanh trong chùa mấy vòng, không biết là đã muộn. Lúc rời chùa mới nghe nói trong phường xảy ra án mạng, con bèn tới xem, thấy Đại Lý Tự đã cử người đến tra xét nên đi thẳng về phủ.”

Hoàng Tử Hà hỏi: “Chẳng biết lúc loanh quanh trong chùa, phò mã có gặp ai không?”

Vi Bảo Hoành lắc đầu: “Chẳng phải ngày rằm mồng một nên vắng khách dâng hương, ta đi lòng vòng ở hậu viện một lát, không gặp ai cả.”

“Sau đó thì sao?” Lý Thư Bạch chậm rãi hỏi, “Trước khi phò mã rời phường Đại Ninh về phủ đó.”

Vi Bảo Hoành ngạc nhiên nhìn y: “Ý vương gia là…”

“Hôm qua khi ta từ nha môn trở về, ngang qua phường Đại Ninh, có trông thấy phò mã.” Lý Thư Bạch chẳng buồn giấu giếm, còn ung dung bồi thêm một câu, “Phò mã và Lữ Tích Thúy, đang trò chuyện.”

Vi Bảo Hoành biến sắc, không ngờ những lời mình nói với Tích Thúy lại lọt vào tai hai người này, mặt hắn hết đỏ lại tái, cuối cùng vẫn phải gật đầu thừa nhận: “Vâng… Trước đây khi chạy vạy dàn xếp vụ này, con từng gặp cô ta một lần.”

“Xong lời nói cử chỉ của phò mã với cô ta, dường như không giống chỉ gặp một lần.” Giọng Lý Thư Bạch vẫn lãnh đạm, không chút nể nang.

Vi Bảo Hoành thở dài, “Vâng… Dù sao cũng là phủ công chúa nợ cô ta, nên con muốn đối tốt với cô ta chút ít.”

Lý Thư Bạch lạnh lùng nhìn hắn, chẳng nói chẳng rằng.

“Lẽ nào chỉ vì con có mặt tại phường Đại Ninh, nói vài ba câu với Lữ Tích Thúy mà vương gia cho rằng con có liên quan tới cái chết của Tôn ghẻ?” Vi Bảo Hoành không còn đủ kiên nhẫn nữa, hớt hải biện bạch, “Vương gia nghĩ con phải đơn thương độc mã đến phường Đại Ninh giết một con ma bệnh ghẻ lở khắp người ư? Con chỉ cần dặn một câu thì tên Tôn ghẻ ấy sẽ chết đủ trăm kiểu, vương gia bảo có phải không?”

Lý Thư Bạch ngả người ra lưng ghế, ngắm Vi Bảo Hoành đang nhảy dựng lên cuống cuồng phân bua, chẳng buồn chớp mắt: “Vi phò mã cả nghĩ rồi, bản vương chỉ định nói rằng dù sao cũng là phò mã của Đồng Xương công chúa, lại hẹn gặp một cô gái trẻ buổi tối, có phần hơi thiếu suy nghĩ.”

Vi Bảo Hoành ngẩn người, bấy giờ mới ngồi phịch xuống ghế đáp khẽ: “Thưa vâng… con xin nhớ kỹ lời vương gia dạy bảo.”

Dùng dằng ở phủ công chúa hồi lâu, đã thấy hoàng hôn ngập trời.

Phò mã đích thân tiễn họ ra khỏi vườn Túc Vi, còn nơm nớp dặn: “Vương gia đi thong thả, con qua xem công chúa có cần gì con không.”

Lý Thư Bạch gật đầu: “Đi đi, gần đây trong phủ xảy ra nhiều chuyện như vậy, phò mã phải săn sóc công chúa thật kỹ, tốt nhất là đừng để Đồng Xương ra ngoài gặp gỡ người khác.”

“Vâng.” Vi Bảo Hoành cung kính vâng dạ.

Hoàng Tử Hà theo sau Lý Thư Bạch, men theo con đường nhỏ đi đến cửa ngách.

Phủ Quỳ vương ở phường Vĩnh Gia, cách phủ công chúa không xa, băng qua phường Hưng Ninh là tới. Phủ công chúa nằm ở khu Thập Lục Vương mé Đông Bắc thành Trường An, từ cửa Tây Nam đi ra là thông thẳng tới các phường trong kinh thành.

Thấy ráng hồng rực rỡ cuối trời như gấm thêu, hai người bất giác đi chậm lại, mặc xe ngựa phủ Quỳ đang đợi, cứ thế tản bộ trong phủ công chúa.

Ánh tà dương lan khắp phủ đệ xa hoa nổi tiếng nhất kinh thành, nào đài cao gác nhỏ, nào hành lang lầu hoa, đủ màu vàng xanh đỏ tím giao hòa ánh chiếu lẫn nhau, chẳng khác nào bồng lai tiên cảnh, nơi ở của thần tiên.

Xong những người sống ở đây, dường như ai cũng ôm đầy đau đớn và nuối tiếc, như vậy chẳng phải những đình đài lầu gác mỹ lệ kia đều uổng phí ư?

Hoàng Tử Hà đang nghĩ ngợi thì nghe giọng Lý Thư Bạch: “Phường Đại Ninh hôm qua quả là huyên náo, đúng như phò mã nói.”

Thấy y đột ngột nhắc đến chuyện hôm qua, cô vội quay lại nhìn y, khẽ gật đầu.

“Lúc Tôn ghẻ chết, những kẻ có liên quan đều tập trung ở phường Đại Ninh – từ Trương Hàng Anh, Lữ Tích Thúy, Lữ Chí Nguyên, Tiền Quan Sách, cho đến… Vi phò mã.”

“Nhất là mỗi người đều có lý do ra tay.”

“Ừm, nhưng ta nghĩ chắc ngươi cũng nhận ra, từ đầu phò mã đã mập mờ dẫn dắt chúng ta chú ý đến Đậu Khấu, ngươi nghĩ phò mã có dụng ý gì?”

Hoàng Tử Hà gật đầu: “Lần đầu đến phủ công chúa, ngay trước mặt tôi và Thôi thiếu khanh, phò mã cũng cố tình nhìn về phía bức tranh đậu khấu cùng bài thơ treo trên tường, dẫn dắt sự chú ý của tôi, giờ lại khéo léo nhắc tới cái chết của Đậu Khấu.”

“Ta đã sai người đi nghe ngóng, quả thật bên cạnh phò mã có một thị nữ, lớn hơn mười tuổi tên Đậu Khấu.” Lý Thư Bạch nghỉ chân trên con đường nhỏ lát đá xanh vắng ngắt: “Từ nhỏ tới lớn săn sóc phò mã, hơn nữa phò mã còn khăng khăng không để cô ta lấy chồng, khi dọn đến phủ công chúa cũng đem theo. Tháng trước, cô ta chết đuối trong hồ nước ở vườn Tri Cẩm.”

Hoàng Tử Hà trầm ngâm gật đầu: “Xương Bồ cũng kể với tôi như vậy.”

“Còn một việc, có lẽ ngươi không biết.” Lý Thư Bạch phóng mắt nhìn ra trảng cỏ xanh mượt phía trước, lác đác những bông hoa nhỏ mùa hè đang khoe sắc tươi tắn, rồi từng bông từng bông lại héo tàn dưới cái nắng thiêu đốt, chẳng ai đoái hoài, “Nhà Đậu Khấu có đến mười mấy anh chị em, vì anh trai không có tiền cưới vợ, nên năm mười hai tuổi cô ta đã phải bán mình vào nhà họ Vi. Cô ta thông minh ngoan ngoãn, sau một năm thì được để hầu hạ phò mã, bấy giờ mới ba tuổi. Hai mươi năm qua, cô ta từ một con a đầu hạng bét trở thành người quan trọng nhất bên cạnh phò mã, xong chẳng dành dụm được gì cho mình, bởi trên cô ta còn bảy gã anh trai như đỉa hút máu, nhà nào cũng đòi cô ta cung phụng.”

Hoàng Tử Hà lặng lẽ gật đầu, lại nghe Lý Thư Bạch kể: “Chị gái cả của Đậu Khấu, lớn hơn cô ta hai mươi mấy tuổi, sau khi cô ta vào nhà họ Vi thì chị gái qua đời vì sinh khó, chỉ để lại một đứa con gái, tên là Lữ Tích Thúy.”

Hoàng Tử Hà kinh ngạc ngẩng lên: “Vậy bọn họ có liên lạc không?”

“Có vẻ rất hiếm. Bấy nhiêu năm nay Đậu Khấu vẫn nuôi các anh em, là bởi cô ta cho rằng, anh em trai mới là người nhà, còn chị gái đã gả đi tức là người ngoài rồi. Huống hồ chị em cách nhau chừng ấy tuổi, lúc cô ta ra đời thì bà chị đã gả cho Lữ Chí Nguyên, hai người cũng chẳng mấy khi gặp mặt. Sau khi mẹ Tích Thúy qua đời, mấy ông cậu đều là hạng ăn no lại nằm, còn bụng dạ nào để ý đến đứa cháu côi cút nữa. Những lúc Lữ Chí Nguyên hoặc Lữ Tích Thúy đến phủ công chúa đưa hương đèn, cũng chưa bao giờ chạm mặt Đậu Khấu, người trong phủ chẳng ai biết Đậu Khấu lại có mấy người họ hàng này. Lữ Chí Nguyên bao thầu tất cả đèn nến trong phủ công chúa, cũng không can hệ gì đến Đậu Khấu. Ngươi nghĩ nếu lão già đó biết chuyện, còn không tới tìm Đậu Khấu vòi vĩnh cái này cái khác ư?”

Hoàng Tử Hà gật đầu trầm tư: “Mẹ Tích Thúy và Đậu Khấu là chị em ruột, có lẽ hai dì cháu cũng giống nhau. Hẳn là vì vậy nên khi trông thấy Tích Thúy, công chúa mới bị hoảng loạn, bèn sai người đánh đuổi đi.”

“Bởi thế, cái chết của Đậu Khấu, ắt có liên quan tới công chúa.”

“Đúng vậy, lần đầu tiên nhắc tới Đậu Khấu, Thôi thiếu khanh cũng có mặt ở đó, nên phò mã cố ý bịa ra một câu chuyện rất dễ bị lật tẩy, hòng ám chỉ với tôi.” Hoàng Tử Hà nhíu mày.

Lý Thư Bạch chăm chú nhìn cô, khóe môi cũng nhếch lên thành một nụ cười như có như không: “Quan hệ giữa người với người thực đáng suy ngẫm, phải không nào?”

Hoàng Tử Hà lặng thinh gật đầu. Cả hai chẳng nói gì thêm, thong dong rời khỏi phủ công chúa. Cửa ngách đã ở trong tầm mắt, bên ngoài là phủ đệ của các vương và quan lại, vườn rộng sân sâu, vắng ngắt như tờ.

Lúc đến ngã rẽ ngay sát cửa ngách, họ bắt gặp một kẻ đi ngang qua ngoài cửa.

Vũ Tuyên.

Cô cứ ngỡ hắn đã ra về từ lâu, ai ngờ đến giờ mới đi, mà lại xuất hiện ngay trước mắt.

Bước chân cô bất giác khựng lại, tụt sau Lý Thư Bạch.

Nhưng Vũ Tuyên không hề nhận ra bọn họ. Nét mặt hắn cứ ngẩn ngơ, bước chân chệnh choạng khiến thân hình thanh thoát như cây ngọc cũng giảm bớt phần nào phong tư.

Lý Thư Bạch quay đầu nhìn cô, thấy cô đang ngỡ ngàng nhìn Vũ Tuyên, vẻ mặt chẳng rõ là kinh ngạc hay xót xa.

“Ngươi không tò mò ư?” Lý Thư Bạch ngừng một thoáng, rồi tiếp: “Đi nhìn xem hắn cầm gì trong tay.”

Hoàng Tử Hà vâng dạ, bấy giờ mới định thần lại, ngạc nhiên ngước nhìn y.

Xong Lý Thư Bạch đã xăm xăm đi về phía cỗ xe đang đợi ở cửa, buông một câu: “Về phủ báo lại.”

Hoàng Tử Hà đúng ngây ra tại chỗ, hồi lâu đành nhấc chân bám theo Vũ Tuyên.

Hồi ở Thục, cô cũng từng theo dấu nghi phạm, tuy giờ bước chân có hơi rối loạn, xong Vũ Tuyên đi đằng trước dường như lòng đang ngổn ngang trăm mối, nên chẳng hơi đâu để ý xung quanh.

Ở góc phố hoàng hôn, trong thời khắc vắng lặng như tờ, hắn cắm cúi đi trên con đường nối giữa hai phường Đại Ninh và Hưng Ninh, còn cô bám theo sau, trông thấy tay hắn cầm một phong thư.

Phong thư nọ màu đỏ nhạt, thi thoảng ánh tà dương rọi qua phía trên, có thể thấy thấp thoáng hoa văn kim nhũ lấp lánh ở góc, vô cùng mỹ lệ, thoạt trông đã biết là của nữ tử khuê các. Nhưng trên đó viết gì thì Hoàng Tử Hà không sao nhìn được.

Đến trước chùa Hưng Đường ở phường Đại Ninh, hắn dừng lại bên lò hương, mở phong thư đang cầm ra. Rồi chỉ nhìn lướt qua một lượt, hắn đã mím đôi môi hoàn mỹ, chậm rãi xé tan bức thư, bỏ tất cả vụn giấy vào lò hương, còn đứng chờ cho chúng cháy hết thành tro mới quay người, men theo phường An Hưng, đi thẳng về phía phường Vụ Bản, nơi đặt Quốc Tử Giám.

Đợi bóng Vũ Tuyên khuất hẳn ở khúc ngoặt, lại thấy trên đường không có ai qua lại, Hoàng Tử Hà mới hộc tốc chạy đến nhìn vào lò hương. Chất giấy viết thư rất dày, lại có hoa văn kim nhũ, dù đã cháy thành tro vẫn khá dày dặn, phất phơ lay động theo luồng khí bốc lên từ lò hương.

Hoàng Tử Hà bất giác giơ hai tay ra như bắt bướm, chụp lấy mảnh tro to nhất, giữ khư khư giữa hai lòng bàn tay.

Mảnh tro vẫn còn ấm, xong cô đã cẩn thận kéo ống tay áo lót trước vào lòng bàn tay để tránh bị mồ hôi thấm ẩm, rồi khum khum hai bàn tay lại, giữ lấy bí mật âm ấm này. Cô không dám cử động hai tay, chỉ sợ làm rách mảnh tro tàn, cứ thế chạy thục mạng về phía phường Sùng Nhân.

Đám canh cửa phủ Chu đã quá quen Hoàng Tử Hà, mời cô vào luôn.

Chu Tử Tần như thường lệ đang ngồi trong phòng mân mê mấy khúc xương, thấy Hoàng Tử Hà khum khum hai tay xộc vào thì giật nảy mình: “Sùng Cổ, hai tay làm sao thế kia? Bị người ta đóng đinh vào à?”

Cô rón rén mở hai tay ra, để lộ mảnh tro: “Công tử xử lý hộ tôi với.”

“… Tro giấy à?” Chu Tử Tần ngạc nhiên, “Ở đâu ra đấy?”

“Lò hương chùa Hưng Đường.”

Chu Tử Tần nghiêm mặt lại, ôn tồn bảo cô: “Sùng Cổ, để ta bảo công công chuyện này. Có bệnh thì phải đi khám thầy thuốc chứ, chẳng phải xưa nay công công không tin quỷ thần ư? Mấy chuyện nhảm nhí như là pha tàn hương vào nước uống cho mau lành bệnh, công công nhất định không được làm đâu đấy! Nếu công công làm thế, từ nay đừng hòng ta kính trọng công công!”

“Đây là một bức thư.” Hoàng Tử Hà ngán ngẩm chìa mảnh tro ra trước mặt gã, “Bên trong có manh mối quan trọng, tôi cần gấp. Nếu công tử có thể làm chữ trên đó hiện ra, tôi sẽ… mời công tử ăn cơm.”

“Ai thèm ăn cơm nữa.” Chu Tử Tần khinh khỉnh nói, đoạn nhẹ nhàng dùng một tờ giấy len vào giữa tay cô và mảnh tro, rồi khẽ khàng bứng mảnh tro sang mặt giấy.

“Vậy công tử muốn gì, nói đi.”

“Từ nay về sau, công công không được bỏ ta lại, tự mình đi tra án như trưa nay nữa.” Chu Tử Tần ra điều kiện.

Hoàng Tử Hà liền giải thích: “Trưa nay tôi phải tới phủ công chúa, công chúa không truyền gọi, tôi sao có thể dẫn theo người khác?”

“Hừm, công công không thể nói ta là trợ thủ của Đại Lý Tự phái đi hỗ trợ công công ư?” Chu Tử Tần trừng mắt nhìn cô.

Hoàng Tử Hà đành chịu thua: “Được rồi… Nếu không có tình hình gì đặc biệt, từ nay về sau tôi sẽ gọi công tử theo.”

“Hay quá!” Chu Tử Tần mừng ra mặt, vỗ bộp vào vai Hoàng Tử Hà, “Ta thích đi theo công công nhất đấy! Cứ theo công công là có thi thể!”

Hoàng Tử Hà đành vờ như không nghe thấy: “Vậy chữ trên mẩu tro kia…”

“Yên tâm, cứ giao cho ta!”

Chu Tử Tần múc một chậu nước, nhẹ nhàng đặt tờ giấy có mẩu tro lên mặt nước, rồi hết sức khẽ khàng rút lớp giấy bên dưới đi, chỉ để lại mảnh tro bập bềnh trên mặt nước.

Gã lại lục lọi trên cái giá cạnh đó hồi lâu, moi ra một chiếc lọ nhỏ, thận trọng rót dung dịch lục nhạt bên trong thành một vòng khép kín quanh mép mảnh tro, không quên giới thiệu: “Đây là ta làm theo lối cổ, dùng mấy trăm cân cải bó xôi nghiền nhỏ lọc lấy nước mới được chừng này, bình thường cũng tiếc của chẳng dám dùng đâu.”

Dung dịch từ từ loang ra, thấm vào mảnh tro. Dần dần, những nét chữ bắt đầu hiện lên trên nền tro đen, đó là vết mực còn đọng lại trên mẩu tro đang tan biến nhanh chóng, còn nhanh hơn cả tro tàn, nên màu sắc hiện lên cũng nhạt hơn.

Nét chữ chỉ nháy mắt là biến mất, như thể màu mực trên nét chữ bị tiêu biến trong tích tắc, tuy không rõ lắm, nhưng cũng vẫn đọc ra được.

Nguyệt… Hoa… Hoang… Chiếu… Duẫn…

Chu Tử Tần nhìn chằm chằm mấy chữ vừa hiện lên, gắng nhận mặt từng chữ một: “Thế này có nghĩa gì nhỉ?”

Hoàng Tử Hà cũng thẫn thờ nhìn năm chữ cái đã trắng nhợt ra, sắp mất hẳn, cuối cùng mảnh tro tàn cũng tan vào nước.

Cô chậm rãi nói khẽ: “Tôi nghĩ, chữ thứ ba là chữ ‘lưu’ bị mất một nửa, chữ thứ năm chắc là ‘quân’ bị mất một nửa…”

“Nguyệt hoa lưu chiếu quân…” Chu Tử Tần sực hiểu ra, “Là một câu trong bài Xuân giang hoa nguyệt dạ của Trương Nhược Hư!”

Cùng nghe ngóng lúc nay chẳng thấy,

Muốn theo trăng trôi chảy đến chàng.*

* Nguyên văn: “Thử thì tương vọng bất tương văn, nguyện trục nguyệt hoa lưu chiếu quân.” Ở đây sử dụng bản dịch của Tản Đà.

Chu Tử Tần ngẩng lên hỏi: “Là thư tình ư?”

Hoàng Tử Hà gật đầu, rồi lại lắc đầu. Cô chẳng biết nói sao, thẫn thờ ngồi xuống nhìn dấu tích mảnh tro tàn.

Dưới sự ăn mòn của dung dịch lục nhạt kia, mảnh tro đã tan thành bụi, dập dềnh loang ra trong nước.

Mấy con chữ còn sót lại cũng tan biến vĩnh viễn.

Chu Tử Tần vẫn chưa hết đắc ý: “Tuyệt lắm đúng không? Ta phát hiện ra nước cải bó xôi có thể tẩy sạch vết mực dây vào áo, sau đó lại đọc được trong sách cổ cách làm này. Sau khi nhỏ thứ nước này lên, nét mực trên giấy sẽ bị nước cải bó xôi tẩy sạch màu trước khi mảnh tro kịp tan ra. Tuy chỉ có một khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng cũng đủ để chúng ta nhận rõ mặt chữ. Ta lợi hại không nào?”

Hoàng Tử Hà miễn cưỡng gật đầu: “Lợi hại lắm.”

Thấy cô có vẻ là lạ, Chu Tử Tần vội hỏi: “Sùng Cổ làm sao thế? Sắc mặt công công hình như… rất khó coi.”

“Tôi… không sao.” Cô đáp khẽ, lại đưa mắt nhìn chậu nước giờ đã biến thành màu xanh sẫm, hít một hơi thật sâu, gắng bình tĩnh lại.

Thấy Chu Tử Tần vẫn lo lắng nhìn mình, cô vội né tránh ánh mắt gã, quay ra ngoài nhìn sắc trời rồi đứng dậy: “Đa tạ công tử giúp đỡ, tôi… đi đây.”

“Ăn cơm đã rồi đi, công công chạy tới chạy lui cả ngày, có được lúc nào ngồi yên ổn ăn bữa cơm đâu.”

“Không có thời gian đâu, vương gia đang đợi tôi về.”

Lúc về đến phủ Quỳ vương, thân tâm Hoàng Tử Hà đều rời rã.

Cô gắng xốc lại tinh thần, theo lệ tới báo cáo với Lý Thư Bạch nội dung phong thư.

Lý Thư Bạch ung dung vừa nghe vừa mân mê nghịch chiếc bình lưu ly. Nước trong bình dập dềnh, làm con cá nhỏ bên trong phải xòe đuôi gắng giữ thăng bằng.

“Chứng thực được lời đồn đại ngoài phố, đúng không nào?” Lý Thư Bạch nhìn con cá, giọng nói chỉ hơi gợn lên lăn tăn, như làn nước trong bình.

“Vâng…” Cô đáp khẽ.

Cuối cùng y cũng đưa mắt nhìn cô, lần đầu tiên ánh mắt lộ vẻ do dự và suy tính, tựa hồ định nói gì đó, nhưng lâu thật lâu, lại dời mắt nhìn đi chỗ khác, như đang an ủi cô, lại cũng như tự nói với mình: “Lời đồn thông thường chỉ phản ánh một phần sự thật, thậm chí còn có thể là tung hỏa mù thôi.”

Hoàng Tử Hà không hiểu câu này có ý gì, nghĩ ngợi mãi không ra, đành chuyển chủ đề hỏi: “Chẳng biết Đại Lý Tự có lấy được bức họa kia từ nhà Trương Hàng Anh không?”

“Không.”

Cô ngạc nhiên ngẩng lên.

“Lúc Đại Lý Tự đến, Trương Hàng Anh mở tủ ra thì bức họa đã biến mất.”

“Mất rồi ư?” Nhớ lại cảnh Trương Hàng Anh cuộn bức tranh lại cất đi, cô nhíu mày: “Cha Trương Hàng Anh rất quý bức họa ấy, có việc quan trọng mới treo lên thắp hương vái lạy, còn thường ngày đều cất trong tủ… Sao tự dưng lại mất được?”

“Người của Đại Lý Tự cho rằng gã cố ý không chịu giao nộp, cản trở điều tra nên đã lục soát cả nhà, xong cũng không tìm thấy. Vốn dĩ có thể gọi là trùng hợp, nhưng hiện giờ xem ra đúng là có vấn đề.”

Hoàng Tử Hà thoáng thấy bất an, liền hỏi: “Chẳng hay Đại Lý Tự định xử lý thế nào?”

Biết Hoàng Tử Hà lo cho Trương Hàng Anh, Lý Thư Bạch liếc cô rồi đáp: “Hôm nay Đại Lý Tự đã đến thẳng Tả Kim Ngô Vệ truyền gọi Trương Hàng Anh, ngày đầu tiên đến báo danh đã bị gọi đi, chắc ở Tả Kim Ngô Vệ cũng nhiều lời ra tiếng vào. Hiện giờ Tả Kim Ngô Vệ đã có lệnh, bảo gã tìm cho ra bức tranh ấy rồi hãy đến nha môn. Theo ta thấy, nếu không có cách nào tìm ra cho mau, chắc gã sẽ bị rầy rà đấy.”

Hoàng Tử Hà thầm thở dài: “Vâng, nô tài sẽ chú ý việc này.”

Lý Thư Bạch lại cầm một tập giấy cạnh đó lên đưa cho cô: “Đại Lý Tự gửi ngươi cái này, nghe nói là những việc lần trước ngươi nhờ họ tra xét.”

Hoàng Tử Hà nhận lấy, chưa cần xem cũng biết là chuyện lần trước cô nói với Chu Tử Tần, Trương Hàng Anh biết việc Tích Thúy có liên quan tới phủ công chúa từ khi nào.

Lúc trước gã nói rằng không biết chuyện đó, cũng không biết Ngụy Hỷ Mẫn.

Nhưng biên bản điều tra của Đại Lý Tự, giấy trắng mực đen, lại bác bỏ hoàn toàn những lời ấy.

Hoàng Tử Hà mím chặt môi, gom xấp biên bản lại: “Đã vậy e rằng tôi lại phải đến nhà họ Trương lần nữa rồi.”

Lý Thư Bạch vẫy tay: “Đi đi, chắc người của Tả Kim Ngô Vệ cũng biết ngươi cả rồi, không cần giấy giới thiệu của ta nữa.”

“Nếu không được thì còn lệnh bài của vương phủ mà.” Cô gượng cười đứng dậy định đi, nào ngờ bỗng thấy mắt tối sầm lại, ngã ngồi xuống đất.

Lý Thư Bạch phản ứng rất nhanh, một tay đẩy phăng chiếc bàn trước mặt ra, tay kia đỡ lấy Hoàng Tử Hà để cô khỏi đập đầu vào bàn rồi dìu cô nửa nằm nửa ngồi xuống thảm.

Đợi cho quầng đen trước mắt tan đi, Hoàng Tử Hà trông thấy Lý Thư Bạch đang đỡ mình, vội cựa quậy định đứng dậy, xong cả người đã bải hoải chẳng còn sức lực gì, đành nói khẽ: “Đa tạ vương gia… Chắc tôi mệt quá đấy thôi, nghỉ ngơi một lát là ổn.”

Cúi đầu nhìn gương mặt tái nhợt mà vẫn quật cường trong lòng, Lý Thư Bạch chẳng nói nửa lời, bế xốc cô lên đi thẳng vào giường rồi đặt xuống.

Thấy cặp mắt sâu thăm thẳm của y nãy giờ cứ chăm chú nhìn mình, cô cũng căng thẳng ngượng nghịu, đành nhìn lảng đi, nói nhỏ: “Thật ngại quá… Nô tài thất lễ rồi…”

“Là lỗi của ta.” Giọng y trầm trầm cắt ngang lời cô.

Nghe ra vô vàn điều bản thân không sao phân biệt được trong giọng nói của y, Hoàng Tử Hà kinh ngạc ngẩng lên.

Giọng y trầm thấp mà chậm rãi: “Ta quên mất… ngươi là nữ.”

Cô ngạc nhiên nhìn y hồi lâu mới đáp khẽ: “Không có gì, ngay cả tôi cũng quên khuấy từ lâu rồi.”

Nghe vậy y bỗng ngẩn ngơ, cứ đứng đó nhìn cô hồi lâu, bất động.

Thân hình nhỏ nhắn của cô nằm ngả trên giường trong bộ đồ hoạn quan áo đỏ đai đen. Mấy lọn tóc đen xõa xuống cổ cô, rồi lọt vào cổ áo, nổi bật trên làn da trắng muốt, rất bắt mắt, khiến người ta bất giác phải đưa mắt nhìn xuống, xuôi theo thân hình yểu điệu của cô.

Một luồng hơi nóng bỗng cuộn lên xốn xang trong lồng ngực. Y hiểu ra ngay, vội quay phắt đi, chẳng nói chẳng rằng trở về chỗ cũ.

Hoàng Tử Hà ngỡ ngàng nhìn y, chẳng hiểu vị vương gia xưa nay vẫn ung dung bình thản sao lại hành động thất thường như thế.

Cô ngả người nghỉ ngơi một lát, cảm thấy cơn choáng váng đã qua, bèn đứng dậy bảo Lý Thư Bạch: “Nô tài xin cáo lui, không dám quấy rầy vương gia nữa.”

Nhìn bước chân chệnh choạng của cô, y ngập ngừng mãi, tới khi cô ra đến cửa mới buông một câu: “Tối nay đừng đi tìm Trương Hàng Anh nữa.”

Cô ngạc nghiên ngoái lại.

“Ngươi liêu xiêu thế kia mà còn cố đi, chỉ sợ sáng mai lại phải cho người ra đường khiêng về.”

Hoàng Tử Hà phì cười: “Vậy mai nô tài sẽ dậy sớm đi.”

“Ừm.” Y đứng dậy, cùng cô rời đài Chẩm Lưu.

Hoàng Tử Hà chẳng hiểu y định đi đâu, đành thong thả bám theo sau.

Những cành thùy liễu bên bờ cứ rủ xuống vai và tay họ, sen hồng bát ngát nở rộ dưới trăng, y luôn cách cô nửa bước chân, giữ khoảng cách bất cứ lúc nào cũng có thể giơ tay ra đỡ lấy cô.

Hoàng Tử Hà sực hiểu ra, là y muốn đưa mình về.

Giữa màn đêm tĩnh mịch, vầng trăng trên cao cũng gần tròn, sáng rỡ.

Ánh trăng rờ rỡ ấy chảy dài trên người cô, cũng chảy dài trên người y.

Nhìn người đi trước, cách nửa bước chân, chỉ giơ tay ra là chạm đến, xong trong lòng cô, trong đầu cô, chỉ đau đáu nhớ đến câu thơ nọ.

Muốn theo trăng trôi chảy đến chàng.

Cứ thế cô lại thấy căm ghét bản thân đến tột đỉnh, lồng ngực đau thắt, đành siết chặt nắm tay, hít một hơi thật sâu, ép mình gạt những ký ức ấy ra khỏi đầu, từng chút từng chút một, không ngừng tự nhủ: Hoàng Tử Hà, từ bỏ quá khứ đi. Cha mẹ người thân đều chết cả rồi, nếu ngay cả chút việc cuối cùng cũng không thể làm cho họ, thì đáng bị trời tru đất diệt!
 

Cam Miên

đậu phụ của hòa thượng
Thành viên BQT
Mod - Sưu Tầm
Mod - Công Viên Xanh
Sưu tầm
Tham gia
13/4/19
Bài viết
1,447
Điểm cảm xúc
980
Điểm
113
Người ta thường nói ráng chiều lan ngàn dặm. Tà dương xán lạn hôm trước khiến trời hôm sau quang đãng không một gợn mây, mặt trời vừa lên, cả thành Trường An đã nóng hầm hập.

Hoàng Tử Hà mặc áo mỏng, bên ngoài khoác chiếc áo đỏ hoạn quan, người đầm đìa mồ hôi, ngồi yên thì không sao, hễ cử động là mô hôi túa ra.

Xong vụ án phủ công chúa còn chưa kết thúc, cô vẫn phải ra ngoài tra xét.

Vừa ra đến cổng đã thấy Chu Tử Tần dắt con Tiểu Hà đợi sẵn, tay còn cầm bốn cái bánh hấp nóng hổi.

Thấy cô, gã bèn đứng phắt dậy, chìa bốn cái bánh bọc trong lá sen ra: “Này Sùng Cổ, mỗi người hai chiếc.”

“Tôi vừa ăn rồi.” Nhưng sáng ra tất bật, chỉ kịp ăn mỗi miếng bánh ngọt, nên cô vẫn nhận một chiếc bánh, vừa cưỡi ngựa vừa ăn cùng Chu Tử Tần.

“Ta biết hôm qua công công chỉ hứa cho qua chuyện thế thôi, nếu hôm nay ta không chặn cửa, nhất định công công sẽ đi điều tra một mình.” Chu Tử Tần bĩu môi trách.

Hoàng Tử Hà vội an ủi gã: “Đâu có, thực ra tôi đang định đi tìm công tử mà.”

“Thực ư?” Chu Tử Tần tin ngay, “Đúng là huynh đệ tốt, có nghĩa khí lắm! Công công nói xem, hôm nay chuẩn bị đi đâu đây? Liệu có thi thể cho ta trổ tài không?”

“Tốt nhất đừng có thì hơn.” Hoàng Tử Hà lườm gã, “Chúng ta phải tới nhà Trương nhị ca.”

“Hả?” Chu Tử Tần suýt thì ngã ngựa, “Sao lại đến nhà Trương nhị ca?”

“Hôm qua công tử không tới Đại Lý Tự à? Bức tranh ở nhà họ Trương biến mất rồi.”

“Tranh nào? Công công nói bức tranh vẽ ba cảnh chết ấy ư?” Chu Tử Tần kích động đến nỗi suýt đánh rơi cái bánh hấp, “Lẽ nào bức tranh đó có liên quan tới những chuyện này thực ư? Liên quan thế nào? Rốt cuộc vì sao các hình vẽ trong tranh lại giống các vụ án đến thế? Trương nhị ca gặp phiền phức rồi ư? Tả Kim Ngô Vệ định xử lý thế nào? Nếu Trương nhị ca xảy ra chuyện thì Tích Thúy làm sao đây?”

“Công tử cứ ăn bánh đi đã.” Hoàng Tử Hà chặn đứng tràng cật vấn của gã, giơ tay vỗ Na Phất Sa một cái, thúc nó chạy nhanh hơn.

Đi từ Đông sang Tây, băng qua nửa thành Trường An, cuối cùng họ cũng đến nhà Trương Hàng Anh.

Giờ vẫn còn sớm, các bà các chị trong phường đang đi xách nước, vừa xách vừa bàn tán: “Này, mấy người hôm qua hình như là người của quan phủ hay sao ấy? Sao tự dưng kéo đến đông thế nhỉ?”

“Nghe nói con thứ nhà họ Trương lại gây ra chuyện rồi.”

“Nhẽ đâu thế, thằng bé đó trông thật thà lắm mà, sao dạo này cứ xảy ra chuyện thế nhỉ, hết bị phủ Quỳ vương đuổi, lại bị Tả Kim Ngô Vệ trục xuất, giờ cả quan phủ cũng sờ đến rồi, đúng là… Trước đây thực không nhìn ra nó lại là người như thế đâu!”

Chu Tử Tần không dám tin vào tai mình, nhảy ngay xuống ngựa túm lấy người kia hỏi: “Gì cơ? Ai bảo Trương nhị ca bị Tả Kim Ngô Vệ trục xuất? Sao lại thế được?”

Người phụ nữ trung niên nọ thấy gã nhảy phắt xuống ngựa túm lấy mình thì phát hoảng: “Còn chẳng thế ư? Người của quan phủ kéo đến nhà nó lục soát, hôm nay nó cũng không ra ngoài, chẳng phải là bị đuổi rồi à?”

Hoàng Tử Hà nhíu mày: “Tử Tần, đôi co với người lạ làm gì?”

Chu Tử Tần nghe vậy đành hậm hực dắt Tiểu Hà đi về phía nhà Trương Hàng Anh. Hoàng Tử Hà cũng xuống ngựa, hai người vừa đến cổng nhà họ Trương, chưa kịp gõ đã thấy một cô gái từ bên trong xông ra, suýt nữa va vào họ.

Đằng sau vang lên tiếng Trương Hàng Anh gọi thất thanh: “A Địch! Muội đi đâu thế?”

Hoàng Tử Hà tức thì giơ tay tóm lấy cánh tay cô gái vừa lao ra, giữ cô ta lại.

Chỉ thấy cô gái kia mặt mày tái ngắt, búi tóc cài cây trâm gỗ, vận một chiếc áo xanh tay hẹp, chân xỏ đôi hài xanh thêu hoa râm bụt, chính là Tích Thúy.

Nàng bị Hoàng Tử Hà tóm chặt, không sao giằng ra được, chỉ run rẩy gọi “Dương công công”, nước mắt lã chã.

Hoàng Tử Hà vội hỏi: “Cô nương sao thế? Cãi nhau với Trương nhị ca ư?”

Tích Thúy lắc đầu quầy quậy, nhưng không nói năng gì.

Trương Hàng Anh đã chạy ra đến nơi, buồn bã nói: “A Địch, muội đừng làm liều, chuyện này… có liên quan gì đến muội đâu.”

Hoàng Tử Hà đưa mắt ra ý bảo Chu Tử Tần “bình tĩnh”, rồi dẫn Tích Thúy vào, nhỏ nhẹ dỗ dành: “Rốt cuộc xảy ra chuyện gì, cô nương kể cho chúng tôi nghe được không? Nếu giúp gì được cô, chúng tôi sẽ dốc hết sức. Đừng thế này nữa, tốt xấu gì cũng có thêm người nghĩ cách giúp các vị, phải không nào?”

Xong Tích Thúy cứ ôm mặt khóc rưng rức, chẳng nói chẳng rằng.

Trương Hàng Anh rầu rĩ kể: “A Địch… chẳng hiểu sao cả đêm qua cứ đứng ngoài sân, sáng nay tôi ngủ dậy trông thấy, gặng hỏi duyên do, cô ấy nói nhăng nói cuội cái gì mà tôi vốn tiền đồ như gấm, đều là bị cô ấy… cô ấy làm hại, còn bảo không thể làm liên lụy đến tôi nữa, đòi… đòi bỏ đi!”

Hoàng Tử Hà chưa kịp nói gì thì Tích Thúy đã nghẹn ngào tiếp lời: “Trương nhị ca, muội… là người xui xẻo, huynh ở bên muội… sẽ bị vạ lây đấy! Cha muội đã nói mà, muội chính là sao chổi, vừa ra đời đã hại chết mẹ ruột mình, về sau lại… lại rơi vào tình cảnh thế này, đáng lẽ không nên sống trên đời nữa…”

“Không được nói bậy!” Trương Hàng Anh cất lời, đoạn dáo dác nhìn quanh, thấy không có ai, vội tóm lấy tay kéo nàng vào sân, đóng cổng lại.

“Muội… muội nói thật đấy!” Tích Thúy khóc lạc cả giọng, gào lên với bọn Hoàng Tử Hà: “Các người có biết tôi là ai không? Là Lữ Tích Thúy! Chính là người bị cả thành Trường An chê cười bàn tán đấy! Cả thiên hạ đều biết tôi bị Tôn ghẻ làm nhục, đáng lẽ phải bỏ xác ngoài đồng hoang rồi! Tôi không nên sống ở đây, càng không nên làm liên lụy Trương nhị ca!”

“A Địch!” Trương Hàng Anh lao đến ôm chặt lấy nàng, bịt miệng nàng lại không cho nói tiếp nữa.

Tuy bị Trương Hàng Anh ôm ghì lấy, bịt chặt miệng lại, xong nước mắt Tích Thúy vẫn lăn dài trên má, ánh mắt đầy tuyệt vọng, khiến người ta thấy mà xót xa.

Hoàng Tử Hà liền đứng dậy bước đến cạnh nàng, nhỏ nhẹ an ủi: “A Địch cô nương, tôi biết việc chúng tôi đến điều tra làm cô lo lắng, nhưng thực ra chúng tôi không có ác ý đâu, xin cô chớ sợ. Trương nhị ca là bạn chúng tôi, trước đây cũng giúp đỡ tôi rất nhiều, tôi biết bản tính huynh ấy thật thà ngay thẳng, bị cuốn vào vụ này chẳng qua vì trong trăm ngàn manh mối có mấy việc liên quan đến huynh ấy nên chúng tôi tới hỏi chuyện theo lệ đấy thôi, cô đừng lo, hỏi xong chúng tôi sẽ đi ngay.”

Tích Thúy vẫn nhìn cô chằm chằm, chẳng có vẻ gì là đã nghe hiểu.

Hoàng Tử Hà thở dài nói: “Trương nhị ca, huynh buông A Địch cô nương ra đi, chúng tôi hỏi vài câu rồi đi thôi.”

Trương Hàng Anh bèn dìu Tích Thúy ngồi xuống bên chiếc bàn đá, dỗ dành: “Muội đợi một lát, lát nữa là ổn thôi.”

Hoàng Tử Hà ra ý bảo Trương Hàng Anh ngồi xuống rồi hỏi: “Hôm qua người Đại Lý Tự bảo sao? Bên Tả Kim Ngô Vệ nói thế nào?”

Trương Hàng Anh lo lắng xoa tay đáp: “Chiều qua tôi đang ở Tả Kim Ngô Vệ thì người Đại Lý Tự đến tìm, nói muốn mượn bức tranh nghe đồn là thủ bút của tiên hoàng. Bấy giờ tôi còn thắc mắc, nhà tôi xưa nay cất giữ bức tranh ấy rất kỹ, cũng chẳng bao giờ kể với ai, sao người Đại Lý Tự lại biết. Nhưng họ đã nói thế, tôi cũng đành dẫn họ về nhà, bảo họ đợi bên dưới còn mình lên gác mở tủ lấy tranh… Nào ngờ lấy chìa khóa mở tủ ra, thì không thấy tranh đâu nữa!”

“Không thấy ư?” Chu Tử Tần ngạc nhiên hỏi.

“Đúng thế, bức tranh vẫn cất trong tủ mười mấy năm nay, bỗng dưng không cánh mà bay! Tôi phát hoảng, vội chạy đi hỏi cha, cha tôi cũng cuống lên, chúng tôi và A Địch lật tung căn gác lên mà không thấy. Tôi chẳng còn cách nào, đành bảo với người của Đại Lý Tự rằng tranh đã không còn, nhưng họ không tin, nói rằng bức tranh đó rất quan trọng, bề trên đã yêu cầu đích danh, nếu tôi không giao ra thì chẳng ai gánh nổi trách nhiệm đâu. Tôi biết Đại Lý Tự phải ăn nói với bề trên, nhưng quả thật bức tranh đã mất, tôi làm thế nào được? Kết quả người của Đại Lý Tự nói với Tả Kim Ngô Vệ rằng tôi có liên quan tới hai vụ án mạng, kèm cả vụ phò mã trọng thương, huynh bảo còn không đủ to chuyện ư? Tả Kim Ngô Vệ bảo tôi hẵng xử lý cho xong vụ này đã, chưa xong thì không cần tới điểm danh nữa.”

Chu Tử Tần kinh ngạc quay sang hỏi Hoàng Tử Hà: “Công công đoán xem… là tên khốn nào bắt Đại Lý Tự đi lấy bức tranh vậy? Có phải là Đồng Xương công chúa không?”

Hoàng Tử Hà chống trán, cô đương nhiên biết “tên khốn” ấy là Lý Thư Bạch, có lẽ y chỉ tiện miệng bảo Đại Lý Tự một câu, kết quả Đại Lý Tự lại làm rùm beng, thành ra to chuyện thế này.

Nhưng nghe Chu Tử Tần hỏi vậy, cô đành đáp: “Tôi nghĩ… cũng không hẳn, Đồng Xương công chúa làm sao biết nhà Trương nhị ca có bức tranh ấy?”

“Huống hồ, dù có thì liên quan gì? Tranh là tiên hoàng vẽ chứ có phải Trương nhị ca đâu, phải không nào?” Chu Tử Tần hùng hổ đập bàn đứng phắt dậy, “Không được! Ta phải đi nói lý lẽ với Vương Uẩn!”

Hoàng Tử Hà cơ hồ muốn sụp lạy tư duy nhảy cóc của Chu Tử Tần: “Liên quan gì đến Vương đô úy?”

“Vương Uẩn cai quản Tả Kim Ngô Vệ chứ sao! Đại Lý Tự làm khó người dưới của hắn, sao hắn không ra mặt che chở? Chẳng phải chỉ mất một bức tranh thôi ư? Lại là tranh của nhà huynh ấy, không phải của Đại Lý Tự, Đại Lý Tự dựa vào điều luật nào mà bắt Trương nhị ca giao ra? Tả Kim Ngô Vệ thì dựa vào quy định gì bắt huynh ấy ở nhà tìm cho được mới được đến?”

Hoàng Tử Hà ngán ngẩm lườm gã: “Quan phủ tra án, bất luận là vương công đại thần hay thường dân trăm họ đều phải phối hợp. Có lẽ bức tranh của Trương nhị ca quả có liên quan tới vụ án, dù Đại Lý Tự bắt huynh ấy phải lập tức đi tìm, cũng không trách được.”

Chu Tử Tần tức thì tiu nghỉu, nằm bò ra bàn: “Thực ra ta cũng biết mà… Chẳng qua là bất bình thay cho Trương nhị ca thôi! Khó khăn lắm huynh ấy mới vào được Tả Kim Ngô Vệ, chúng ta còn chưa kịp quay về Đoan Thụy Đường cho lão già phơi thuốc vênh váo kia bẽ mặt, thì lại gặp phải chuyện này! Ta bảo, Trương nhị ca, dạo này có lẽ huynh nên đến chùa miếu nào đó thắp hương đi, sao cứ gặp xui xẻo mãi vậy…”

Chưa nói hết câu, bắt gặp cái nhìn trừng trừng của Hoàng Tử Hà, trông thấy Tích Thúy đã hơi nguôi nguôi giờ lại lã chã nước mắt, Chu Tử Tần vội giơ tay vả vào miệng, không nói thêm nữa.

Hoàng Tử Hà đứng dậy đề nghị: “Vào xem ngăn tủ đựng tranh của nhà huynh đã nhé.”

Trương Hàng Anh vội đáp: “Được thôi.”

Mấy người đứng dậy đi vào trong, theo cầu thang lên tầng hai.

Tủ đựng tranh ngay ở đầu cầu thang, cửa tủ móc một ổ khóa gỉ sét, Trương Hàng Anh mở một tủ khác kế bên cạnh ra, chỉ thấy bên trong ngổn ngang đủ thứ, nào hộp gỗ, lồng dế, gạt tàn…

Gã dốc ngược gạt tàn, moi ra một cái chìa khóa, mở tủ đựng tranh cho họ xem.

Bên trong đó cũng chứa rất nhiều đồ, mấy súc vải, hơn nửa quan tiền, phía dưới xếp vài loại thuốc. Ngăn trên cùng đặt một chiếc hộp gỗ dài dùng đựng cuốn trục, nhưng bên trong trống rỗng.

Trương Hàng Anh trỏ chiếc hộp nói: “Lúc người Đại Lý Tự đến, tôi mở tủ ra thì đã thế này rồi.”

Nhìn những đồ vật xếp ngay ngắn bên trong, Hoàng Tử Hà lại hỏi: “Bức tranh mất lúc nào thế? Ngoài ra còn mất gì không?”

“Không biết nữa, hôm ấy cho các vị xem xong tôi đã cất đi rồi, sau đó cũng chẳng mở tủ ra nữa. Mọi thứ trong tủ vẫn y nguyên, thậm chí hộp vẫn đậy kín, chỉ mất mỗi tranh thôi.”

Hoàng Tử Hà cau mày thở dài, ra ý bảo gã đóng tủ lại rồi nói: “Trương nhị ca, tôi biết rồi.”

Trương Hàng Anh tròn xoe mắt: “Gì cơ? Huynh đã biết nó đi đâu rồi ư?”

“Tôi nghĩ, có lẽ đến trưa, hoặc ngày mai, nó sẽ quay lại.” Đoạn cô đưa mắt nhìn Tích Thúy, thấy nàng ta đờ đẫn né tránh ánh mắt mình, bèn nói thêm: “Hơn nữa, người tốt như Trương nhị ca, ngay một cô gái mắc nạn ngất xỉu trong núi còn đưa về nhà cứu chữa; lại thêm bản tính đôn hậu, không so đo quá khứ của người khác; đối đãi ai cũng hết lòng hết dạ, hẳn người bên cạnh huynh cũng cảm động, trời cao ắt cũng thành toàn cho huynh, để bức tranh ấy mau quay trở về. Bằng không, kẻ cắp tranh cũng sẽ đánh mất thứ quý giá nhất của mình, đồng thời phải chịu sự giày vò của lương tâm.”

Trương Hàng Anh ngỡ ngàng hỏi: “Ý huynh là không cần tìm, bức tranh sẽ tự quay về ư?”

“Ừm, tôi nghĩ thế.”

Nói đoạn Hoàng Tử Hà quay mình bước xuống gác: “Trước mắt chuyện bức tranh cứ thế đã, tôi còn phải hỏi huynh mấy việc nữa đây.”

Chu Tử Tần sốt ruột nhắc: “Sùng Cổ, vậy rắc rối của Trương nhị ca thì sao? Ăn nói thế nào với Đại Lý Tự đây? Cả bên Tả Kim Ngô Vệ nữa, công công đi nói vài lời hay là ta đi? Lẽ nào công công định trơ mắt nhìn Trương nhị ca bị vận rủi quấn thân, lại phải quay về Đoan Thụy Đường cho người ta chèn ép bóc lột hay sao?”

Hoàng Tử Hà chẳng buồn nhìn gã: “Tử Tần, bức tranh chỉ là một trong các lý do chúng ta đến đây thôi, tôi còn việc quan trọng hơn phải hỏi Trương nhị ca đây, công tử cầm sổ ra ghi chép lại cho tôi.”

“Được…” Chu Tử Tần ngoan ngoãn lấy bút mực từ chiếc túi đeo trên mình ngựa ra.

“Trương nhị ca, hiện giờ trong tay tôi có cả thảy ba vụ án, đều liên quan tới phủ công chúa.”

Hoàng Tử Hà ngồi xuống đối diện Trương Hàng Anh rồi đi ngay vào đề, phớt lờ vẻ thấp thỏm bất an của gã: “Vụ thứ nhất là Ngụy Hỷ Mẫn, hoạn quan phủ công chúa bị chết cháy tại chùa Tiến Phúc, bấy giờ Trương nhị ca đang ở trong chùa, hơn nữa khi ngọn nến phát nổ, lửa bén vào Ngụy Hỷ Mẫn thì huynh đang ở ngay cạnh y.”

Quai hàm Trương Hàng Anh bạnh ra, gã miễn cưỡng gật đầu.

“Vụ thứ hai, là tại sân kích cúc của Tả Kim Ngô Vệ, trong buổi tỉ thí hôm trước, phò mã Vi Bảo Hoành ngã ngựa bị thương, huynh cũng có mặt tại hiện trường, đang so tài với phò mã.”

Trương Hàng Anh lại gật đầu không đáp.

“Vụ thứ ba, là cái chết của Tôn ghẻ. Thời gian tử vong của hắn ước chừng vào khoảng giờ Ngọ, mà lúc ấy huynh lại ở phường Đại Ninh, bị mấy bà thím ngồi hóng mát trong góc khuất bắt gặp.”

Chu Tử Tần đang múa bút tốc ký cũng dừng phắt lại, ngỡ ngàng nhìn Trương Hàng Anh.

Trương Hàng Anh mấp máy môi, cuối cùng lên tiếng phân trần: “Tôi… tôi cũng chẳng hiểu sao lại trùng hợp như vậy nữa… Thực ra hôm ấy tôi đến phường Đại Ninh, nhưng… nhưng chẳng làm gì cả, thật đấy! Tôi nghe người trong kinh đồn rằng Tôn ghẻ đang nhốt mình trong lồng sắt, nên đến xem thử…”

“Giữa trưa hè nắng chang chang mà huynh đội nắng đi cả nửa thành Trường An, từ Tây sang Đông, chỉ để chứng thực câu chuyện cười về Tôn ghẻ ư?” Hoàng Tử Hà lạnh lùng vặt lại.

Trước thái độ lạnh nhạt của cô, Trương Hàng Anh lúng túng, không ngờ cô lại đột ngột hỏi vặn lại như thế. Ngập ngừng hồi lâu, gã mới nghiến răng đáp: “Tôi bấy giờ… có mang theo dao.”

Chu Tử Tần bối rối cầm chặt cây bút thừ người ra, bắt gặp cái lườm của Hoàng Tử Hà, mới cắm cúi chép lại những lời Trương Hàng Anh kể ra giấy.

“Tôi định đến giết Tôn ghẻ, nhưng khi đến mới phát hiện nhà hắn kiên cố vô cùng, không một khe hở, chẳng khác nào một cái lồng sắt, không sao lẻn vào được… Vì thế, tôi đành quay về.”

“Sao lại muốn tìm Tôn ghẻ?”

“Vì trong trận hỗn loạn ở chùa Tiến Phúc hôm ấy… Lúc Tích Thúy bị rơi mũ, tôi che cho cô ấy, rồi bị đám đông đẩy đến sát tường. Bấy giờ tôi giơ tay chống vào tường, chắn cho cô ấy, cả hai đứng đó không thể nhúc nhích… Đúng lúc ấy, Tôn ghẻ cũng có mặt ở chùa, hơn nữa, lại bị dòng người đẩy đến cạnh chúng tôi…” Trương Hàng Anh kể rất khẽ, trong mắt bùng lên một ngọn lửa dữ dội chưa từng thấy, khoảnh khắc ấy, nam nhân chất phác ôn hòa này đã bộc lộ niềm căm hận chôn sâu tận đáy lòng, khiến những người nghe hiểu ra rằng, dù là người thật thà ngay thẳng đến đâu cũng có lúc muốn bất chấp tất cả để giết chết kẻ thù.

Tích Thúy siết chặt nắm tay lại đặt lên ngực, thở dốc. Vì khóc lóc quá nhiều, mắt nàng đã sưng húp cả lên, giờ chỉ có thể nhắm nghiền mắt lại, gồng hết sức nén tiếng nức nở.

“Tôn ghẻ… trông thấy A Địch, trông thấy tôi đang che chắn cho cô ấy…” Lồng ngực Trương Hàng Anh phập phồng dữ dội, giọng nghẹn lại vì căm hận: “Ánh mắt hắn nhìn A Địch, cứ như rắn độc vậy… Rồi hắn bỗng bật cười hô hố, dương dương tự đắc nói… nói rằng…”

Trương Hàng Anh không kể tiếp được nữa, chỉ cúi đầu, nghiến chặt hai hàm răng, nét mặt hung ác.

“Hắn nói, cái giày ông Tôn mày đi nát rồi, vẫn có thằng nhặt về đi à.”

Giọng Tích Thúy rất khẽ, nghẹn ngào khản đặc.

Đôi mắt đỏ ngầu của nàng trợn trừng, như thể Tôn ghẻ đang đứng ngay trước mặt, còn nàng phải xông tới lóc từng miếng xương miếng thịt hắn ra mới cam lòng.

Hoàng Tử Hà cũng cảm thấy một ngọn lửa hừng hực bốc lên đầu, giữa trời nóng hầm hập, cả người cô như bốc hỏa, chỉ hận hôm ấy ở chùa Tiến Phúc mình không tóm lấy Tôn ghẻ, ném hắn xuống bùn.

Chu Tử Tần bên cạnh đã quăng bút lên bàn rủa: “Đồ khốn! Để ta băm xác hắn thành trăm mảnh!”

Hoàng Tử Hà hít sâu một hơi, gắng nén cơn giận trong lòng xuống, nhắc gã: “Tử Tần lo ghi lại đi, đừng phân tâm!”

Chu Tử Tần hậm hực nhặt bút lên: “Ta phục Sùng Cổ thật đấy, thế mà cũng nhịn được ư.”

“Lúc tra án, kỵ nhất là để tình cảm chen vào, phải luôn đặt bản thân ra ngoài, thì mới quan sát rõ được cục thế.” Nói rồi, cô lại quay sang bảo Trương Hàng Anh và Tích Thúy: “Hai vị bình tĩnh lại đi… Tôn ghẻ đúng là loại cầm thú, không biết lúc ấy Trương nhị ca phản ứng thế nào?”

Trương Hàng Anh nghiến răng đáp: “Bấy giờ tôi chỉ muốn xông tới đánh hắn chết tươi! Tiếc rằng trong chùa rất hỗn loạn, chen chúc đông nghẹt, tôi không sao lách tới chỗ hắn được, đành trơ mắt nhìn hắn nhơn nhơn bỏ đi!”

Hoàng Tử Hà lại hỏi Tích Thúy: “Thấy Trương nhị ca phẫn nộ như thế, cô nương nghĩ gì?”

Tích Thúy chầm chậm lắc đầu, giơ tay lên day huyệt Thái dương đang giần giật, khó nhọc đáp: “Bấy giờ tôi… chỉ thấy mình đã chết rồi, không nhìn không nghe được gì nữa cả, Trương nhị ca làm gì… tôi cũng không có cảm giác. Sau đó Trương nhị ca dìu tôi về… Tôi cũng chẳng biết mình về nhà thế nào nữa…”

“Trương nhị ca, lúc đó huynh đã biết thân phận thực của A Địch cùng những việc cô ấy gặp phải, cũng biết rõ bi kịch của cô ấy không chỉ do Tôn ghẻ gây ra, mà còn có bàn tay Ngụy Hỷ Mẫn, đúng không?”

Trước câu hỏi của Hoàng Tử Hà, Trương Hàng Anh sững ra, không biết trả lời thế nào.

Chu Tử Tần liền xen vào: “Lần trước Trương nhị ca kể với ta rằng, trước đó huynh ấy không biết chuyện của Tích Thúy, cũng không biết nội tình lại liên quan tới phủ công chúa.”

“Trương nhị ca nói dối, đúng không?” Hoàng Tử Hà đứng dậy, đi đến cạnh Na Phất Sa, lấy tập tài liệu của Đại Lý Tự từ chiếc hòm trên lưng nó, rút ra một tờ cho mọi người xem.

“Trương nhị ca kể với Tử Tần rằng, khi Ngụy Hỷ Mẫn chết cháy, huynh không biết y là Ngụy Hỷ Mẫn, cũng không trông thấy Ngụy Hỷ Mẫn bắt lửa thế nào, phải không?”

Trương Hàng Anh lặng lẽ gật đầu.

“Nhưng người Đại Lý Tự lại điều tra được một chuyện vụn vặt trong phủ công chúa: mấy hôm trước khi xảy ra chuyện ở chùa Tiến Phúc, thuốc công chúa thường uống sắp hết, mà Thái Y Viện lại thiếu một vị thuốc nên chưa chế được. Thế là Ngụy Hỷ Mẫn, kẻ tháo vát nhất bên cạnh công chúa bèn đi khắp mấy tiệm thuốc lớn trong kinh tìm mua. Sau khi về phủ, y còn nói với người khác rằng, hiện giờ trong các tiệm thuốc ở kinh thành, Đoan Thụy Đường có thể xếp hàng đầu, sân phơi thuốc thì rộng mênh mông, tên giúp việc chuyên xóc thuốc ở đó trông cũng khôi ngô đĩnh đạc, hơn hẳn các nhà.”

Trương Hàng Anh ngồi bất động, ánh mắt nhìn dán vào mặt bàn đá, không chớp.

“Đại hoạn quan phủ Đồng Xương công chúa đích thân đến tận sân phơi tìm mua thuốc, còn quan sát huynh xóc thuốc, lẽ nào huynh lại quên ư? Dù huynh không biết nghe ngóng, chẳng lẽ không ai nói với huynh người đó là ai?”

Chu Tử Tần ngạc nhiên nhìn Trương Hàng Anh, mặt nhăn như bị: “Trương nhị ca thành thực như vậy mà… cũng gạt ta ư?”

“Đâu chỉ có thế.” Hoàng Tử Hà nhìn chằm chằm Trương Hàng Anh, “Trương nhị ca, huynh cũng đã biết Ngụy Hỷ Mẫn là một trong những kẻ đầu sỏ hại Tích Thúy thành ra như thế, đúng không?”

“Phải… Là tôi gạt các vị.” Trương Hàng Anh cuối cùng cũng lên tiếng, giọng khản đặc, chậm rãi mà khó nhọc trả lời: “Tôi đã biết thân phận thực của A Địch từ lâu rồi. Bởi thế tôi từng đến tiệm nhang đèn nhà họ Lữ xem có nên báo với cha cô ấy rằng cô ấy chưa chết, đang ở nhà tôi hay không…”

Nào ngờ khi đến, gã lại phát hiện mấy người, trong đó có cả Ngụy Hỷ Mẫn, hoạn quan phủ công chúa mà gã từng gặp, đang khiêng một bao tải khá nặng đi vào.

Người phủ công chúa cứ ở mãi trong nhà không ra, gã loáng thoáng nghe thấy mấy tiếng “Tích Thúy”, bèn lẻn đến dưới song cửa, áp tai vào tường nghe lén.

Đầu tiên là giọng Ngụy Hỷ Mẫn hống hách: “Lão Lữ à, Tích Thúy mạo phạm công chúa nên ta mới sai người đánh cho một trận. Nào ngờ cô ta không chịu được đòn roi, mới đánh mấy cái đã ngất xỉu. Phủ công chúa không thể giữ người lại dưỡng thương, đương nhiên phải đưa ra ngoài. Về sau gặp phải chuyện đó thì liên quan gì tới chúng ta? Hôm nay ta nói thẳng, xảy ra chuyện như vậy là do con gái lão xui xẻo, chẳng liên quan gì tới phủ công chúa cả! Giờ chẳng qua công chúa và phò mã thương hại các ngươi nên mới ban cho những thứ này, để các ngươi khỏi nói lung tung ra ngoài, bôi nhọ thanh danh phủ công chúa đấy thôi, lão có hiểu không hả?”

Bên trong vang lên tiếng Lữ Chí Nguyên xóc xóc mấy đĩnh bạc, rồi chậm rãi nói: “Các công công cứ yên tâm, tôi đã cho con gái một sợi dây thừng, để nó tự đi tìm lấy bình yên rồi, sau này sẽ không bao giờ xuất hiện trước mặt các vị nữa đâu.”

“Lão biết thế là tốt.” Ngụy Hỷ Mẫn ném lại một câu rồi quay lưng dẫn mấy hoạn quan kia đi thẳng.

Trương Hàng Anh nấp dưới cửa sổ, nghe chúng vừa đi vừa chửi rủa: “Lão già khốn kiếp này, sống chẳng được mấy lâu mà nhận tiền nhanh thế, cũng chẳng tự nhìn lại xem mình có số hưởng hay không?”

“Đúng thế, lão không con không cái, sau này chết đi để tiền cho ai!”

“Xời, ngươi còn sợ lão không tiêu hết mấy đồng tiền cỏn con ấy sao!”

Trương Hàng Anh thuật lại chuyện hôm đó rồi thừ người ra, ánh mắt dừng ở Tích Thúy, dịu giọng: “A Địch, giờ không sao nữa rồi, những kẻ gây ra bi kịch của muội đều đã chết cả… Sau này muội nhất định sẽ hạnh phúc.”

Tích Thúy mở to đôi mắt sưng húp nhìn gã, không nói một lời.

Trái lại, Chu Tử Tần ngỡ ngàng run run hỏi: “Trương nhị ca, lẽ nào… hung thủ là huynh thật ư?”

Trương Hàng Anh lắc đầu phân bua: “Không phải tôi, đúng là tôi muốn giết chúng, nhưng không có cơ hội.”

Hoàng Tử Hà nhìn hai người trước mặt, một bên là nam tử khôi ngô ngay thẳng, một bên là thiếu nữ thanh tú tháo vát, vốn là một cặp đẹp đôi, nhưng ai mà ngờ được, giữa họ lại có bấy nhiêu mưa sầu gió thảm, long đong trắc trở nhường ấy?

Nghĩ vậy, cô chỉ biết thở dài, ra ý bảo Chu Tử Tần gấp giấy bút lại rồi nói: “Trương nhị ca, hy vọng lần này huynh không nói dối chúng tôi. Cũng mong rằng chúng tôi sẽ không tìm thấy thêm chứng cứ phạm tội của huynh nữa.”

Trương Hàng Anh đứng dậy cúi đầu không nói. Thân hình cao lớn của gã lúc này chợt còng xuống, tựa hồ cái gánh trên vai đã quá nặng, khiến gã không thể tự chủ, cũng chẳng lấy lại được lòng hăng hái như xưa nữa.

Ánh mắt Hoàng Tử Hà lại dừng ở Tích Thúy, cô nói như than thở: “Hy vọng bức tranh kia mau quay trở về. Sớm giao được cho Đại Lý Tự, coi như cũng xong một việc.”

Ra khỏi nhà họ Trương, Hoàng Tử Hà một mực lặng thinh. Ngay cả Chu Tử Tần hằng ngày vẫn bô lô ba la, giờ cũng im như thóc.

Gã cưỡi Tiểu Hà theo sau Na Phất Sa, cùng cô đi về phía Đông. Vòng qua phường Lễ Tuyền vào chợ Tây, gã mới hỏi: “Ta đi đâu đây?”

Hoàng Tử Hà đáp: “Tới tìm ông chủ tiệm ngựa Tiền Ký, Tiền Quan Sách.”

Mặt tiền tiệm ngựa Tiền Ký chiếm một khoảnh rất rộng ở chợ Tây, vừa vào đã thấy. Nhưng mấy tàu ngựa trong khoảnh sân mênh mông phía sau còn lớn hơn. Ông chủ Tiền Quan Sách đang hả hê đi lại giữa những dãy chuồng, quan sát con này, vỗ về con kia, hài lòng ra mặt.

“Chào ông chủ Tiền.” Hoàng Tử Hà lên tiếng.

Vẻ thỏa mãn tắt lịm, nét mặt Tiền Quan Sách chuyển sang bối rối cùng niềm nở đầy khách sáo: “Ai da, Dương công công! Không kịp tiếp đón công công từ xa, tại hạ thật là thất lễ!”

“Đâu có, là ta không muốn kinh động ông chủ Tiền, nên không đợi được thông báo đã đi thẳng vào xem ngựa.” Nói rồi cô giao cương ngựa cho tay giữ ngựa cạnh đó.

Vừa trông thấy Na Phất Sa, Tiền Quan Sách đã sáng mắt lên, sán đến sờ nắn vuốt ve nó một lượt rồi tấm tắc: “Ngựa tốt, đúng là ngựa tốt mà… Trong số các thớt ngựa đã qua tay tôi bao năm nay, chẳng con nào bì được con này cả. Công công tìm đâu ra nó vậy?”

“Ừm… Chủ cũ chê nó quá hiền hòa nên giao cho ta cưỡi tạm.” Đoạn Hoàng Tử Hà vào đề ngay, “Ông chủ Tiền, gác chuyện ngựa qua một bên đi, hôm nay ta đến là có việc muốn thỉnh giáo ông.”

“Ôi, không dám không dám, công công có gì cứ hỏi đi, tôi nhất định biết đến đâu khai đến đấy, biết hết khai hết!” Tiền Quan Sách nói mà mắt không rời Na Phất Sa, đầy vẻ thèm muốn.

Chu Tử Tần rầu rĩ dắt con Tiểu Hà của mình vào buộc cạnh Na Phất Sa để hai con cùng ăn cỏ. Vừa trông thấy gã, Tiền Quan Sách vội chắp tay chào: “Chu công tử! Ngưỡng mộ đã lâu, lần này được công tử hạ cố đến thăm, thật là vinh dự cho tôi quá!”

“Ông biết ta ư?”

“Công tử khéo đùa, trong thành Trường An này có ai không biết công tử?”

Hoàng Tử Hà nghe nói liền quay sang xem xét bộ đồ hôm nay Chu Tử Tần mặc. Áo lụa màu xanh cánh trả, thắt lưng vàng cam, đi giày đỏ, đeo đủ thứ dây nhợ trang sức lùng nhùng, hèn chi người trong kinh thành chỉ cần trông thấy một lần, nhất định sẽ có ấn tượng sâu sắc, không thể nào quên.

Chu Tử Tần cũng chắp tay chào Tiền Quan Sách: “Ông chủ Tiền, ta cũng nghe danh ông đã lâu, nghe nói ông là người làm ăn giỏi nhất kinh thành, trong vòng mười năm mà phát đạt đến thế này, quả là truyền kỳ, truyền kỳ!”

“Đâu có, đều nhờ phúc mọi người cả thôi.” Tiền Quan Sách cười khà dẫn họ vào trong, ngồi xuống một tấm thảm Ba Tư dày dặn, lại sai người hầu pha trà, rồi hỏi: “Chẳng biết hai vị đến có việc gì? Không rõ phủ Quỳ vương có việc sai bảo, hay là nha môn bộ Hình có gì căn dặn?”

“Thực không dám giấu, giờ hai chúng ta đều bị Đại Lý Tự phái đi điều tra mấy vụ án liên quan tới phủ công chúa.” Hoàng Tử Hà vào đề ngay.

Cơ thịt trên gương mặt nung núc của Tiền Quan Sách giần giật, hắn lo lắng phân trần: “Dương công công, lần trước tiểu nhân đã trình bày với ngài rồi đấy thôi, tôi và phò mã quả thật chỉ gặp nhau có đúng ba lần, thật mà! Còn công chúa thì, tôi xin thề rằng mình vô duyên vô phúc, xưa nay chưa từng được gặp!”

“Lần này ta đến không phải hỏi về việc phò mã.” Hoàng Tử Hà bưng chén trà nóng hổi vừa pha, quan sát hắn qua màn khói: “Ta chỉ muốn hỏi ông chủ Tiền, về việc… con gái ông mười năm trước.”

Cơ mặt Tiền Quan Sách đang giần giật bỗng cứng đờ, hắn ngây người thật lâu mới thở hắt ra, cả người sụp xuống, như một đống thịt chảy nhão ra trên thảm: “Dương công công, con gái tôi… ôi, bỗng dưng công công hỏi đến chuyện mười năm trước làm gì?”

“Ta nghe nói năm xưa ông chủ Tiền dắt díu cả nhà từ quê lên đây lánh nạn, đến nơi thì nhẵn túi, phải lang thang ngoài đường kiếm ăn, suýt thì chết đói. Số vốn đầu tiên để khởi nghiệp, là lấy từ…”

“Là từ tiền bán con gái.” Tiền Quan Sách cắt lời cô, giọng mệt mỏi, “Ài, tuy tôi chẳng còn mặt mũi nào mà nói ra, nhưng công công đã biết thì tôi đành kể vậy. Mười năm trước, Hoàng Hà đổi dòng khiến quê tôi bị lụt, nhà cửa ruộng vườn ngập úng cả. Tôi thấy không còn đường sống, đành dắt díu vợ, con gái, cùng hai đứa con trai lên kinh. Kết quả trên đường đi vợ tôi lâm bệnh qua đời, đành đào hố chôn ngay bên đường. Về sau tôi phát đạt, quay lại tìm kiếm mấy lần mà không sao tìm thấy chỗ chôn bà ấy nữa…”

Chu Tử Tần rút giấy bút ra, bắt đầu miệt mài ghi chép rất chuyên nghiệp.

Thấy gã ghi lại, Tiền Quan Sách hơi chần chừ, xong vẫn kể tiếp: “Sau khi dẫn ba đứa nhỏ đến Trường An, tôi quá túng quẫn. Buôn bán thì không có vốn, làm việc nặng thì dọc đường lặn lội đến đây, tôi đã đói đến bải hoải cả người rồi. Thế là tôi đành dắt theo ba đứa con lê lết xin cơm ngoài phố, được ngày nào hay ngày nấy, xong cứ thế mãi thì một người lớn và ba trẻ nhỏ đều phải chết đói. Ebook Fun&Free Cho tới một hôm, cha con tôi đang xin cơm thì trông thấy một hoạn quan đi tìm mua cung nữ hoạn quan, một đứa trẻ là năm quan tiền. Tôi bèn nhìn lại ba đứa con, tính rằng nếu bán đi một đứa, kiếm ít tiền vốn làm ăn, không chừng hai đứa kia còn có con đường sống. Thế là, tôi bèn bảo Hạnh nhi, con gái mình: ‘Hạnh nhi, hai em con còn ít tuổi, hơn nữa sau này con trai lớn lên phải nối dõi tông đường, đúng không nào? Chi bằng con đi theo vị công công kia đi.’ Bấy giờ Hạnh nhi khóc lóc thảm thiết, cứ ôm ghì lấy chân tôi không buông. Nhưng tôi cũng chẳng có cách nào, đành ngồi xuống ôm lấy nó mà nước mắt ròng ròng, dỗ dành, ‘Hạnh nhi, lần này con vào cung làm cung nữ, sẽ được ăn ngon mặc đẹp, nhưng nếu hai em vào cung làm hoạn quan thì sẽ phải cắt bỏ bộ phận bên dưới. Con nói xem, con đành lòng để em mình chịu đau đớn như thế ư? Người làm chị như con, sao lại không hiểu chuyện thế?’”

Kể đến đây Tiền Quan Sách cũng rơi nước mắt. Một người đàn ông ngoại tứ tuần mà còn khóc nức nở, nước mắt lăn dài trên gương mặt phì nộn, ngoằn ngoèo chảy xuống, nhìn hết sức tức cười, nhưng Hoàng Tử Hà và Chu Tử Tần chẳng ai cười nổi, chỉ thấy xót xa.

“Ôi, đúng là cái khó bó cái khôn… Giờ nghĩ lại hành động bán con gái năm ấy, chẳng phải rất khốn nạn ư? Trong cung cấm mỗi năm có bao nhiêu cung nữ âm thầm chết đi, bị quẳng ra bãi tha ma, ném xuống hố rồi vùi đất lên, thế là xong một kiếp người. Nhưng lúc đó không còn đường sống nữa, chỉ trông vào một mình Hạnh nhi, nên tôi đành…” Tiền Quan Sách cúi gằm mặt, rầu rĩ kể, “Tôi dùng tiền bán Hạnh nhi làm vốn bắt đầu buôn cỏ khô, trong khi buôn bán lại gặp được quý nhân mách tôi ra quan ngoại mua ngựa. Tôi gặp may, từ hai ba thớt ngựa ban đầu, mua đi bán lại thành mười mấy thớt, về sau có chút tiếng tăm, một lần triều đình đặt mua mấy nghìn thớt ngựa, thế là phất lên. Lại cưới một vợ một thiếp, muốn sinh thêm đứa con gái, nào ngờ bấy nhiêu năm nay, tiểu thiếp cũng chỉ sinh được một con trai. Tôi nghĩ có lẽ ông trời trừng phạt, đời nay tôi sẽ không có con gái nữa…”

Hoàng Tử Hà dịu giọng an ủi: “Ông chủ Tiền, cũng còn may, trời xanh đã thương xót để ông tìm thấy con gái tại phủ công chúa rồi còn gì.”

“Đúng thế, nhưng Hạnh nhi không chịu tha thứ cho tôi…” Tiền Quan Sách than thở, “Tôi lén đến phủ công chúa thăm nó mà nó không cho thấy mặt, chỉ đứng sau bức bình phong, chìa cho tôi xem vết bớt hồi nhỏ. Tôi đưa đồ ăn thức mặc đến cho nó, nó bao giờ cũng biếu quà đáp lễ… Nhưng nó không chịu gặp tôi, nói rằng từ khi bị bán đi đã lập lời thề, không bao giờ nhìn mặt tôi nữa.” Hắn buồn rầu khòm hẳn lưng xuống, lắc đầu, “Kiếp này, biết được con gái vẫn còn sống, nói được với nó mấy câu, tôi thấy cũng đủ lắm rồi.”

Lần này, Chu Tử Tần cũng buột miệng hỏi: “Sao ông biết được… người đứng cách bình phong ấy là con gái mình?”

“Đương nhiên là nó rồi. Vết bớt trên tay người đó giống hệt con gái tôi, màu hồng hồng ngả xanh cũng giống hệt! Không phải nó thì còn ai?” Tiền Quan Sách quả quyết lắc đầu, ra sức bảo vệ sự thực đã tìm được con gái, “Huống hồ giả làm con gái tôi thì có lợi lộc gì đâu? Chẳng qua tôi chỉ cho nó mấy thứ đồ ăn, nào có gì đáng tiền. Chỉ độc một lần, nó bảo, chợ ngoài phố có bán loại đồ chơi hồi bé nó thích chơi nhưng bị người ta vứt đi? Tôi liền đi tìm mua ngay, lần sau lại thăm đưa cho nó, nó biếu lại tôi một chiếc hộp. Tôi cũng không để ý, nào ngờ vừa mở ra xem… Ôi, đúng là giật nảy cả mình.”

Tiền Quan Sách dường như không hề tức giận việc họ hoài nghi con gái mình, vừa nói vừa đứng dậy đi vào trong, lách cách mở khóa đóng khóa hồi lâu, mới bưng một chiếc hộp ra đặt trước mặt họ, vẻ tự hào: “Các vị xem này, là con gái biếu tôi đấy.”

Chiếc hộp làm từ gỗ tử đàn, trên khắc hoa văn tinh tế, thoạt nhìn đã biết chẳng phải tầm thường. Vừa mở hộp, Hoàng Tử Hà và Chu Tử Tần cũng ngây ra.

Bên trong là một con cóc chừng nửa bàn tay, bằng vàng ròng, ngồi trên một phiến lá sen bằng ngọc phỉ thúy. Những nốt mụn trên mình nó làm bằng đá quý đủ màu, ngay hạt sương trên lá cũng là một viên pha lê được mài tròn, lăn đi lăn lại trên phiến lá xanh biếc, nhìn đẹp vô cùng.

Tiền Quan Sách tự đắc khoe: “Bấy giờ tôi cũng giật thót mình, lập tức đưa trả lại, bảo nó: ‘Hạnh nhi, thứ quý giá thế này, sao con có thể tiện tay biếu cha được?’ Các vị đoán xem nó nói sao? Nó nói trong phủ công chúa đầy những thứ như thế, cái này là công chúa không thích mới ban cho nó, bảo tôi cứ việc nhận, không sao cả. Thị nữ đi theo nó cũng nói, ‘Đúng thế, đây là vật công chúa ban tặng, ông cứ cầm đi, không việc gì đâu.’”

Đoạn Tiền Quan Sách đóng nắp hộp lại, ôm vào lòng, tấm tắc, “Biết được bây giờ Hạnh nhi phú quý như thế, công chúa lại đối tốt với nó, tôi cũng yên tâm rồi. Chỉ mong một lúc nào đó nó chịu nhìn mặt, gọi tôi một tiếng cha, ấy là tôi thỏa nguyện.”

Hoàng Tử Hà và Chu Tử Tần nhìn nhau, cô nói: “Đúng vậy, thế này là mừng rồi.”

Tiền Quan Sách cứ ôm khư khư cái hộp, vẻ mặt vừa xót xa lại vừa tự hào.

Hoàng Tử Hà hỏi tiếp: “Còn chút việc nữa phải thỉnh giáo ông chủ Tiền?”

“Xin Dương công công cứ nói.”

“Ta nghe nói, ông đã tặng cho Xương Bồ, người cai quản nhà bếp của công chúa, một ít linh lăng hương?”

“À, đúng là có chuyện này.” Tiền Quan Sách gật đầu, “Xương Bồ giúp tôi tìm được Hạnh nhi, tôi phải cảm tạ cô ấy chứ?”

Hoàng Tử Hà cười: “Ông chủ Tiền quả là cao nhã, người bình thường chỉ biết biếu tiền, ai mà nghĩ đến việc tặng linh lăng hương?”

“Ôi chao, vì Xương Bồ bảo lén lút nhận tiền của người ngoài phủ là tội to. Sau đó lúc rời phủ công chúa, tôi lại gặp Lữ Chí Nguyên. Biết tôi đã tìm được con gái, lão cũng mừng cho tôi.”

Hoàng Tử Hà rùng mình: “Ông cũng biết Lữ Chí Nguyên ư?”

“Tôi có biết. Bắt đầu từ năm ngoái, tôi đã thuê một nhóm thợ nề, chuyên nhận xây nhà đảo ngói. Rất nhiều người nhân lúc xây nhà muốn đục luôn hốc tường để đặt nến, hoặc gắn giá nến lên tường, nên tôi hợp tác với lão ta. Lúc con gái lão gặp chuyện, tôi còn kể chuyện con gái tôi cho lão nghe, khuyên lão thương lấy con bé, đừng rủa xả khinh khi nó nữa, tiếc rằng lão già cố chấp đó không nghe…”

“Vậy Lữ Chí Nguyên bảo gì ông?”

“Lão ta ấy hả, lão biết tôi cần tìm thứ gì đó để cảm ơn Xương Bồ, bèn gợi ý với tôi rằng, nữ nhân thường thích những thứ như hoa đẹp hay hương thơm, vừa hay tiệm nhang đèn nhà lão mới nhập một lô linh lăng hương thượng hảo để chuẩn bị cho pháp hội ở chùa Tiến Phúc, nếu tôi muốn, lão sẽ san cho tôi một ít. Nghe lão nói cũng có lý nên tôi tán thành. Hôm sau, tôi tới tiệm nhà lão lấy sáu lạng linh lăng hương đem biếu Xương Bồ, còn làm theo lời Lữ Chí Nguyên, chỉ cho cô ấy mỗi ngày trước khi đi ngủ đốt chừng một hai que, sẽ giúp ngủ ngon, an thần.”

“Sau đó, người ở phủ công chúa có ai tới tìm ông đòi thêm không?”

“Sao công công lại biết?” Tiền Quan Sách kinh ngạc hỏi, “Sau đó sáu bảy hôm, Ngụy Hỷ Mẫn công công ở phủ công chúa tự dưng đến tìm, nói tôi tư thông với Xương Bồ, nếu không cho y thêm hương liệu, y sẽ làm toáng lên. Tôi nhức đầu quá, đành dẫn y tới chỗ Lữ Chí Nguyên, định mua thêm thí cho y. Nào ngờ Ngụy Hỷ Mẫn vừa trông thấy lão Lữ đã tái mét mặt, luôn miệng giục lão lấy linh lăng hương cho mình, bảo rằng có việc gấp phải đi, xong lão cứ lục đục mãi bên trong không chịu ra. Tôi thấy tên Ngụy Hỷ Mẫn đó thực khó dây, bèn kiếm cớ chuồn thẳng.”

Hoàng Tử Hà hỏi: “Đó là hôm nào?”

“Để tôi nhớ xem nào… Có lẽ là…” Tiền Quan Sách gãi đầu nghĩ ngợi hồi lâu rồi đáp, “Một ngày trước pháp hội ở chùa Tiến Phúc. Đúng, chính là một ngày trước khi phủ công chúa có người bị chết cháy trong pháp hội.”

“Tên hoạn quan bị thiêu chết đó chính là Ngụy Hỷ Mẫn, ông chủ Tiền có biết không?”

“Ôi chao… Đúng là…” Tiền Quan Sách kinh ngạc thốt lên, đôi vai vốn đã thẳng dậy, giờ lại khòm xuống, “Hai quý nhân ơi, tôi nói thực đấy! Chuyện này không liên quan gì đến tôi đâu! Thật mà! Tôi chỉ dẫn y đến chỗ Lữ Chí Nguyên rồi đi thôi! Các vị xem, cửa hàng của lão cách tiệm tôi không xa, tôi và Ngụy công công chỉ gặp nhau chừng một khắc thôi… Nếu, nếu chuyện này có vấn đề gì, thì nhất định là ở Lữ Chí Nguyên!”

“Vậy lúc Tôn ghẻ chết ở phường Đại Ninh, ông cũng có mặt ở hiện trường thì sao?”

Tiền Quan Sách buồn rười rượi, gật đầu: “Đại Lý Tự cũng truyền gọi tiểu nhân về việc này rồi. Nhưng lúc tôi bước vào, quả thực Tôn ghẻ đã chết rồi mà! Sắp thối um lên rồi! Đại Lý Tự đã tra rõ, việc này không liên quan gì đến tôi nên mới thả cho về… Công công nói xem, tôi có xui xẻo không…”

Tiền Quan Sách cứ lải nhải mãi, chung quy chỉ là kêu ca xui xẻo, Chu Tử Tần chán chẳng buồn ghi, bèn gác bút, gập giấy lại, nhìn sang Hoàng Tử Hà.

Hoàng Tử Hà bèn đứng dậy chắp tay hành lễ với hắn: “Ông chủ Tiền, hôm nay quấy rầy lâu quá, mong ông đừng để bụng nhé.”

“Đâu dám đâu dám! Hoan nghênh các vị tới chơi thường xuyên…” Đoạn hắn nhăn nhó nói thêm, “Dĩ nhiên, nếu lần sau tới không phải vì việc của Đại Lý Tự thì càng tốt.”
 

Cam Miên

đậu phụ của hòa thượng
Thành viên BQT
Mod - Sưu Tầm
Mod - Công Viên Xanh
Sưu tầm
Tham gia
13/4/19
Bài viết
1,447
Điểm cảm xúc
980
Điểm
113
Rời khỏi tiệm ngựa Tiền Ký, Chu Tử Tần luôn miệng than vãn: “Chán chết đi được… Cứ phải nghe mấy chuyện lải nhải đó mãi, thi thể để ta trổ tài đâu rồi? Giây phút vụ án được vạch trần trong chớp mắt cũng ở đâu rồi?”

“Tra án vốn nhàm chán mà, giờ việc công tử cần làm là rút từ mớ bòng bong đó những manh mối quan trọng nhất, rồi sắp xếp lại mọi thứ.” Hoàng Tử Hà vừa nói vừa đi trên con đường trong chợ Tây.

Chu Tử Tần nhăn nhó hỏi: “Đi đâu đây?”

“Tiệm nhang đèn nhà họ Lữ.”

“Gì cơ? Lại tới hỏi han lão khốn đó à?” Chu Tử Tần dắt Tiểu Hà, hậm hực nói: “Có lúc ta thực muốn thay Tích Thúy cho lão một cái tát! Công công bảo, trên đời có hạng người khốn nạn đến thế ư?”

“Trước khi chân tướng hé lộ, kết luận gì cũng là quá sớm.” Hoàng Tử Hà đáp, đoạn buộc Na Phất Sa vào một gốc cây bên đường, đi thẳng vào tiệm nhang đèn.

Lữ Chí Nguyên đang làm bấc nến, những thân sậy thô có mảnh có, sau khi tước được xếp đều tăm tắp. Nghe tiếng bước chân người đi đến, lão chẳng buồn ngẩng lên, chỉ hỏi: “Cần gì?”

“Lữ lão trượng, làm ăn vẫn khá đấy chứ?” Hoàng Tử Hà hỏi.

Bấy giờ Lữ Chí Nguyên mới từ từ ngẩng lên nhìn cô, rồi lại cúi đầu tiếp tục tước sậy, “Ồ, là ngài.”

“Làm phiền lão trượng rồi, lần này lại có việc phải hỏi, xin lão chớ giận.” Thấy lão chẳng buồn nhìn đến mình, Hoàng Tử Hà bèn tự kéo ghế cùng Chu Tử Tần ngồi xuống.

Lữ Chí Nguyên vẫn cắm cúi làm, xong Hoàng Tử Hà cũng chẳng lấy làm điều, thản nhiên hỏi: “Nghe nói trước hôm Ngụy Hỷ Mẫn chết, từng đến tiệm nhà lão mua linh lăng hương?”

Lữ Chí Nguyên lầm bầm: “Tiệm nhà lão bán cả hương lẫn nến.”

“Lão có thể thuật lại tình cảnh hôm Ngụy Hỷ Mẫn đến không?”

“Tên lại cái trước đó từng đến đây đưa tiền đền bù của phủ công chúa cho lão. Lần này là do ông chủ Tiền dẫn đến, y vừa mở miệng đã đòi linh lăng hương, than rằng mình mắc chứng đau đầu, thường hay mất ngủ, dùng linh lăng hương mới đỡ phần nào. Chỗ lão cũng chỉ còn hai miếng, tổng cộng ba lạng bốn tiền, bèn bán cả cho y, lấy sáu trăm tám mươi đồng.”

“Bán xong thì sao?”

“Lão để ý đến y làm gì, khách đến nhà thì lão bán hàng, thu tiền xong là thôi, chứ làm gì nữa?”

Hoàng Tử Hà cũng chẳng tranh cãi, chỉ nói: “Tối hôm ấy, Ngụy Hỷ Mẫn mất tích. Người phủ công chúa tìm không thấy y, đến ngày hôm sau thì y chết cháy ở chùa Tiến Phúc.”

Lữ Chí Nguyên từ từ ngẩng lên, nhìn chòng chọc vào cô bằng đôi mắt đục ngầu: “Lẽ nào ý công công muốn nói lão có liên quan đến cái chết của y?”

Hoàng Tử Hà nhìn xoáy vào lão, không đáp.

“Một người đủ chân đủ tay, biết đi biết chạy, ngày hôm sau còn xuất hiện sờ sờ ở chùa Tiến Phúc, hôm trước đến tiệm nhà lão mua ít hương liệu thì liên quan quái gì đến Đại Lý Tự.” Lữ Chí Nguyên mặc cô ngồi đó, đứng dậy rút mấy sợi sậy dài nhất xoắn chặt vào nhau, bó vải ra ngoài, tạo thành một sợi tim nến khổng lồ.

Chu Tử Tần hỏi: “Cây nến lớn thế này là để bù vào cây bị cháy ở chùa Tiến Phúc phải không?”

“Phải, hôm nay làm thân nến, ngày mai sẽ dùng sáp màu quết lên thành hình rồng phượng hoa lá, sau đó rắc kim nhũ lên là xong.”

Xem ra làm một cây nến to có rất nhiều công đoạn rườm rà vất vả, nhưng vào tay kẻ lão luyện như Lữ Chí Nguyên thì lại rất nhanh. Hoàng Tử Hà ngẫm nghĩ, rồi nhìn sang từng thùng sáp nến la liệt, hỏi: “Lữ lão trượng thành thạo quá, hôm trước lão nói chùa Tiến Phúc gom góp bao lâu mới đủ sáp cho lão làm đôi nến, thế mà mới mấy ngày lão đã tự kiếm đủ rồi.”

“Lão sống đến từng này tuổi, chẳng dành dụm được bao nhiêu tiền, nhưng sáp nến thì cũng trữ được ít nhiều.” Lữ Chí Nguyên nói đoạn lệt sệt kéo sợi tim nến đi ra sau nhà. Chiếc nồi lớn phía sau đang đun sáp, bốc lên mùi gây gây.

Lữ Chí Nguyên nhúng sợi tim nến bọc trong lần vải vào nồi để nó ngấm dầu sáp, rồi lôi một khuôn nến cao bằng người ra, đồng thời bưng ra mấy chiếc thùng lớn có nhỏ có.

Lão trèo lên ghế, dùng cái muôi đồng đường kính đến một thước múc sáp lỏng từ từ đổ đầy khuôn và các thùng.

Hoàng Tử Hà thuận miệng khen: “Lão trượng khỏe thật đấy, sắp lục tuần rồi mà vẫn một mình làm việc nặng thế này.”

“Hừm, đám trẻ hiện giờ có đứa nào chịu được khổ đâu, mới học việc được hai hôm đã chạy mất tăm, lão cũng hết cách.” Lữ Chí Nguyên lạnh lùng tiếp, “Dạo còn trẻ, lão tòng quân, ở trong đội cung nỏ, một tay giương được cây cung nặng ba thạch ấy.”

“Ồ, thì ra lão trượng từng dốc sức cho nước nhà.”

Nói vậy nhưng Chu Tử Tần cũng chẳng mấy để tâm, lại quay về với chủ đề cũ, “Cái khuôn này hình như nhỏ hơn cây nến thành phẩm?”

“Tìm đâu ra khuôn cao đến một trượng chứ?” Lữ Chí Nguyên vừa múc sáp lỏng vừa đáp: “Phải đổ vào các thùng này cho sáp đông lại, rồi đổ ra ghép lại với nhau, gọt giũa những phần to nhỏ không đều, phết một lớp sáp ra ngoài để cố định, mới thành một cây nến hoàn chỉnh.”

Chu Tử Tần ngây ngô hỏi: “Thế làm sao cho được tim nến vào?”

Lữ Chí Nguyên lườm gã: “Phần sáp ở giữa đông chậm hơn, nên sau khi ghép lại, không gọt giũa vội, mà nhân lúc phần giữa còn mềm, buộc một chiếc kim sắt nung đỏ vào sợi tim nến rồi cắm vào khối sáp, cây kim sẽ xuyên thẳng xuống tận đế.”

“Ra là thế!” Chu Tử Tần trầm trồ, “Quả nhiên ba trăm sáu mươi nghề, nghề nào cũng có bí quyết.”

Hoàng Tử Hà đang nghĩ cách hỏi Lữ Chí Nguyên về Tôn ghẻ thì chợt nghe bên ngoài có người gọi toáng lên: “Này lão Lữ! Lữ Chí Nguyên!”

Lữ Chí Nguyên chẳng buồn để tâm, vẫn mải miết rót sáp.

Kẻ ngoài cửa xộc thẳng vào, giậm chân hét lớn: “Này lão Lữ! Con bé Tích Thúy nhà lão… sắp chết kìa!”

Lữ Chí Nguyên sững người, bàn tay đang cầm chắc chiếc muôi đồng chợt run bắn lên: “Gì cơ? Nó vẫn chưa chết à?”

“Chưa chết! Có điều lần này sắp chết thật rồi!” Nghe thấy câu này, cả Hoàng Tử Hà và Chu Tử Tần cũng ngẩn ra.

“Con gái lão đến Đại Lý Tự đầu thú rồi, khai rằng mình là hung thủ giết hoạn quan phủ công chúa và Tôn ghẻ!”

Đại Lý Tự.

Hễ đến giờ ăn trưa là Thôi thiếu khanh răm rắp về nhà dùng cơm với phu nhân, vậy mà hôm nay vẫn còn ngồi đó. Vừa thấy bọn Hoàng Tử Hà đến, hắn mừng rỡ chạy ra đón: “Tử Tần! Sùng Cổ! Tốt quá rồi, không mất tí hơi sức nào hung thủ đã tự ra đầu thú, mấy hôm chạy đôn chạy đáo cuối cùng cũng kết thúc rồi! Áp lực phủ công chúa đè xuống cũng được giải tỏa hết!”

Hoàng Tử Hà theo hắn vào trong, miệng hỏi: “Nghi phạm nhận hết rồi ư?”

“Nhận hết! Ả cầm một bức tranh tới tự thú, còn nói là thủ bút của tiên hoàng gì đó, nhưng ta nhìn mấy đường nét nguệch ngoạc ấy chẳng giống gì cả.”

Họ vừa đi vừa nói, chẳng mấy chốc đã ra phía sau đại sảnh của Đại Lý Tự. Đại Lý Tự không có nhà lao, chỉ xây vài gian phòng nhỏ đằng sau tạm giam phạm nhân.

Tích Thúy đang ngồi giữa một trong các gian phòng đó, thẫn thờ nhìn cành lá rung rinh theo gió ngoài cửa sổ.

Hoàng Tử Hà, Chu Tử Tần cùng người của Đại Lý Tự bước vào, khép cửa lại rồi gọi nàng: “Lữ Tích Thúy.”

Nghe gọi, Tích Thúy đứng bật dậy theo phản xạ, xong trông thấy mấy nam nhân trước mặt, nàng bất giác co rúm người lùi lại.

Hoàng Tử Hà biết nàng vẫn bị ám ảnh, vội trấn an: “Lữ cô nương, chúng tôi chỉ tới thẩm vấn theo lệ thôi, cô cứ nói thực là được.”

Lữ Tích Thúy cắn môi, nhìn cô hồi lâu rồi lặng lẽ gật đầu.

Hoàng Tử Hà ra hiệu cho nàng ngồi xuống, còn mình đứng một bên, quan sát hai vị tri sự Đại Lý Tự thẩm vấn.

“Tên họ, tuổi tác, quê quán?”

“Lữ Tích Thúy… Mười bảy tuổi, người trong kinh.”

“Tự thú về tội gì?”

Cặp mắt Tích Thúy vẫn còn sưng húp, nàng ngồi ngây ra đó vẻ hoảng hốt, thật lâu mới chầm chậm cắn môi, nặn ra mấy tiếng lí nhí: “Dân nữ đã giết người. Giết… hai người.”

Hai viên tri sự từ đầu đã biết nguyên nhân nàng tự thú nên chẳng lấy gì làm ngạc nhiên, chỉ nói: “Cứ khai thực ra đi.”

Giọng Tích Thúy khản đặc, nàng chậm chạp kể đứt quãng: “Dân nữ đã giết… Ngụy Hỷ Mẫn, hoạn quan phủ công chúa, và… Tôn ghẻ… người phường Đại Ninh.”

“Sao lại giết người? Giết bằng cách nào?”

“Ngụy Hỷ Mẫn làm hại dân nữ, sai người đánh dân nữ đến ngất xỉu rồi vứt ngoài đường, khiến dân nữ bị…” Nói đến đây, gương mặt đờ đẫn của nàng lộ ra vẻ căm hận không giấu giếm, giọng kể cũng đanh hẳn lại: “Hôm ấy ở chùa Tiến Phúc, dân nữ đánh rơi mũ có mạng che, Trương Hàng Anh vừa cúi nhặt giúp thì dân nữ trông thấy Ngụy Hỷ Mẫn… Y mặc đồ hoạn quan, nhìn rất nổi bật. Đúng lúc ấy sấm sét giáng xuống, cây nến nổ tung, trong sáp nến có trộn nhiều chất tạo màu, rất dễ bắt lửa. Dân nữ… dân nữ cũng chẳng biết mình lấy đâu ra sức lực, cứ như phát điên vậy, khi Ngụy Hỷ Mẫn bị dòng người xô đến gần, dân nữ đột ngột đẩy y một cái, làm y ngã vào đống lửa đang cháy, cả người tức thì bắt lửa…”

Hoàng Tử Hà đứng bên cạnh, im lặng lắng nghe.

Tri sự lại hỏi: “Vậy còn cái chết của Tôn ghẻ?”

“Tôn ghẻ… tên cầm thú đó… Hắn vung tiền mua chuộc được cha dân nữ, nhưng dân nữ nhất quyết không tha cho hắn!” Tích Thúy đã phẫn nộ đến phát cuồng, giọng nói cũng the thé khản đặc, nghe rất đáng sợ, “Trưa hôm ấy dân nữ tới phường Đại Ninh tìm Tôn ghẻ, còn sợ mình là đàn bà con gái, không đủ sức giết hắn nên đã tẩm độc vào dao. Gã cầm thú đó nghe tiếng dân nữ bèn mở cửa, dân nữ lập tức xông vào đâm hắn hai nhát, hắn cuống quýt chạy vào đóng cửa lại. Dân nữ còn định bồi thêm mấy dao nữa, nhưng không đẩy được cửa, đành… bỏ đi.”

Hoàng Tử Hà quan sát Tích Thúy thật kỹ, rồi chậm rãi nhíu mày: “Vậy thuốc độc cô lấy từ đâu ra?”

Tích Thúy nghiến răng đáp: “Trong tủ thuốc nhà Trương nhị ca có ô đầu*, huynh ấy từng dạy dân nữ phân biệt các vị thuốc.”

* Ô đầu là cây thuốc có độc, tất cả các phần của cây đều chứa độc chất, nhiều nhất là ở củ. Củ ô đầu rất độc, lượng độc có thể làm cho người tê cứng chân tay, tắc nghẽn mạch máu, đông máu và chết. Do cực độc nên trước đây một số người đã dùng nước của loại củ này tẩm vào đầu mũi tên khi săn thú rừng. Tuy nhiên, nếu được chế biến và sử dụng đúng cách với liều lượng vừa phải, thì lại là vị thuốc quý.

“Nhưng Tôn ghẻ chết trên giường mà.”

“Có lẽ… có lẽ sau khi bị thương, hắn chạy vào nằm trên giường, độc tính phát tác chết ngay tại đó.”

Thôi Thuần Trạm khẽ hỏi hai tri sự: “Những điều ả khai nhận có khớp với tình tiết vụ án không?”

Một tri sự gật đầu: “Vết thương khá nông, có thể xác thực là do nữ tử ra tay.”

Thôi Thuần Trạm gật đầu, quay sang hỏi nàng: “Lữ Tích Thúy, ngươi âm thầm giết chết hai người, vốn không ai hay biết, sao bỗng dưng lại đi đầu thú, tự tìm đường chết?”

Tích Thúy hít một hơi thật sâu, lấy hết can đảm nhìn thẳng vào Thôi Thuần Trạm: “Hai vụ án này làm náo động cả kinh thành, ắt sẽ khiến người vô tội bị cuốn vào. Dân nữ tuy là phận gái chân yếu tay mềm, nhưng vẫn biết lẽ ai làm nấy chịu. Huống hồ, dân nữ cũng muốn tất cả những kẻ tàn ác dưới gầm trời này hiểu rõ một điều, làm điều ác nhất định sẽ gặp báo ứng!”

Thôi Thuần Trạm nghe vậy cũng cảm động, gật đầu than thở: “Tình thực đáng thương, nhưng tội không thể tha được!”

Một viên tri sự hỏi lại: “Ngươi có biết việc phò mã gia bị thương trên sân kích cúc không?”

Tích Thúy cúp mắt gật đầu: “Dân nữ có nghe nói… Trương Hàng Anh, ân nhân của dân nữ, hôm ấy cũng ở đó.”

“Chuyện này có liên quan gì tới ngươi không?”

Tích Thúy lắc đầu, nhưng nghĩ ngợi một lúc lại gật đầu đáp: “Dân nữ tội đáng muôn chết… Nghe nói Trương Hàng Anh phải đấu kích cúc, nên hôm ấy dân nữ đã ở nhà cầu khấn, cầu cho đối thủ của huynh ấy ngã ngựa, để Trương Hàng Anh thắng… Dân nữ nghĩ, có lẽ lời cầu khấn của mình đã lọt đến tai Bồ tát…”

Trước lời giải thích này, Thôi Thuần Trạm đành bảo hai viên tri sự: “Không cần viết câu này vào nữa, chắc chẳng có liên quan gì đâu.”

Tri sự lại hỏi: “Ngươi cầm bức tranh kia đến đây là sao?”

“Đó là bức tranh ở nhà Trương Hàng Anh, hôm trước Đại Lý Tự đòi nhưng huynh ấy không tìm thấy… Thực ra là dân nữ lấy cắp, dân nữ cho rằng thù lớn đã trả, định rời khỏi kinh thành, xong không có lộ phí. Nghe nói bức tranh ấy là ngự bút của tiên hoàng, dân nữ nghĩ ắt là đáng tiền, bèn đánh cắp đem đi cầm, nào ngờ Đại Lý Tự lại tới tìm, làm náo động cả lên, nên dân nữ đành chuộc lại đưa đến đây.”

“Ngươi có biết trên đó vẽ gì không?”

Tích Thúy thẫn thờ lắc đầu: “Không biết… Dân nữ nhìn mãi chỉ thấy ba mảng mực đen, bèn… đem cầm lấy mười quan tiền.”

Tri sự quay lại bẩm Thôi Thuần Trạm: “Chúng thuộc hạ đã đến tiệm cầm đồ điều tra, quả có chuyện này. Người ở tiệm cầm đồ tuy cũng không hiểu tranh vẽ gì, nhưng thấy chất giấy chất mực đều tốt, lớp lụa bồi cũng không tệ, cho rằng lai lịch không phải tầm thường, nên bằng lòng xuất mười quan.”

Thôi Thuần Trạm vốn là kẻ thương hương tiếc ngọc, chỉ biết nhìn Tích Thúy lắc đầu thở dài rồi hỏi: “Lữ Tích Thúy, ngươi có gì muốn nói nữa không?”

Tích Thúy thẫn thờ quỳ ở đó, hồi lâu mới ngẩng lên nhìn Hoàng Tử Hà: “Phiền Dương công công giúp dân nữ chuyển lời cho Trương nhị ca, bảo huynh ấy rằng, kiếp này vô duyên, kiếp sau A Địch xin kết cỏ ngậm vành… đền đáp ân tình của huynh ấy.”

Hoàng Tử Hà xót xa gật đầu: “Được.”

Mọi người lại kéo vào đại sảnh. Một viên chủ sự trải bức họa ra bàn cho tất cả cùng xem.

Vẫn là ba mảng mực đen sì trên nền giấy gai vàng bồi lụa trắng, nhìn rất tinh tế trang nhã, nhưng không che đậy được sự thực rành rành: đường nét trong tranh rất vụng về nguệch ngoạc.

Hoàng Tử Hà và Chu Tử Tần dù sao cũng từng xem rồi, nên chỉ nhìn qua, khẳng định là bức họa lần trước, bèn đưa mắt nhìn nhau.

Trái lại, Thôi Thuần Trạm gần như dán mặt vào tranh, săm soi hồi lâu rồi cau mày: “Thứ này mà là ngự bút tiên hoàng á? Đúng là đại nghịch bất đạo, phỉ báng tiên hoàng!”

Các quan viên Đại Lý Tự cũng nhao nhao phụ họa, ra sức bỉ bôi bức tranh. Có điều nói thì nói vậy, nhưng đây vẫn là vật chứng, đợi mọi người lui xuống, Thôi Thuần Trạm bèn đích thân cuộn lại, toan cất vào kho.

Thấy trong đại sảnh không còn ai khác, Hoàng Tử Hà liền hỏi nhỏ: “Thôi thiếu khanh… có thể cho tôi mượn bức họa này được không?”

Thôi Thuần Trạm lộ vẻ khó xử: “Ôi, chuyện này à… Dương công công, đây là vật chứng quan trọng đấy. Tuy không biết có tác dụng gì, nhưng thường thì một khi bản án chưa định mà công công đã lấy đi, e là phạm luật…”

Hoàng Tử Hà bèn rút trong ngực áo ra một tấm lệnh tín, hai tay trình lên: “Thôi thiếu khanh, vậy cho tôi đặt cọc lệnh tín phủ Quỳ lại đây, mượn tạm thiếu khanh nửa ngày, sáng sớm mai nhất định đưa trả.”

Thôi Thuần Trạm trầm ngâm nhìn tấm lệnh tín, rồi quả quyết đặt cuộn tranh vào tay cô: “Công công phụng mệnh hoàng thượng tra xét vụ này, muốn cầm vật chứng liên quan đi nghiên cứu cũng là danh chính ngôn thuận. Cứ viết một mảnh giấy cho phòng vật chứng thôi.”

Lấy được cuộn tranh, Hoàng Tử Hà và Chu Tử Tần mới thấy bụng sôi ùng ục.

Cả hai ra cửa từ sáng sớm, chạy đôn chạy đáo gần nửa kinh thành, giờ đã quá bữa, cơm và thức ăn cũng chẳng còn, Thôi Thuần Trạm đành giục nhà bếp Đại Lý Tự làm mấy món đơn giản để họ lót dạ.

Ăn xong, ra khỏi Đại Lý Tự, Hoàng Tử Hà tiện miệng hỏi thăm người gác cổng Đại Lý Tự về vị Quỳ vương gia ngày lo trăm việc kia. Quả nhiên có người đáp: “Nửa canh giờ trước, xe ngựa của Ngự Sử Đài đi qua đây, đánh xe ghé lại uống trà có nói, Quỳ vương đang ở bên đó.”

Trong hoàng thành có rất nhiều nha môn, trước mỗi nha môn đều đặt một tấm bảng ghi rõ, hễ dưới thượng thư bao nhiêu phẩm đó đều phải xuống ngựa. Bởi vậy, Chu Tử Tần và Hoàng Tử Hà chẳng buồn cưỡi ngựa nữa, mà gửi lại Đại Lý Tự rồi đi bộ đến Ngự Sử Đài.

Chu Tử Tần vừa đi vừa nắm tay áo cô, uể oải nói: “Ta thật… bội phục Sùng Cổ đấy.”

Hoàng Tử Hà giơ tập hồ sơ cầm trong tay lên che nắng, quay lại hỏi: “Gì cơ?”

“Ta nói là, thật bội phục tinh lực của công công…” Chu Tử Tần nhìn cô đầy kính phục, “Chạy đôn chạy đáo hơn nửa ngày trời, ta mệt gần chết, thế mà công công vẫn thoăn thoắt chẳng cần nghỉ ngơi gì cả.”

“Sau khi vụ án xảy ra là phải giành giật từng chút thời gian, không thể bỏ lỡ một khắc.” Rồi như sực nhớ ra, cô vội thốt lên, “A phải, thi thể Tôn ghẻ giờ đang ở đâu? Công tử có nhớ hình dạng hai vết thương của hắn không?”

Nhắc đến thi thể và vết thương, Chu Tử Tần phấn chấn hẳn lên, hệt như được ăn một cục đá mát lạnh giữa ngày hè nóng nực vậy, hai mắt gã sáng rực: “Ta đã xem vết thương rồi, vẫn còn nhớ như in! Công công muốn hỏi gì, ta có thể giải đáp ngay!”

Hoàng Tử Hà quay lại hỏi: “Tôi muốn biết hình dạng cụ thể của vết thương cùng hướng đâm.”

“Một vết thương ở dưới xương quai xanh vai trái, một vết ở bên phải rốn, cả hai đều đâm chếch xuống từ trái qua phải…” Nói đến đây, Chu Tử Tần bỗng há hốc miệng ra, rồi đảo mắt nhìn quanh, hạ giọng thì thào: “Nói vậy là… Tích Thúy khai man ư?”

“Ừm.” Hoàng Tử Hà đáp khẽ, “Nếu Tôn ghẻ đứng trước mặt Tích Thúy, căn cứ vào cách cầm dao của cô ấy thì vết thương phải từ trên xuống, chứ sao có thể đâm xiên từ trái qua phải được? Chỉ khi đối phương đang nằm nghiêng mà ngủ mới có thể tạo thành vết thương như thế thôi.”

Chu Tử Tần hít vào một hơi, vẻ kinh ngạc pha lẫn nghi hoặc: “Nhưng… nhưng tại sao Tích Thúy phải ra đầu thú, vơ hết tội trạng vào mình? Cô ấy làm thế… là vì sao?”

Hoàng Tử Hà lặng lẽ nhìn Chu Tử Tần hồi lâu, mới hướng ánh mắt ra phía sau lưng gã.

Họ trông thấy một người đang quỳ dưới chân tường Đại Lý Tự.

Trương Hàng Anh.

Chẳng biết gã đã ngồi đó bao lâu. Chỉ thấy gã cứ cúi gằm mặt nhìn xuống đất, bất động, ánh mắt thẫn thờ tan tác.

Chu Tử Tần trợn tròn mắt há hốc miệng nhìn, mãi mới “ồ” lên một tiếng.

Bị hai người nhìn chằm chằm thật lâu, cuối cùng Trương Hàng Anh cũng cảm nhận được. Gã từ từ ngẩng đầu lên, nhìn về phía họ. Thật lâu sau, ánh mắt thẫn thờ của gã mới bình thường trở lại, dường như bấy giờ mới nhận ra bọn họ. Gã đứng dậy chào bằng giọng khản đặc: “Dương… huynh đệ…”

Chưa kịp nói hết câu thì đôi chân tê cứng vì quỳ quá lâu đã không nâng đỡ nổi thân thể nữa, gã loạng choạng ngồi phịch xuống đất.

Trên đầu là ánh nắng chói chang, dưới chân là mặt đất nóng như rang, cả người gã như bị nướng chín, chẳng còn cảm giác gì nữa, chỉ biết vịn tường run rẩy đứng dậy, tập tễnh đi về phía họ.

Hoàng Tử Hà đăm đăm nhìn gã, vẻ mặt phức tạp, Chu Tử Tần ân cần chạy đến đỡ gã. Trương Hàng Anh vóc người cao lớn, tuy Chu Tử Tần được coi la cao, xong vẫn thấp hơn hai ba tấc, lúc đỡ lấy họ Trương, Chu công tử cũng bị loạng choạng.

“Trương nhị ca sao vậy?” Chu Tử Tần vừa đỡ lấy gã vừa an ủi, “Huynh bình tĩnh đi!”

Trương Hàng Anh dựa vào người Chu Tử Tần, xong ánh mắt lại nhìn dán vào Hoàng Tử Hà, bờ môi nứt nẻ vì nóng mấp máy thốt ra mấy âm thanh khô khát: “Huynh nhất định phải giúp A Địch… Cô ấy không thể… Tôi biết cô ấy không thể giết người được…”

Hoàng Tử Hà cúi mặt, lặng lẽ gật đầu.

Thấy phản ứng của cô khá hờ hững, Trương Hàng Anh cuống lên, nhào tới tóm chặt lấy vai cô, vật nài như điên dại: “Cô ấy yếu đuối như thế, làm sao giết người nổi? Tôi, tôi không biết tại sao cô ấy lại đầu thú, nhưng… tôi van huynh, van huynh cứu cô ấy, tôi van huynh mà!”

Giọng gã khản đặc, mãi mới rặn trong họng ra được mấy tiếng van nài vỡ vụn, cơ hồ không nói nên lời.

Hoàng Tử Hà thở dài, vỗ vỗ vào tay gã trấn an: “Trương nhị ca yên tâm đi, tôi nhất định sẽ vạch trần chân tướng vụ này. Tới lúc đó, hung thủ không còn cách nào lẩn trốn, ắt sẽ bại lộ.”

Trương Hàng Anh trừng trừng nhìn cô hồi lâu, rồi như hiểu ra câu nói ấy, gã nặng nề buông cánh tay suýt nữa bóp gãy vai cô xuống, liêu xiêu lùi lại hai bước, đáp khẽ: “Được… tôi tin huynh… sẽ trả lại sự trong sạch cho A Địch.”

“Trương nhị ca, giờ huynh đã có thể quay về Tả Kim Ngô Vệ, ngày mai huynh đến báo danh được rồi.” Hoàng Tử Hà ngước nhìn gã, dịu giọng nói: “Đừng phụ kỳ vọng của A Địch.”

Ngự Sử Đài là nha môn nghiêm cẩn nhất, trang trọng nhất trong triều, nhưng khi họ bước vào, lại thấy mấy ông già ngự sử trung thừa, thị ngự sử, giám sát ngự sử ngồi quanh Quỳ vương đang tươi cười, hết kéo lại níu y, tựa hồ không hề nhận ra đã đến giờ tan.

Thấy Hoàng Tử Hà và Chu Tử Tần bước vào, Lý Thư Bạch bèn ra hiệu bảo họ đợi, rồi đứng dậy nói với mọi người: “Đây là Dương Sùng Cổ, hoạn quan bên cạnh ta, rất giỏi phá án, hiện cũng là một trong những người được thánh thượng chỉ định hợp tác với Đại Lý Tự. Hắn đến đây ắt để bẩm báo về tiến triển vụ án, bản vương đành phải cáo từ các vị thôi.”

“Cung tiễn Quỳ vương gia.” Người của Ngự Sử Đài niềm nở đứng dậy tiễn y ra đến cửa.

Rời khỏi Ngự Sử Đài, Chu Tử Tần không nhịn được ta thán: “Đám người ở Ngự Sử Đài này đúng là thiên vị hết sức. Lúc ta đến thì lão nào lão nấy hếch mặt lên trời, cứ như ta là mối nhục của triều đình không bằng, chẳng nỡ lấy thêm cho một đôi đũa nữa. Ấy vậy mà vương gia vừa đến thì, công công xem, một loạt gương mặt già quắm cười tươi như hoa cúc, nếp nhăn dãn hết cả ra!”

Lý Thư Bạch cũng không khỏi nhếch môi: “Hôm nay tâm trạng họ vui vẻ đấy thôi.”

“Ô? Người của Ngự Sử Đài cũng có ngày vui à? Chẳng phải ngày nào cũng vênh mặt giáo huấn người ta ư?”

Lý Thư Bạch quay sang Hoàng Tử Hà: “Vì chuyện cây trâm Cửu loan biến mất, hoàng thượng đã triệu tập mấy vị trọng thần lại, yêu cầu tam pháp ty: bộ Hình, Đại Lý Tự và Ngự Sử Đài cùng hội thẩm. Hai ty kia còn đỡ, nhưng mấy ông lão ở Ngự Sử Đài thì phản đối gay gắt, nói rằng tam pháp ty chỉ hội thẩm khi gặp phải vụ án lớn, liên can tới quốc gia xã tắc mà thôi, sao có thể vì công chúa mất một cây trâm mà làm rùm beng, kinh động đến cả tam pháp ty? Xong hoàng thượng lại nói vụ này đã có hai người chết một người bị thương, trước mắt có lẽ công chúa cũng gặp nguy hiểm, nhất định phải tra xét thật nhanh, không được thoái thác. Đôi bên đang tranh cãi thì Đại Lý Tự báo tin kẻ tình nghi đã tự ra đầu thú! Ngự Sử Đài thấy việc nhà của hoàng đế không biến thành việc công của cả triều đình, đương nhiên trên dưới đều hân hoan!”

Chu Tử Tần chau mày: “Nhưng… Tích Thúy không phải hung thủ…”

“Bất kể có phải hay không, giờ cô ta đã bước ra nhận tội, chẳng phải là cơ hội rất thích hợp ư?” Nói đoạn, Lý Thư Bạch liếc xéo Hoàng Tử Hà, “Ngươi muốn tiếp tục điều tra, hoàn thành nhiệm vụ hoàng thượng giao phó, hay dừng tay ở đây thôi?”

“Tích Thúy và nô tài cũng có thể coi là sơ giao, cảnh đời cô ấy đã thê thảm nhường ấy, nô tài không thể để cô ấy chết như thế được.” Hoàng Tử Hà nhíu mày, “Huống hồ, theo nô tài thấy, dù cô ấy đầu thú, chỉ e cây muốn lặng mà gió chẳng dừng.”

Lý Thư Bạch nhướng mày: “Ý ngươi là, có thể hung thủ vẫn chưa chịu ngừng tay?”

“Rất có thể. Vì người chết thứ ba theo như bức tranh vẫn chưa xuất hiện.” Hoàng Tử Hà đặt cuộn tranh vào tay y.

Lý Thư Bạch vừa đi vừa mở ra xem.

Chỉ liếc qua, bước chân y đã khựng lại.

Quỳ vương gia xưa nay điềm tĩnh, vậy mà lúc này đứng giữa hoàng thành, dưới bóng tường bao cao ngất quanh các nha môn, nhìn bức tranh nguệch ngoạc vụng về trong tay, thân hình bỗng sững lại một thoáng.

Trời trong vắt, nắng chói chang, gió lồng lộng cuốn tung ống tay cùng vạt áo ba người bay phần phật.

Hàng mi rợp bóng của Lý Thư Bạch cuối cùng cũng từ từ nhướng lên, y cuộn bức tranh lại đặt vào tay Hoàng Tử Hà: “Cất đi.”

Chu Tử Tần vội hỏi: “Vương gia có thấy cái chết thảm của ba người trong đó không?”

Lý Thư Bạch khẽ gật đầu, “Miễn cưỡng gán ghép thì cũng láng máng hình dung được. Nhưng chuyện hoang đường thế này, sao lại quy là thủ bút của tiên hoàng?”

Chu Tử Tần tức thì tiu nghỉu, đành đáp: “Gia nói rất phải.”

Đoạn gã len lén liếc trộm Hoàng Tử Hà, thấy cô ngày càng giống Lý Thư Bạch, lúc nào cũng ra vẻ bình thản kín đáo, không khỏi than thầm trong lòng rồi nói: “Vương gia, tôi cảm thấy việc Tích Thúy giết Tôn ghẻ còn nhiều nghi vấn, phải đến nghĩa trang xem sao, cáo từ trước vậy.”

Thấy Chu Tử Tần đã đi xa, Lý Thư Bạch bèn ra hiệu cho Hoàng Tử Hà lên xe.

Ngang qua cửa Đại Lý Tự, lính gác cổng tháo dây cương cho Na Phất Sa, nó liền cung cúc đi theo, ngoan đến nỗi khiến người ta phải tấm tắc.

Hoàng Tử Hà lại ngồi xuống chỗ ngồi quen thuộc, chiếc ghế thấp đối diện Lý Thư Bạch.

Y chìa tay ra, cô hiểu ý ngay, vội rút cuốn trục trong ngực áo trình lên.

Lý Thư Bạch trải bức tranh ra bàn. Chiếc bàn hơi nhỏ, nên một phần tranh thõng xuống đầu gối y. Cánh tay y chặn lên cuốn trục, ngón tay chầm chậm dò theo hình vẽ thứ nhất, một người bị lửa thiêu chết, “Lần trước ngươi nói, các ngươi cho rằng đây là hình một người bị lửa thiêu chết ư?”

“Vâng… Chúng tôi còn thấy nét mảnh này giống một tia sét từ trên trời giáng xuống. Nên hình vẽ này giống một người bị sét đánh trúng, lửa bùng lên bao phủ lấy người, đang giãy chết.”

“Người nhà họ Trương nói đây là ngự bút của tiên hoàng, ngươi có tin không?” Y hơi ngước lên nhìn cô.

Hoàng Tử Hà ngẫm nghĩ rồi chậm rãi đáp: “Tôi chưa từng thấy ngự bút của tiên hoàng, không dám khẳng định.”

“Ta thì có thể.”

Lý Thư Bạch điềm nhiên đặt tay lên bức tranh: “Loại mực này là Tổ Mẫn đặc chế cho tiên hoàng. Những năm cuối đời, tiên hoàng không được khỏe nên không thích mùi mực, nhà họ Tổ phải đổi công thức, ngoài những châu ngọc mài ra, còn phải pha thêm vào thỏi mực một loại hương liệu nước ngoài tiến cống, chỉ làm được mười thỏi, đã dùng bảy thỏi, dư ba thỏi đem tùy táng. Nay đã mười năm, mà vẫn còn thoang thoảng hương thơm.”

Hoàng Tử Hà cúi xuống ngửi thử, quả thấy một mùi hương cực nhẹ cực nhạt, khác hẳn bình thường.

Thấy cô ngẩng lên nhìn mình, Lý Thư Bạch lại tiếp: “Tiên hoàng viết chữ hay vẽ tranh, thường ướm thử mấy nét vào bên cạnh trước, đây là thói quen nhiều năm của Người, không phải kẻ thường xuyên cận kề thì không thể biết được. Ngươi xem này…”

Bên cạnh nét mảnh mà họ cho là tia sét, có một vạch mờ như sợi tóc, gần như không thể nhận ra.

“Nét này không như nét bên cạnh, rõ ràng không phải vết lông trên bút để lại, mà là phụ hoàng lúc đặt bút vẽ vô ý làm dây ra.”

“Tôi sẽ đến nhà họ Trương, hỏi cha Trương Hàng Anh về lai lịch bức tranh.”
SPONSORED / ĐƯỢC TÀI TRỢ
“Cũng nên hỏi xem, vì sao phụ hoàng lại vẽ ra bức tranh này, hơn nữa còn ban cho một đại phu dân gian.” Lý Thư Bạch chậm rãi dặn.

Hoàng Tử Hà nhìn bức vẽ, lại nhớ đến phản ứng lạ lùng của Ngạc vương.

Quả nhiên, Lý Thư Bạch nói ngay: “Còn bây giờ, chúng ta phải đến phủ Ngạc vương. Chẳng phải ngươi kể, khi trông thấy bức tranh này, Thất đệ phản ứng rất lạ ư.”

Hoàng Tử Hà gật đầu, đang định nói một tiếng với A Viễn thì nghe thấy tiếng ồn phía trước, xe chạy chậm dần, rồi dừng hẳn ở giao lộ.

Hoàng Tử Hà hé cửa sổ hỏi nhỏ: “Viễn bá, sao thế?”

“Đằng trước náo loạn quá, tắc đường mất rồi.” A Viễn nghển cổ nhìn rồi đáp.

Vừa vén rèm trông ra, cô đã trông thấy Chu Tử Tần đứng ngay cạnh đó, nhăn nhó nhìn sang cô: “Sùng Cổ, ta bị tắc đường.”

“Để tôi xuống xem đằng kia có chuyện gì.” Nói đoạn, Hoàng Tử Hà nhảy xuống xe, xăm xăm chen lên trước.

Chu Tử Tần cũng hớt hải chen đến bên cạnh, mở đường giúp cô: “Nhanh lên nào, đằng trước náo nhiệt lắm, để ta dẫn công công đi xem!”

Hoàng Tử Hà ngán ngẩm: “Tử Tần, tôi không định xem náo nhiệt…”

“Nhưng đây là việc trọng đại của phường Bình Khang, trong kinh cũng hiếm gặp! Công công không xem thì tiếc lắm!” Dứt lời gã đã kéo cô chen vào đám đông.

Lý Thư Bạch lạnh lùng nhìn theo, rồi lệnh cho A Viễn: “Đi thôi.”

“Nhưng giờ không thể đi tiếp được nữa thưa gia.”

“Quay lại, đến Đại Lý Tự.” Thấy Hoàng Tử Hà và Chu Tử Tần sắp mất hút giữa biển người, y cũng dời mắt nhìn sang chỗ khác.

Hoàng Tử Hà theo sau Chu Tử Tần, luồn trái lách phải, cuối cùng cũng chen đến chỗ đông nhất.

Nơi này gần phường Bình Khang, đường sá trong thành Trường An xưa nay rộng rãi, nhưng vì hai bên đường đang nạo vét cống rãnh, lại thêm cây hòe lâu năm mọc chìa ra đường, khiến khúc đường bị choán mất quá nửa, đi lại khó khăn, còn được cả hai phường hát đặt sân khấu đối diện nhau ngay giữa giao lộ, ra sức phô trương thanh thế, tiêu sáo rộn vang, áo xiêm phấp phới, thu hút đám người vô công rồi nghề xúm xít đứng xem, làm tắc nghẽn cả lối đi.

Trong đám đông nhốn nháo ấy, Hoàng Tử Hà liếc thấy cỗ xe nạm vàng khảm ngọc của Đồng Xương công chúa đang dừng ngay giữa đường, không sao di chuyển được.

Bọn Thùy Châu, Lạc Bội, Trụy Ngọc, Khuynh Bích đều đi theo xe, mấy tên hoạn quan và thị vệ hộ tống còn bị người xung quanh chen lấn đến nỗi phải liên tục lùi lại, nhưng trước sau vẫn bám sát bên cạnh cỗ xe, không dám rời nửa bước.

Thấy họ bị vây giữa đám đông, cô bèn đi đến chào hỏi: “Thực khéo quá, công chúa cũng ở đây ư?”

Giữa đám đông chen chúc đến nỗi cựa mình còn khó, vậy mà Thùy Châu vẫn thi lễ đáp: “Thưa vâng. Công công hôm nay… cũng đi xem náo nhiệt với Chu thiếu gia à?”

Hoàng Tử Hà vừa gật đầu thì Đồng Xương công chúa đột ngột vén rèm xe lên nhìn cô. Hàng lông mày của công chúa vốn mỏng manh mà sắc sảo, giờ đang nhíu lại buồn bực, càng toát lên vẻ ngạo nghễ lấn lướt: “Dương công công cũng ở đây ư? Người của Đại Lý Tự đâu rồi? Sao không mau giải tán bớt đám đông đi?”

Nghe giọng điệu công chúa đầy tức giận, rõ ràng đang lạm quyền quá phận, chỉ huy cả người của quan phủ, Hoàng Tử Hà ngán ngẩm thưa: “E rằng công chúa phải thất vọng rồi, nô tài tới đây một mình, không dẫn theo ai cả.”

“Hừ, sớm không tắc muộn không tắc, đúng lúc xe ngựa của bản cung đi đến đây thì tắc đường! Lại phải hôm đi vội quá, chỉ đem theo mấy đứa vô tích sự này!” Đồng Xương công chúa vừa miệt thị đám tùy tùng, vừa quay sang mắng người đánh xe té tát: “Kể cả vào bằng cửa Phượng Hoàng, động đao động kiếm thì đã sao, lẽ nào bản cung chưa gặp thái tử bao giờ chắc?”

Tên đánh xe bị mắng sa sả, chỉ biết cúi đầu vâng dạ rối rít.

Nghe nói đến cửa Phượng Hoàng, Hoàng Tử Hà thoáng ngẩn ra, vội hỏi: “Công chúa mấy hôm nay khó ở, nên tĩnh tâm nghỉ ngơi cho khỏe, sao tự dưng lại muốn đến cung Thái Cực?”

Thùy Châu khẽ gật đầu, lo lắng nhìn dòng người phía trước rồi thì thào: “Thục phi đang đợi công chúa…”

Cung Thái Cực hiện nay chỉ có Vương hoàng hậu ở, vậy mà giờ Quách thục phi lại ở đó, còn hẹn Đồng Xương công chúa đến đó gặp, không hiểu là chuyện gì?

Cô sực nghĩ đến một chuyện, vội gặng: “Hoàng thượng có ở đó không?”

“Nô tỳ không biết… Thục phi chỉ sai người tới báo cho công chúa thôi.” Thùy Châu lấm lét đáp.

Hoàng Tử Hà hiểu ra ngay, hôm nay ắt là thời khắc quan trọng của Vương hoàng hậu, mà Quách thục phi gọi Đồng Xương công chúa đến, là muốn giáng cho hoàng hậu một đòn chí mạng.

Nhớ lại lần triệu kiến trước, Vương hoàng hậu từng thuận miệng nhắc tới việc hồi cung, hơn nữa có vẻ đã nắm chắc thắng lợi trong tay, ắt hẳn bà ta phải có một con cờ đủ sức đối phó với Quách thục phi, nhưng… liệu hôm nay có dùng được không?

Còn đang nghĩ ngợi thì tiếng nhạc rộn lên, ra là trận so tài giữa hai phường hát đã đến lúc quyết thắng bại. Nữ tử áo đỏ bên phải đang múa điệu Hồ toàn vũ*, cứ xoay tròn nhanh như gió, khiến người xem bên dưới luôn miệng hoan hô; còn nữ tử áo xanh bên trái lại cất cao giọng ca bài Xuân giang hoa nguyệt dạ, giữa những tiếng ồn ào huyên náo mà tiếng ca vẫn vang lên lảnh lót, đủ thấy giọng khỏe đến đâu. Lại vừa khéo hát đến hai câu:

Cùng nghe ngóng lúc nay chẳng thấy,

Muốn theo trăng trôi chảy đến chàng.

* Một điệu múa được du nhập từ Tân Cương vào triều đại nhà Đường, nhấn mạnh vào chuyển động của cổ. Vũ công đứng trên một tấm thảm lông tròn và nhảy múa, mỗi màn vũ đạo có hàng trăm tư thế khác nhau. Điệu múa này hiện vẫn tồn tại ở các nước Trung Á, Kazakhstan, Pakistan, Tajikistan, cũng như địa khu Tân Cương của Trung Quốc.

Ánh mắt Hoàng Tử Hà bất giác liếc sang Đồng Xương công chúa.

Xong công chúa dường như chẳng để tâm, vì còn đang cau có rủa xả: “Đám con hát đáng ghét này, lúc nào ta phải nói với phụ hoàng đuổi cổ tất cả bọn chúng ra khỏi thành Trường An mới được!”

Đoạn, nàng thả tấm rèm xe xuống đánh xoạch. Đám người ùn ùn chen lấn khiến hai con ngựa kéo xe kinh hãi, bắt đầu rục rịch di chuyển, làm thùng xe lắc lư.

Thùy Châu vội giữ lấy cửa xe hỏi vọng vào trong: “Công chúa không sao chứ?”

Chưa nói dứt câu, công chúa đã đẩy bật cửa ra nhảy xuống.

Nàng đang ốm, tính tình lại nóng nảy, lần này nhảy xuống quá nhanh, hai chân loạng choạng, suýt nữa thì ngã nhào.

Thùy Châu vội đỡ lấy nàng, mười mấy hoạn quan đi theo cũng xúm lại, rẽ đám đông ra.

Con phố đã chật cứng, mười mấy người này lại chen vào làm nhốn nháo cả lên, những người đang xem ca múa cạnh đó bị chen đến nỗi ngã dúi dụi, vài kẻ nóng nảy bèn quát: “Làm cái gì thế? Hoạn quan thì to lắm à? Hoàng thượng có đến cũng không thể cấm dân chúng xem ca múa được!”

Đúng lúc ấy, ánh mắt Đồng Xương công chúa bỗng sững lại giữa đám đông, nàng trợn tròn đôi mắt sắc lẹm, kêu lên thất thanh: “Trâm Cửu loan!”

Hoàng Tử Hà nhìn theo ánh mắt nàng, xong chỉ thấy đầu người lô nhô, có mấy cô gái làng chơi cài trang sức hoa lệ, nhưng màu sắc và tạo hình đều hết sức dung tục, đâu giống trâm Cửu loan đúc từ nguyên một khối ngọc.

Mấy ả thị nữ bên cạnh Đồng Xương công chúa cũng nhớn nhác nhìn quanh tìm kiếm, Thùy Châu buột miệng hỏi: “Công chúa thấy trâm Cửu loan ư? Nhưng… nô tỳ không thấy đâu cả…”

“Ở bên kia kìa, có người đang cầm đấy!” Đồng Xương công chúa trỏ về hướng Tây Nam, chân cũng dợm bước về phía đó.

Đám đông đang ùn lên, toán thị vệ phía sau chưa chen được đến, mấy tên hoạn quan lại đã bị đẩy ra ngoài rìa, chỉ còn mấy thị nữ ở cạnh công chúa, nhưng chẳng theo kịp.

Thùy Châu vội vươn tay níu nàng lại: “Công chúa cẩn thận đấy…”

Chưa nói dứt câu thì Đồng Xương công chúa đã bị tóm lấy cổ tay kéo mạnh, ngã chúi về phía trước. Thân hình nàng nhỏ nhắn, lại đột nhiên bị lôi vào đám đông, dòng người vừa tách ra đã nhanh chóng khép lại, chẳng khác nào một con thú dữ há hoác cái miệng to như chậu máu, tức thì nuốt chửng nàng.

Trên sân khấu hai bên, mấy chục nữ tử đang đồng ca khúc Xuân giang hoa nguyệt dạ, tiếng ca du dương uyển chuyển khôn xiết, đến cuối cùng thì át hết mọi âm thanh khác, chỉ còn tiếng ngân lảnh lót của ca nữ kia, chuyển âm ở chỗ cực cao chẳng khác nào băng qua vạn núi, quanh co khúc khuỷu, vút tận trời xanh.

Điệu Hồ toàn vũ đang vào hồi nhanh nhất, cả sân khấu đâu đâu cũng thấp thoáng bóng dáng yêu kiều mềm mại của vũ nữ nọ. Nàng dang hai tay ra, ngửa mặt lên trời, nhoẻn cười tươi tắn mà xoay tròn thật nhanh. Chiếc khăn chít trên đầu nàng, vạt áo nàng, gấu quần nàng, cùng mái tóc được tết thành cả trăm bím nhỏ đều xõa ra xoay tròn, như một dòng suối đủ màu.

Tiếng hét kinh hoàng của bọn Thùy Châu chìm trong tiếng nhạc rộn rã. Trước con mắt của mấy chục người, công chúa bị lôi vào đám đông, mà tất cả những kẻ bên cạnh nàng đều ngây ra không dám tin là sự thực, cũng không kịp phản ứng gì.

Hoàng Tử Hà định thần lại trước nhất, lập tức tách đám người chen vào.

Giữa đám đông chen chúc với đủ màu quần áo, đủ loại người, cô cũng mất phương hướng, cứ ngẩn ra không biết phải chạy về phía nào. May sao, đúng lúc này, có người tóm cổ tay kéo cô ra.

Hoàng Tử Hà quay lại thì thấy Chu Tử Tần. Gã khá cao, lại ra sức gạt đám đông, cuối cùng cũng tóm được cô.

Chỉ thấy gã nhìn trái ngó phải rồi hỏi: “Công chúa đâu? Công công thấy công chúa rồi à?”

Hoàng Tử Hà lắc đầu nhíu mày: “Mau lệnh cho hai đoàn ca múa kia rút đi, e rằng công chúa xảy ra chuyện rồi.”

“Lẽ nào lại thế, ở đây đông thế này, lại ngay trước mặt mọi người, có thể xảy ra chuyện gì được chứ?” Chu Tử Tần phản bác, nhưng cũng quay đi tập trung các thị vệ hoạn quan, để họ mau chóng giải tán đám đông.

Tiếc rằng người nhiều như thế, lại đang ầm ĩ hỗn loạn, trong chốc lát không thể giải tán ngay được.

Thùy Châu lo lắng: “Trước lúc biến mất, công chúa còn kêu lên thất thanh: ‘Trâm Cửu loan’, nên nô tỳ nghĩ nhất định có kẻ dùng trâm Cửu loan dụ công chúa đi. Công công… chúng ta phải đi đâu tìm công chúa đây?”

Hoàng Tử Hà bất giác đưa mắt tìm Lý Thư Bạch trong đám đông. Trí nhớ của y rất tốt, bốn đường lớn, mười sáu đường nhỏ, một trăm hai mươi ba ngõ ngách trong phường Bình Khang, hẳn y rõ hơn ai hết.

Nhưng lúc này Lý Thư Bạch không ở cạnh cô.

Bản thân cô lại không thông thuộc phường Bình Khang, đành bàn bạc với Chu Tử Tần, loại trừ các con đường tập trung nhiều phường nhạc kỹ, các phố có quán rượu đông người lắm tai mắt cùng các ngõ cụt đằng trước, chọn ra hơn mười con đường có khả năng nhất.

Tiếp đó, lại phân công đám hoạn quan và thị vệ phủ công chúa đang cuống cuồng như nhặng vỡ đàn tỏa ra tìm kiếm từng đường.

Xong xuôi tất cả, Hoàng Tử Hà ngoái lại, thấy các thị nữ hầu hạ công chúa chỉ còn ba ả, bèn hỏi: “Thùy Châu đâu rồi?”

“Hồi nãy Thùy Châu đuổi theo công chúa, cũng bị dòng người nuốt chửng rồi…” Trụy Ngọc chưa nói hết câu, chợt nghe thấy tiếng la đằng xa, sau đó là tiếng gọi kinh hoàng, lúc này, khi đám đông đã vãn, không gian yên tĩnh phần nào, nghe càng thêm thê thiết: “Người đâu… người đâu rồi…”

Là giọng Thùy Châu.

Chu Tử Tần và Hoàng Tử Hà phản ứng nhanh nhất, lập tức chạy ngay đến.

Sau bức tường bao, còn thừa ra đến ba bốn thước đất trống. Dây hoa sao tốt tươi bò tràn trên sân lên tường, từng mảng hoa đỏ thắm nổi bật trên nền lá xanh, trông như những vệt máu loang lổ.

Ở cuối mảng hoa lá dày rậm, thân hình Đồng Xương công chúa đang dựa vào tường, từ từ trượt xuống. Mắt nàng nhắm nghiền, xong thân thể vẫn không ngừng co giật.

Trên tấm áo đỏ thêu đầy bươm bướm ướt đẫm một mảng đỏ thẫm khác thường, chói chang dưới nắng.

Phía sau đám dây leo chằng chịt là cỏ dại um tùm, lúc này, chỉ có mấy nhành xác pháo trơ trọi rung rinh.

Thùy Châu liêu xiêu chạy đến, vấp phải dây leo ngã lăn ra, nhưng chẳng biết ả lấy đâu ra sức lực, vẫn vừa khóc lóc vừa lê đến bên cạnh công chúa, ôm chặt lấy nàng, sợ đến nỗi mặt mày tái ngắt không kêu nổi nữa, chỉ biết bịt chặt vết thương đang chảy máu xối xả trên ngực công chúa, tiếc rằng tay ả sao níu giữ nổi sự sống cho công chúa, đành trơ mắt nhìn sức thanh xuân của nàng trôi đi theo dòng máu tươi ấm nóng, thấm vào lòng đất đang bừng bừng nhựa sống rồi tiêu tan.

Vẻ mặt Thùy Châu đờ đẫn, như không thể đối diện với sự thực tàn nhẫn đau đớn trước mặt.

Chân Hoàng Tử Hà cũng ríu cả lại, cô loạng choạng chạy đến thì trông thấy cây trâm Cửu loan vốn đã biết mất đầy bí ẩn giờ đang nằm im lìm trên nền đất thấm đầy máu công chúa, giữa đám dây leo bị giày xéo giẫm đạp.

Máu tươi nhỏ xuống miếng ngọc chín màu kỳ lạ được chạm thành chín cánh chim loan phượng khoan thai bay lượn, trông càng lộng lẫy ấm áp khôn xiết.

Mà đuôi trâm được đẽo thành vành trăng khuyết, giờ đã gãy lìa, cắm ngay giữa ngực công chúa.

Máu tươi loang đỏ, càng làm nổi bật hai chữ triện cổ khắc bên trên.

Ngọc Nhi.
 

Cam Miên

đậu phụ của hòa thượng
Thành viên BQT
Mod - Sưu Tầm
Mod - Công Viên Xanh
Sưu tầm
Tham gia
13/4/19
Bài viết
1,447
Điểm cảm xúc
980
Điểm
113
Chiều trong cung Thái Cực, cả gió cũng nhẹ nhàng êm dịu.

Điện Lập Chính nguy nga sừng sững, toát lên vẻ ung dung.

Quả là một nơi phù hợp với Vương hoàng hậu. Hoàng hậu sống ở đây chẳng khác mẫu đơn nở trong giếng vàng, đã rực rỡ lại thêm lộng lẫy.

Dọn đến đây hơn một tháng, đột nhiên hoàng thượng lại dắt Quách thục phi đến thăm, hoàng hậu thừa hiểu là ý gì, nhưng vẫn điềm nhiên, tươi cười niềm nở, ung dung thoải mái ra đón hai người vào, như thể mình vẫn đang ở giữa gác Bồng Lai, nắm trong tay tính mạng của mấy vạn người trong cung Đại Minh cho tới muôn vạn người thiên hạ.

Hoàng đế ân cần hỏi: “Ở đây có quen không? Hình như hoàng hậu rất thích chỗ này.”

Vương hoàng hậu cười nhìn ngài ngự, đáp khẽ: “Thần thiếp nào dám thích, kẻo hoàng thượng lại ban cho thiếp ở nơi này mãi mãi.”

Hoàng đế nhìn nữ nhân mình hiểu rõ nhất mà cũng lạ lẫm nhất dưới gầm trời này, bỗng dưng chẳng biết nói gì.

Quách thục phi giơ quạt che miệng cười nói: “Thì ra hoàng hậu vẫn thích cung Đại Minh ư? Cũng phải thôi, gác Bồng Lai mùa hè là mát nhất. Chỉ sợ không bao lâu nữa vào thu, điện gác bỏ không lại sinh ra lạnh lẽo, phải bày biện thêm nhiều đồ đạc cho ấm cúng.”

“Dù lạnh lẽo, nhưng luận về cảnh trí thì đó là nơi đẹp nhất trong cung, chỉ thua chỗ bệ hạ mà thôi. Ta thấy nếu có cơ hội, hẳn thục phi cũng thích lắm.”

Quách thục phi ngạo nghễ đáp: “Thần thiếp nào dám vọng tưởng…” Dứt lời, lại ngóng nhìn ra phía ngoài.

Hoàng hậu vẫy vùng trong cung bấy nhiêu năm, đã hiểu rõ Quách thục phi như lòng bàn tay, bèn hỏi: “Linh Huy đi đường bị chậm trễ gì ư?”

Hoàng đế kinh ngạc hỏi: “Linh Huy sắp đến à?”

“Thưa vâng, công chúa cứ nói muốn đến cung Thái Cực thăm hoàng hậu, nhưng chưa có dịp. Hôm nay nhân cơ hội hoàng thượng đến chơi, thiếp bèn sai người báo cho nó.”

Hoàng đế tỏ vẻ khó chịu: “Hôm nay chỉ có mấy lời quan trọng định nói với hoàng hậu, việc gì phải gọi Linh Huy đến cho rầy rà?”

Hoàng hậu cười nhìn hoàng đế: “Thục phi sợ hoàng thượng mềm lòng, nếu có Linh Huy mà hoàng thượng yêu thương nhất ở đây, may ra có thể cảnh tỉnh đôi phần chăng?”

Hoàng đế biết hoàng hậu đã thừa hiểu mục đích chuyến thăm này, giờ còn nói toạc ra, khiến ngài ngự có phần lúng túng, đành đi thẳng vào đề: “Nếu hoàng hậu ưa thanh tĩnh thì trẫm có thể thành toàn cho nàng.”

Vương hoàng hậu nhoẻn cười đáp: “Thần thiếp không phải không ưa tĩnh, nhưng mười mấy năm nay đã cùng bệ hạ dõi mắt trông khắp giang sơn gấm vóc, ngắm hết thịnh thế phồn hoa. Nếu trời cao rủ lòng thương, mong rằng hãy để thiếp được bầu bạn bên bệ hạ suốt đời này, răng long tóc bạc.”

Quách thục phi cười cười, hờ hững chêm vào: “Tấm lòng của hoàng hậu cũng bao la quá, bệ hạ là của chung thiên hạ, há có thể cùng một người đàn bà răng long tóc bạc hay sao?”

Vương hoàng hậu ngồi ngay ngắn trước mặt Quách thục phi, cười đáp: “Thục phi không hiểu rồi. Bản cung là hoàng hậu, là chính cung của bệ hạ, tuy trời cao vô tình, nhưng vợ chồng kết tóc mười mấy năm, cũng đã chung vai trả vô vàn mưa gió. Dưới gầm trời này, nếu có kẻ nào có thể bạn bầu cùng bệ hạ, thì đương nhiên là bản cung.”

Tính tình hoàng đế vốn ôn hòa độ lượng, giờ lại nghe hoàng hậu nói vậy, bất giác nhớ đến bao hồi ức xa xưa, lại thấy dung mạo hoàng hậu vẫn hệt như năm ấy, tóc vấn thành ba búi, cài cây trâm mành mành vàng ròng chạm hình sẻ xanh, phục sức lộng lẫy, xong không che lấp được mảy may ánh hào quang hấp dẫn tự thân.

Đây là nữ tử đã kề cận bên mình mười mấy năm, mỹ nhân trong cung cũng như hoa, hết mùa này sang mùa khác, lần lượt nở rộ rồi tàn lụi, chẳng cách nào khôi phục lại nhan sắc năm xưa, duy chỉ có người này càng ngày càng rực rỡ, càng kiều diễm mê người.

Vì vậy, dù biết hoàng hậu đã lừa dối mình, dù biết quá khứ của hoàng hậu không thể chấp nhận được, xong hoàng thượng vẫn tự an ủi, trên đời này chỉ có mình là người phù hợp với hoàng hậu nhất, dẫu trước kia hoàng hậu từng qua lại với kẻ nào, thì chỉ khi ở cạnh mình, hoàng hậu mới phơi bày dung mạo mỹ lệ yêu kiều nhất. Có vậy, ngài ngự mới không thấy uổng phí tình cảm mười mấy năm nay.

Nghĩ đến đây, hoàng đế lại không nén nổi tiếng thở dài. Ngài nhìn sang hoàng hậu, căn dặn: “Hoàng hậu cứ nghỉ ngơi cho khỏe, để trẫm cân nhắc thêm đã.”

Vương hoàng hậu uyển chuyển vái chào, xong khi ngẩng lên đã rưng rưng nước mắt, gương mặt kiều diễm vẫn cười mà hai mắt thì ầng ậc nước, nhìn đáng thương khôn tả.

Thấy hoàng đế đứng dậy đi ra, Quách thục phi bất giác buột miệng: “Không phải bệ hạ có chuyện muốn nói với hoàng hậu ư?”

Hoàng đến chẳng buồn ngoái lại, vừa xăm xăm đi ra vừa đáp: “Vốn chỉ nói tới thăm hoàng hậu thôi mà, đây cũng là trẫm quan tâm hoàng hậu. Phi biết rõ Linh Huy đang ốm, lại bảo nó ra ngoài, còn không nói với trẫm, quả là quá phận.”

Quách thục phi ấm ức, lỡ miệng cãi lại: “Linh Huy là con gái thần thiếp, bảo nó tới thì có gì là quá phận…”

Vừa buột miệng, phi liền thấy không ổn, vội im bặt.

Hoàng đế đã ra khỏi điện Lập Chính, đang xuống thềm.

Quách thục phi bị bỏ lại chỉ biết đứng ngẩn ra giữa điện, ngoái đầu thì thấy Vương hoàng hậu thong thả tiến lại. Hoàng hậu cười đầy ẩn ý, ghé tai hỏi nhỏ: “Thục phi định dựa vào Đồng Xương chứ gì? Bản cung thực không biết, các triều đại xưa nay có phi tần nào dựa vào con gái mà leo lên được không?”

Nhìn nụ cười của hoàng hậu, Quách thục phi bỗng thấy kinh hãi vô cớ, vội lùi lại, cãi cố: “Đã có hoàng hậu sinh được con trai bị biếm vào lãnh cung, tất cũng có phi tần sinh được con gái mà thăng tiến.”

“Chẳng phải vì năm ấy nói được một câu ‘sống được’ đấy ư” Vương hoàng hậu cười cười nhìn Quách thục phi, ánh mắt đầy khinh miệt và giễu cợt, xong giọng điệu vẫn dịu dàng uyển chuyển, điềm đạm khoan thai: “Một người đàn bà không có con trai mà dám vọng tưởng leo lên đỉnh cao nhất của cung Đại Minh, bản cung thật thương hại cho ngươi.”

Lồng ngực Quách thục phi phập phồng dữ dội, bà ta trừng mắt nhìn hoàng hậu đầy căm hận. Hồi lâu mới cúi gằm mặt xuống, chẳng nói nửa lời, quay ngoắt người đi thẳng ra ngoài điện.

Đúng lúc Quách thục phi bước xuống thềm thì thấy mấy tên hoạn quan hớt hải chạy tới, ngoài Trường Khánh khi nãy vẫn đợi bên ngoài, còn có Đức Chính, đại hoạn quan trong cung bà ta, cùng đám hoạn quan phủ công chúa và phủ Quỳ vương, những kẻ đáng lẽ không thể xuất hiện.

Hoàng đế thấy mấy tên hoạn quan hoảng hốt lao tới bèn hỏi: “Có gì mà hớt hơ hớt hải thế?”

Trường Khánh và Đức Chính tức thì quỳ sụp xuống đất, nước mắt ròng ròng, không dám lên tiếng.

Hoàng Tử Hà trịnh trọng quỳ xuống bẩm báo: “Khởi bẩm bệ hạ, trên đường đến cung Thái Cực, Đồng Xương công chúa đã bị tập kích.”

Hoàng đế kinh hoàng hỏi ngay: “Bị tập kích à? Có bị thương không?”

Hoàng Tử Hà đáp khẽ: “Thương thế rất nghiêm trọng.”

Hoàng đế tái mặt: “Đồng Xương đang ở đâu rồi?”

“Muôn tâu, đã tức tốc đưa về phủ công chúa, cũng vào cung mời thái y rồi.”

Hoàng đế nghe nói liền phất tay áo đi thẳng ra cửa cung, gọi lớn: “Phùng Hàn!”

Từ Phùng Hàn theo hầu bên cạnh vội vã chạy theo: “Hoàng thượng đừng lo, công chúa ở hiền gặp lành, nhất định sẽ không việc gì…”

“Đến phủ Đồng Xương ngay!” Hoàng đế thô bạo ngắt lời.

Quách thục phi theo sau hoàng đế, mặt mày tái mét, lúc ngang qua Hoàng Tử Hà vẫn quỳ dưới đất, bà ta giận dữ trỏ cô mắng: “Làm hoàng thượng kinh sợ như thế, khi nào công chúa khỏe lại thì ngươi biết tay!”

Công chúa không khỏe lại được nữa rồi.

Hoàng Tử Hà nghĩ bụng. Đợi Quách thục phi đi khỏi, cô mới từ từ đứng dậy thở hắt ra.

Trời xanh lồng lộng, ngày dài đằng đẵng. Linh hồn Đồng Xương công chúa đã về chốn suối vàng trời biếc, chẳng còn dây dướng với thế gian này nữa.

Sinh thời phồn hoa, lễ tang long trọng, cũng chẳng liên quan gì tới nàng nữa.

Hoàng Tử Hà giơ tay lên, nhìn vết máu Đồng Xương công chúa trên đó.

Nàng công chúa được cả thiên hạ ngưỡng mộ, lớn lên giữa lầu son gác tía, bọc trong gấm lụa lượt là, ngọc ngà châu báu, nhưng có ai hay, nàng lại chết đi giữa độ xuân xanh, trong một góc tường hoang phế chỉ có dây leo và cỏ dại, ngay khi vừa rời khỏi các thị nữ vỏn vẹn một khắc.

Khi phát hiện Đồng Xương công chúa đã chết, các thị nữ hầu hạ nàng đều sợ đến ngã quỵ xuống đất, khóc lóc thảm thiết, Trụy Ngọc vừa khóc vừa gào lên: “Nhất định là Phan thục phi nhà Nam Tề! Bà ta đã lấy trâm Cửu loan đi, giờ lại dùng nó sát hại công chúa!”

Những kẻ khác không dám lên tiếng, nhưng nhìn vẻ kinh hoàng và khiếp hãi trong mắt họ, Hoàng Tử Hà hiểu, tất cả đều đồng tình với Trụy Ngọc.

Sau khi gây án, hung thủ hốt hoảng chạy đến khúc ngoặt rồi vượt tường nhảy ra ngoài, vết chân xéo lên cỏ dại vẫn rành rành. Tường bao ở đây sát với con phố vừa tắc nghẽn phải giải tán, ngoài đường người đi lại nườm nượp, không ngừng tỏa ra bốn phía, sai dịch tức thì tóm lấy mấy kẻ lảng vảng phía ngoài hỏi han nhưng họ đều nói mình không để ý thấy ai vượt tưởng nhảy ra cả.

Xem ra manh mối chủ yếu trong vụ này, ngoại trừ đối chiếu dấu vết hiện trường, thì chỉ còn cách tra xem, rốt cuộc kẻ nào có thể đánh cắp trâm Cửu loan giữa trùng trùng vòng vây canh gác của phủ công chúa, rồi đến hôm nay lại dùng chính nó đâm chết công chúa.

Kẻ đánh cắp cây trâm ắt có liên quan mật thiết đến hung thủ.

Hoàng Tử Hà đang mải ngẩm nghĩ, không để ý có người đến gần mình.

Chợt một giọng thanh thanh có phần hơi the thé cất lên: “Chim trên cành, cá trong nước, người dưới hoa. Cảnh sắc đẹp thế này, chẳng hay Dương công công còn ngẩn ngơ nghĩ ngợi chuyện gì?”

Thình lình nghe thấy tiếng nói sát bên cạnh, Hoàng Tử Hà giật bắn mình, vội bước lên một bước rồi mới ngoái đầu trông lại.

Là một nam nhân áo tím, tuổi chừng ba mươi, da dẻ trắng đến lạ thường, xong cặp mắt lại đen thẫm, thân hình gày gò dong dỏng cao đứng tựa vào cội hoa phía sau cô.

Nhưng dù đang mỉm cười, dù những đóa hoa trên cây lả tả trút xuống người, thì toàn thân y vẫn toát lên vẻ lạnh lẽo. Ánh mắt y dừng trên mặt Hoàng Tử Hà, khiến cô bất giác rùng mình.

Bỗng chốc, cô nhớ đến gã đàn ông với cặp mắt rắn độc từng nhìn mình chòng chọc ở cung Thái Cực lần trước, bất giác nhìn xuống tay y. Trong chén sứ trắng to bằng cái bát, hai con cá đỏ đang bơi lượn.

Thấy ánh mắt cô dừng ở hai con cá, y cười hỏi: “Dương công công cũng thích cá ư?”

Cá. Hai con cá quẫy mạnh chiếc đuôi xòe như sa mỏng, nghe tõm một tiếng.

Hoàng Tử Hà bỗng định thần lại. Cả triều đình Đại Đường này, chỉ có duy nhất một nội thị được mặc áo tím mà thôi.

Vừa nghĩ tới người này, cô vội quỳ sụp xuống đất: “Dương Sùng Cổ tham kiến Vương công công.”

Người kia nhìn xuống, giơ tay ra ý bảo cô đứng dậy. Nhìn vết máu long lổ trên tay cô, y hỏi: “Nghe nói…Đồng Xương công chúa xảy ra chuyện ư?”

Hoàng Tử Hà thoáng ngần ngừ, rồi gật đầu.

Vẻ mặt y vẫn điềm nhiên, khóe môi chỉ hơi nhếch lên đầy lạnh nhạt: “Nào, ngươi chìa tay ra đây.”

Hoàng Tử Hà chần chừ chìa tay ra trước mặt y.

Người nọ nắm lấy cổ tay cô, ngón tay y chẳng những trắng đến lóa mắt, mà còn mịn màng lành lạnh như ngọc chuốt, ấn mấy ngón tay dính máu của cô vào chén sứ.

Vết máu đã khô lại loang ra trong nước, mấy cục máu nhỏ cũng tróc ra.

Hai con cá tức thì bơi về phía mấy đốm máu nhỏ, tham lam mút mát vết máu trên ngón tay, khiến Hoàng Tử Hà sởn cả gai ốc.

“A Già Thập Niết thích nhất máu người. Nghe nói Quỳ vương cũng nuôi một con, Dương công công nhớ đem bí quyết này mách lại với vương.”

Nghe giọng nói lạnh lẽo của y, cô bất giác rùng mình, rụt phắt tay lại, làm bắn nước lên cánh tay trái đang cầm chén sứ của y, ướt cả tay áo, mặt y cũng dính vài giọt nước.

Y giơ tay phải lên nhẹ nhàng lau nước trên mặt, lặng lẽ nhìn cô.

Lưng Hoàng Tử Hà đầm đìa mồ hôi lạnh, cảm giác kinh hãi như bị rắn độc nhìn chòng chọc lại quặn lên. Cô vội vã hành lễ: “Vương công công thứ tội! E rằng tiểu nhân phải tới phủ công chúa ngay bây giờ.”

“Đi đi.” Y vẫn điềm nhiên, chỉ hơi nhấc tay làm hiệu.

Hoàng Tử Hà lập tức đứng dậy, lùi lại mấy bước rồi quay lưng chạy thẳng.

Phủ công chúa đang náo loạn.

Phát hiện ra đứa con gái mình yêu thương nhất chết ngoài đường, hoàng đế nổi cơn thịnh nộ. Các ngự y chẩn trị là xui xẻo nhất, vì không cứu được công chúa nên cả ba người đều bị lôi xuống phạt trượng, lúc Hoàng Tử Hà đến thì đã chết mất hai.

Hoàng Tử Hà hay tin, bèn đứng cùng Chu Tử Tần thì thào trao đổi.

“Nhưng lúc chúng ta phát hiện thì công chúa đã chết rồi, có là Hoa Đà tái thế cũng không thể cải tử hoàn sinh được…” Chu Tử Tần sợ ra mặt, giọng nói cũng run lên, “Sùng Cổ, giờ làm sao đây? Hoàng thượng cứ trút giận lên người khác thế này, e rằng sẽ có rất nhiều người bị vạ lây!”

Hoàng Tử Hà nhìn vị ngự y bị lôi xềnh xệch ra, cau mày nói nhỏ: “Công tử lo cho mình trước đi, hoàng thượng đích thân giao phó cho chúng ta phụ trách vụ này, kết quả án chưa phá được thì công chúa đã bị giết, công tử nghĩ hoàng thượng có bỏ qua cho chúng ta không?”

Mặt Chu Tử Tần càng tái ngắt, mồ hôi trán túa ra đầm đìa: “Sùng Cổ này, chúng ta phải đi tìm Quỳ vương nhờ cậy thôi…”

“Giờ gia ở đâu? Công tử định đi đâu mà tìm?” Hoàng Tử Hà ngao ngán hỏi.

Sắc mặt Chu Tử Tần lập tức xám ngoét: “Vậy, vậy làm sao đây?”

“Lập công chuộc tội thôi.” Hoàng Tử Hà vừa dứt lời đã thấy một người bên trong sải bước đi ra, gầm lên: “Những kẻ nào trong phủ công chúa theo Đồng Xương ra ngoài? Tất cả phải bồi táng theo công chúa hết! Để bọn chúng xuống dưới đó tiếp tục hầu hạ Đồng Xương!”

Là đương kim hoàng đế, người cha đang cả giận mất khôn.

Cả đám hoạn quan và cung nữ nơm nớp đợi bên ngoài phủ, chợt nghe thấy tiếng quát như sét đánh giữa trời quang, tức thì đều òa khóc nức nở, bọn Thùy Châu vật vã dưới đất, mặt mày tái nhợt.

Chu Tử Tần nghe vậy thì cuống cả lên, liều mạng tâu trình: “Bệ hạ, người hầu kẻ hạ của công chúa đều vô tội! Xin bệ hạ nghĩ lại!”

Ánh mắt hoàng đế dừng ở gã, nhưng dường như cơn giận đã che mờ lý trí, trong chốc lát không hề nhận ra gã: “Ai dám nói nữa, cũng lôi cả xuống!”

“Tâu bệ hạ, nô tài có lời muốn nói, xin bệ hạ châm chước!” Hoàng Tử Hà quỳ sụp xuống hành lễ, đoạn thưa: “Bệ hạ, nếu công chúa có biết, nhất định không muốn bệ hạ nổi cơn thịnh nộ, làm ra những chuyện hối hận về sau như thế, xin bệ hạ giữ gìn long thể, để công chúa dưới suối vàng được yên lòng.”

“Dương Sùng Cổ!” Hoàng đế trừng mắt nhìn cô, gầm lên: “Ta lệnh cho ngươi điều tra mấy vụ nghi án ở phủ công chúa, nhưng đến nay ngươi vẫn chưa có tiến triển gì, làm bê trễ vụ án, đến nỗi Đồng Xương… Đồng Xương… đường đường công chúa Đại Đường, mà lại bị… bị kẻ gian giết hại ngoài phố!”

Nói đến đây hoàng đế cũng nghẹn ngào, gần như nghẹt thở.

Quách thục phi từ bên trong khóc lóc lao ra, vuốt xuôi giúp hoàng đế, nức nở: “Bệ hạ… Bệ hạ… Con gái độc nhất của thần thiếp… chết rồi! Tên hung thủ… hung thủ đó, nhất định phải bị lăng trì tùng xẻo, thiêu xác đổ tro!”

Hoàng Tử Hà lại thưa: “Nô tài nhất định sẽ bắt hung thủ về quy án, nên xin bệ hạ giữ lại tính mạng cho những người này, để nô tài thẩm vấn điều tra cho rõ, sớm ngày phá án, bắt giữ hung thủ!”

Hoàng đế đấm mạnh lên cây cột, nhìn lướt qua đám cung nữ, hoạn quan trước mặt, hằn học nói: “Kẻ hầu người hạ bên cạnh công chúa mà không bảo vệ được chủ nhân chu toàn, tất cả đều đáng chết!”

Hoàng Tử Hà cụp mắt tâu: “Công chúa long dạ thiện lương, có ơn sâu nghĩa nặng với kẻ hầu người hạ, nếu công chúa biết được, ắt không muốn thấy bệ hạ đại khai sát giới vì mình thế này đâu.”

Cả đám hoạn quan và cung nữ phủ công chúa đều quỳ rạp dưới đất, gật đầu như bổ củi, luôn miệng van vỉ.

Máu nóng bốc lên đầu, hoàng đế choáng váng cả người, phải dựa cột nhìn vào bên trong, xong chỉ thấy màn trướng dày che kín giường công chúa.

Trong đó là đứa con đầu lòng của hoàng đế, khi người còn là Vận vương, tương lai mờ mịt, chẳng biết ngày sau sẽ ra sao, bị tất cả mọi người bên cạnh hoài nghi, chỉ riêng đứa con gái này luôn nũng nịu sà vào long, coi người là chỗ dựa duy nhất. Mỗi lần ôm lấy cổ người, ánh mắt nó lại sang rực lên, dẫu Quách thục phi muốn bế, nó cũng không chịu rời ra.

Bốn tuổi con bé mới biết nói, câu đầu tiên là “sống được”, chưa kịp hiểu nó có ý gì thì đội nghi trượng đến đón người đăng cơ đã tới cửa. Từ bấy, người tin chắc rằng đứa con gái này là báu vật trời ban cho mình nên trân quý như châu báu, mà nó cũng hết long tin tưởng, xem phụ vương như tấm bình phong vững chãi nhất.

Vậy mà giờ đây, có kẻ đã cướp đi báu vật người trân quý nhất, chỉ để lại một mình người đau đớn nhìn thi thể lạnh ngắt của con.

Hoàng đế từ từ gỡ tay Quách thục phi ra, căm hận lườm phi.

Quách thục phi thoáng ngây người, nhưng rồi hiểu ra ngay, nhất định ngài ngự đã giận lây sang mình. Nếu phi không phải vì chuyện lật đổ hoàng hậu mà gọi Đồng Xương vào cung, thì công chúa cũng không đến nỗi chết ngay giữa phố.

Nghĩ vậy, Quách thục phi vừa uất ức vừa đau xót, vội quay phắt đi bưng mặt nén tiếng khóc.

“Cái gì mà Phan Ngọc Nhi, Phan thục phi nhà Nam Tề! Hồn ma mấy trăm năm trước, sao có thể lấy mạng công chúa mà trẫm yêu thương nhất được!” Hoàng đế đứng trước điện quát lớn, tuy giọng nói đã hơi khàn, nhưng vẫn bừng bừng sát khí khiến người ta chẳng rét mà run: “Tra đi! Tra rõ rang cho trẫm! Xem kẻ nào giả thần giả quỷ, kẻ nào đặt điều nhiều chuyện, kẻ nào… giết Linh Huy của trẫm!”

Tất cả đều quỳ sụp xuống trước mặt ngài ngự, không dám thở mạnh.

Tiếng quát của hoàng đế văng vẳng trong đại sảnh lặng phắc, càng lộ ra nỗi đau thương.

Ngài ngự thình lình quay phắt lại, trừng mắt nhìn về thi thể Đồng Xương công chúa, lồng ngực phập phồng dữ dội, đau đớn và phẫn hận như một ngọn lửa hữu hình thiêu đốt thân thể người, khiến người chỉ muốn lật tung cả phủ công chúa, giết sạch những kẻ trước mặt chôn chung theo con gái.

Nhìn đăm đăm về phía con gái hồi lâu, lửa giận phừng phừng dần dần cũng nguội, đau xót lại như thủy ngân từ đỉnh đầu trút xuống, lan khắp toàn thân. Khi hơi lạnh nuốt chửng lấy ngọn lửa, cuối cùng hoàng đế cũng hiểu ra rằng, đứa con gái yêu kiều người từng ôm vào lòng đã không còn nữa; tiếng gọi phụ hoàng nũng nịu lẫn trong giọng cười lanh lảnh đã không còn nữa; đôi tay từng níu tay người nhõng nhẽo đã không còn nữa; cặp mắt long lanh luôn kính ngưỡng người, cũng không còn nữa.

“Dương Sùng Cổ, dù có phải lật cả kinh thành này lên…” Hoàng đế chầm chậm giơ tay ngăn dòng nước mắt, nhưng không ngăn nổi cơn run rẩy nghẹn ngào, người nói rất chậm, như thể chỉ cần thả lỏng một khắc thì sẽ khóc òa lên.

“… Ngươi phải cho trẫm một đáp án trước khi đưa tang công chúa. Trẫm muốn… thiêu xác đổ tro hung thủ trước linh cữu Đồng Xương!”

Hoàng Tử Hà lặng lẽ quỳ xuống dập đầu, nghiêm trang đáp: “Vâng.”

“Suýt nữa là mất mạng…”

Vừa rời khỏi đại sảnh đặt di thể công chúa, Chu Tử Tần đã lau mồ hôi lẩm bẩm: “Quỳ vương đi đâu không biết, không có vương gia ở đó, ta sợ quá đi mất…”

Hoàng Tử Hà thấy phò mã Vi Bảo Hoành đang đứng lặng ngoài sảnh, bèn ra hiệu cho Chu Tử Tần nín lặng, đi đến trước mặt phò mã hành lễ.

Vi Bảo Hoành gượng gạo giơ tay ra ý bảo hai người không cần đa lễ, hai mắt hắn ầng ậc nước, tuy ra sức kìm nén, nhưng lệ vẫn lăn dài.

“Đều tại… tại ta cả.” Hắn lẩm bẩm, giọng thiểu não: “Quỳ vương và công công đã dặn dò… dặn ta phải trông nom công chúa… vậy mà khi nàng muốn ra ngoài, ta lại không can ngăn…”

Hoàng Tử Hà buồn bã, cũng chẳng biết nói gì, đành khuyên nhủ: “Xin phò mã bớt đau buồn.”

Vi Bảo Hoành chỉ khẽ gật đầu, nghẹn ngào không thốt nên lời.

Thấy vậy, Hoàng Tử Hà an ủi thêm vài câu rồi cùng Chu Tử Tần cáo từ.

Rời khỏi khu Thập Lục trạch, nơi đặt phủ công chúa, Hoàng Tử Hà ngớ ra, Chu Tử Tần cũng ngớ ra.

Xe ngựa của Lý Thư Bạch đang dừng ngay đó đợi họ. Cạnh xe có một người đang đứng, chính là Trương Hàng Anh.

Hai người ngơ ngác nhìn nhau, Hoàng Tử Hà định thần lại trước, vội gật đầu chào Trương Hàng Anh rồi chạy đến cạnh xe hành lễ: “Tham kiến vương gia.”

Lý Thư Bạch đang ngồi trên xe đọc công văn, chẳng buồn ngẩng lên: “Hạn mấy ngày?”

“Thưa, trước lúc đưa tang.”

“Còn may, hoàng thượng coi như cũng rộng lượng với ngươi rồi đấy.” Y nhướng mắt liếc cô rồi gập công văn lại, “Lúc công chúa qua đời, Lữ Tích Thúy đang ở trong ngục, rõ ràng không có khả năng gây án.”

“Mà ba vụ án mạng này rất có thể là cùng một hung thủ, tham khảo bức tranh kia để ra tay.” Hoàng Tử Hà trầm ngâm nhận xét, “Bởi vậy, khả năng Tích Thúy là hung thủ hai vụ trước không nhiều.”

“Gã Trương Hàng Anh kia,” Lý Thư Bạch đưa mắt nhìn ra bên ngoài, “Cứ ngồi lì bên ngoài Đại Lý Tự, trông có ra thể thống gì không? Ngươi bảo hắn về nhà yên tâm đợi tin, hoặc là điều quách hắn từ Tả Kim Ngô Vệ sang giúp các ngươi tra án, làm chân chạy vặt cũng được.”

Hoàng Tử Hà ngỡ ngàng, “Ý gia là… muốn bỏ qua cho Trương Hàng Anh ư?”

Lý Thư Bạch nheo mắt nhìn cô, “Còn hỏi nữa, người cứ lén lút qua lại với hắn, ta trông cũng ngứa cả mắt.”

“Đa tạ vương gia.” Hoàng Tử Hà đuối lý, đành cúi gầm mặt xuống, nhưng rồi lại nhớ ra ngay, “Vậy nô tài dẫn Trương Hàng Anh tới Đại Lý Tự, xem Tích Thúy có cung khai thêm gì không.”

Lý Thư Bạch khẽ gật đầu, ra hiệu cho cô lên xe, rồi bảo Chu Tử Tần qua cửa sổ: “Tử Tần, người cùng Trương Hàng Anh tới Đại Lý Tự trước xem tình hình thế nào, chúng ta sẽ đến đó ngay.”

Nói vậy nhưng xe ngựa lại đi về phía Nam, nhằm hướng phủ Ngạc vương. Hoàng Tử Hà biết ý y, nên chỉ điềm nhiên hỏi: “Gia cũng cảm thấy, đây chính là hình vẽ thứ ba trong bức họa ấy ư?”

“Chết dưới cánh loan phượng… Trâm Cửu loan chính là con chim bổ xuống giết người, đúng không nào?” Y nghiêng đầu nhìn cô, đoạn giở bức tranh kia ra, nhìn qua cả ba hình vẽ.

Bị sét đánh chết cháy, là Ngụy Hỷ Mẫn tại chùa Tiến Phúc.

Chết trong lồng sắt, là Tôn ghẻ giữa căn nhà bít bùng.

Bị chim phượng bổ xuống mổ chết, là Đồng Xương công chúa bị trâm Cửu loan đâm trúng tim.

Lý Thư Bạch ngước nhìn cô: “Ngươi thấy thế nào?”

Hoàng Tử Hà gật đầu: “Nếu một hai người, còn có thể bảo là trùng hợp. Nhưng trùng hợp đến mức này không tìm Ngạc vương không xong.”

Ngạc vương Lý Nhuận thường ngày chỉ nhàn nhã ở trong phủ, hôm nay Lý Thư Bạch lại sai người đến báo trước, nên khi họ tới nơi, y đã pha sẵn trà ngồi đợi.

Cạnh tay y là một chiếc hộp dẹt.

“Tứ ca, nghe nói Đồng Xương xảy ra chuyện ở phường Bình Khang à?” Ngạc vương đích thân rót trà cho hai người, hơi nóng nghi ngút bốc lên rồi lan ra, khiến phòng trà trở nên mờ ảo.

Lý Thư Bạch gật đầu.

“Bị thương ư?”

Lý Thư Bạch lắc đầu: “Đã quy tiên rồi.”

Lý Nhuận bỗng khựng lại, làm nước tà hơi sánh ra ngoài, xong y chẳng hề để tâm, cứ ngẩn ra nhìn chằm chằm đám bọt xoay tròn trong cốc, giọng nghẹn lại như rặn ra từ cổ họng: “Làm sao… mà mất?”

“Bị cây trâm Cửu loan mình yêu thích nhất đâm chết.”

“Ai đâm?”

Lý Thư Bạch lắc đầu: “Lúc bấy giờ hỗn loạn, không bắt được hung thủ.”

Lý Nhuận đặt ấm trà xuống, thần người ra giây lát rồi khẽ cảm thán: “Đồng Xương là công chúa, sao có thể chết không minh bạch như thế, đúng là không thể tin nổi…”

“Khó tin nhất không phải cái chết của công chúa, mà là…” Lý Thư Bạch ra hiệu cho Hoàng Tử Hà đặt cuộn tranh lên bàn, rồi trải ra cho Ngạc vương xem: “Thất đệ đã thấy bức tranh này bao giờ chưa?”

Lý Nhuận gật đầu: “Đệ từng thấy tại nhà Trương Hàng Anh một lần. Lúc ấy mấy người bọn đệ còn tùy tiện chỉ trỏ bình luận ba hình vẽ trên đó, thực không ngờ… tất cả lại trở thành sự thật.”

“Ừ, ta cũng có nghe nói.” Lý Thư Bạch than thở, “Trước lúc Đồng Xương gặp nạn, ta từng xem qua bức tranh này, xong không chú ý lắm. Nếu lúc ấy nhận ra được manh mối gì đó, có lẽ hôm nay đã chẳng thành chuyện.”

“Thực ra… đệ đã thấy nó không bình thường từ lâu rồi.” Lý Nhuận phân vân nói, “Lần đầu tiên trông thấy, đệ đã cảm thấy chuyện này quá đỗi kỳ dị, sau khi về phủ vắt óc nghĩ mãi mấy hôm không thông, e rằng nay phải thỉnh giáo Tứ ca.”

Đoạn y mở chiếc hộp dẹt bên cạnh ra.

Trong hộp là một mảnh giấy được gấp vuông vắn, nhìn như mẩu giấy bông cũ vẫn dùng để vẽ mẫu thêu, trên có hai ba hình vẽ nguệch ngoạc đen sì bằng chì kẻ mày, trông cũng rối mắt hệt bức họa ở nhà họ Trương.

Lý Thư Bạch và Hoàng Tử Hà nhìn nhau. Quỳ vương cầm hẳn mẩu giấy lên, vẫy cô lại cùng xem.

Là một mảnh giấy bông to chừng bàn tay, nét vẽ ngả nghiêng xiêu vẹo, rõ ràng người vẽ không biết gì về hội họa. Về cơ bản có thể thấy đường nét hai bức khá tương đồng. Ở hình thứ nhất, phía trên khối mực đen là một nét mảnh; hình thứ hai có bảy đường ngang tám đường dọc bao quanh một khoanh mực chẳng nhìn ra hình thù gì; hình thứ ba là hai mảng đen ngòm dính liền vào nhau, một trên một dưới.

Bức tranh ở nhà họ Trương còn có thể gượng coi là miêu tả cái chết của ba người, còn bức vẽ trên giấy bong này tuy đường nét tổng thể tương tự, nhưng chi tiết thì không thể bằng được, nhìn vào không hiểu là gì, chỉ thấy ba mảng mực.

Lý Thư Bạch ngắm nghía hồi lâu rồi đưa mẩu giấy cho Hoàng Tử Hà, quay sang hỏi Lý Nhuận: “Chẳng hay bức tranh này của Thất đệ từ đâu mà có?”

Lý Nhuận bưng chén trà thở dài: “Không dám giấu Tứ ca, là mẫu phi đệ vẽ.”

Hoàng Tử Hà và Lý Thư Bạch sững người, không ngờ bức tranh này lại từ mẫu phi Lý Nhuận. Hoàng Tử Hà không biết những chuyện thâm cung bí sử, nhưng Lý Thư Bạch hiểu rõ, mẫu phi Trần Tu Nghi của Lý Nhuận dịu dàng hòa nhã, giỏi lựa ý người, mấy năm tiên hoàng đau ốm, đều do bà ta cận kề chăm sóc.

Đêm tiên hoàng băng hà, bà ta đau lòng đến suy sụp, từ bấy thành ra dở điên dở dại. Được sự đồng thuận của các thái phi, Lý Nhuận đã đón mẫu phi ra khỏi cung, đưa về phủ phụng dưỡng.

“Năm ngoái mẫu phi qua đời. Trước ngày mất mấy hôm, bà như được hồi quang phản chiếu, còn nhận ra đệ. Chắc là trời thương, chứ đệ cứ nghĩ, bà chỉ nhớ hình ảnh đệ lúc nhỏ thôi.” Khóe môi Ngạc vương vẫn thấp thoáng nụ cười như mọi khi, xong mắt đã rân rấn nước, “Nhân lúc tỉnh táo, bà đưa cho đệ bức tranh này. Bấy giờ đệ cũng chẳng để tâm, nhưng sau khi bà qua đời, đệ mới nhận ra, đây là thứ duy nhất bà chính tay giao cho đệ. Bởi thế, tuy cho là bức vẽ nhăng cuội của mẫu phi lúc phát bệnh, nhưng đệ vẫn giữ trong thư phòng. Mãi đến mấy hôm trước, đệ trông thấy bức họa ở nhà Trương Hàng Anh…”

Nói đến đây, y đưa bút nhìn sang ngự bút tiên đế, nghi hoặc hỏi: “Nhưng vì sao phụ hoàng lại để lại bức tranh như vậy, còn mẫu phi đệ, tại sao sau mười năm bệnh tật, còn lén lút vẽ theo, giao tận tay đệ?”

Hoàng Tử Hà cầm tờ giấy bông lên hỏi: “Thứ cho nô tài mạo muội, chẳng hay đưa bức vẽ này cho vương gia, thái phi có căn dặn gì không?”

“Mẫu phi nói…” Lý Nhuận im lặng nhíu mày, đưa mắt ra lệnh cho người hầu lui ra. Đợi tất cả lui hết, y mới đáp khẽ, “Mẫu phi lúc ấy không được tỉnh táo, nói rằng, thiên hạ Đại Đường…”

Thiên hạ Đại Đường sắp mới rồi.

Xong y không nói nốt nửa câu sau, chỉ kể đại khái: “Mẫu phi nói năng lộn xộn, có lẽ muốn bảo thiên hạ náo động, Đại Đường sắp suy vong… Còn dặn rằng bức vẽ này liên quan đến sự tồn vong của Đại Đường, bắt bản vương cất giữ cẩn thận.”

Lý Thư Bạch lấy lại mảnh giấy từ tay Hoàng Tử Hà, nghiêm trang đặt vào tay Ngạc vương: “Đa tạ Thất đệ. Xem ra bức tranh này nhất định là thái phi vẽ phỏng lại di bút của tiên hoàng theo trí nhớ.”

Lý Nhuận nhận lấy bức tranh, ngạc nhiên hỏi: “Bức tranh kia là… di bút tiên hoàng ư?”

Lý Thư Bạch gật đầu: “Ta đã đến nội phủ tra hồ sơ lưu của cung đình, quả nhiên trong ghi chép về lịch trình sinh hoạt của tiên hoàng có ghi rõ, Trương Vĩ Ích, chính là cha Trương Hàng Anh, đã vào cung thăm bệnh cho phụ hoàng ngày mồng mười tháng Tám năm Đại Trung thứ mười ba.”

Lý Nhuận hồi tưởng lại: “Lúc ấy đệ còn nhỏ tuổi, nhưng cũng biết phụ hoàng dùng lầm thuốc, dẫn đến thánh thể bất an từ tháng Năm, đến tháng Bảy thì cả ngày hôn mê. Ngự y bó tay hết cách, mấy hoàng tử bọn đệ bấy giờ vẫn ở trong cung, muốn vào thăm phụ hoàng nhưng toàn bị đám hoạn quan ngăn lại bên ngoài. Các đại danh y trong kinh lần lượt được triệu vào cung, nhưng đều chẳng có cách nào…”

“Trương Vĩ Ích là danh y cuối cùng, vào cung đúng ngày phụ hoàng băng hà. Ta đã sai người đi hỏi ông ta về lần tiến cung ấy, theo ông ta nhớ thì lúc đó ông ta là danh y ở Đoan Thụy Đường, tháng Tám phụng chiếu vào cung chẩn mạch cho phụ hoàng, bấy giờ phụ hoàng đã hôn mê, nhưng sau khi ông ta châm cứu, quả thật người từng tỉnh lại. Có điều cũng như mọi người trong cung, ông ta biết đây chỉ là hiện tượng hồi quang phản chiếu, triệu ông ta vào cung trị bệnh, chẳng qua chỉ mong phụ hoàng tỉnh lại chốc lát, sắp xếp nốt việc lớn trước khi băng hà thôi.”

Hoàng Tử Hà hỏi khẽ: “Khó khăn lắm mới tỉnh táo được một lúc, sao tiên hoàng còn vẽ tranh ban cho Trương Vĩ Ích?”

Lý Thư Bạch và Lý Nhuận cũng thắc mắc điểm này. Bấy giờ tiên hoàng đã hấp hối, đáng ra phải lo an bài việc lớn của triều đình sau khi mình qua đời, chứ đâu phải vẽ tranh ban cho một thầy thuốc dân gian.

“Thế nên người ta mới không hiểu nổi. Ngay chính Trương Vĩ Ích cũng chẳng hiểu gì cả. Sau khi tiên hoàng tỉnh lại, ông ta phải lui xuống ngay, một thầy thuốc dân gian sao có thể ngồi nghe việc lớn trong cung được?” Lý Thư Bạch nhíu mày, “Hồ sơ trong cung cũng ghi như thế. Tiên hoàng tỉnh lại, Trương Vĩ Ích lui ra. Chưa ra đến cửa cung, có người đuổi theo nói hoàng thượng cảm tạ tay nghề của Trương đại phu, ban cho một bức ngự bút. Ông ta mừng quá, vội hướng về phía điện Tử Thần dập đầu bái tạ, rồi nhận lấy cuộn tranh, vừa đi vừa giở ra xem, tức thì sững sờ không nói lên lời.”

Theo lời kể khe khẽ của hai người kia, ánh mắt Hoàng Tử Hà dừng ở bức tranh nọ. Thật không ngờ bản vẽ nguệch ngoạc này, hóa ra lại là di bút của tiên hoàng từ mười năm trước. Chắc hẳn lần đầu tiên trông thấy nó, Trương Vĩ Ích cũng không sao tin nổi.

Vậy mà mười năm sau, lại có ba vụ án mô phỏng theo hình vẽ trên đó, quả là không thể tưởng tượng, rất khó truy tra.
 
Trạng thái
Không mở trả lời sau này.
Top