Trạng thái
Không mở trả lời sau này.
[Trinh thám] Trâm I: Nữ hoạn quan - Châu Văn Văn

Cam Miên

đậu phụ của hòa thượng
Thành viên BQT
Mod - Sưu Tầm
Mod - Công Viên Xanh
Tham gia
13/4/19
Bài viết
1,457
Điểm cảm xúc
976
Điểm
113
Khi Hoàng Tử Hà về đến Quỳ vương phủ, Lý Thư Bạch đang dùng bữa tối một mình trong sảnh, thấy cô bước vào, y bèn ra hiệu cho các thị nữ lui ra, đoạn giơ tay trỏ chiếc ghế bên cạnh.

Hoàng Tử Hà hiểu ý kéo ghế ngồi xuống. Lý Thư Bạch lại đưa cô một đôi đũa ngà và một cái bát nhỏ.

Cô nhìn quanh, thấy chỉ có bóng hoa lay động trên vách, không còn người nào khác, mới gắp một miếng bánh kim nhũ, nhón ít thịt bằm ướp dầu đinh hương bỏ vào bát ăn.

Lý Thư Bạch điềm nhiên hỏi, “Nghe nói hôm nay đi dâng hương có kẻ đã biểu diễn một màn vô cùng đặc sắc trước mặt các ngươi hả?”

Vẫn nói tin tức của Quỳ vương rất nhanh nhạy, huống hồ lần này y cho đội hộ vệ của mình hộ tống họ lên núi, đương nhiên phải rõ như lòng bàn tay, nên Hoàng Tử Hà chẳng lấy làm lạ, chỉ đáp, “Vâng, đặc sắc lắm, có điều tôi thấy phản ứng của vương phi còn đặc sắc hơn.”

“Vương phi tương lai.” Lý Thư Bạch chỉnh lại cách gọi.

Hoàng Tử Hà vẫn bình thản như không, “Bệ hạ đích thân ban hôn, lại là họ hàng của hoàng hậu, lẽ nào còn có thay đổi gì sao?”

“Bất kể vì lý do gì, khi đưa canh thiếp giả ra, cô ta đã mắc tội khi quân phạm thượng, kết cục chỉ có thể là vạn kiếp bất phục mà thôi.” Lý Thư Bạch nói, đoạn chuyển chủ đề, “Cô ta sợ bị lộ thân phận ư?”

“Có vẻ còn hơn thế, dường như quá khứ của cô ấy ẩn giấu một bí mật gì đó không thể tiết lộ, khi gã đàn ông từ trên trời rơi xuống kia bóng gió nhắc đến, cô ấy sợ đến tái ngắt, không thể che giấu được.”

“Ngươi có để ý kẻ đó xuất hiện và biến mất thế nào không?”

“Hoàn toàn không nhận ra. Hắn làm sao xâm nhập vòng vây trùng trùng của các hộ vệ trong vương phủ, rồi lại làm thế nào để biến mất, tôi chưa thể lần ra mảy may manh mối.” Hoàng Tử Hà cắn cắn chiếc đũa ngà, cau mày nói, “Sau khi hắn biến mất, Vương Uẩn đã dẫn một toán người lục soát rất lâu khắp nơi trong chùa mà không thấy tung tích. Cứ như thể hắn đã biến thành chim bay mất vậy.”

Lý Thư Bạch chậm rãi hỏi, “Ngươi đọc Nguyên Hóa ký của họ Hoàng Phủ chưa?”

Hoàng Tử Hà lắc đầu, “Là cái gì vậy?”

“Là một cuốn sách, bên trong có nhắc tới một tuyệt kỹ là thuật dùng dây thừng của Gia Hưng. Nghe nói năm Khai Nguyên thời Huyền Tông, triều đình cho dân chúng tụ tập ăn mừng, huyện Gia Hưng và Giám ty thi đấu tạp kỹ, Giám ty bèn chọn trong các phạm nhân một kẻ rất giỏi tuyệt kỹ, có tên tù nói rằng mình biết phép dùng dây thừng. Ngục tốt bèn đem hắn ra bãi đất trống, giao cho một sợi dây thừng dài cả trăm thước. Hắn nhận lấy, quăng một đầu thừng lên trời, lập tức đầu dây chui vào trong mây, kéo căng cả sợi dây, như thể bên trên có người bắt lấy vậy. Hắn càng thả, sợi thừng càng mất hút vào bầu trời, cuối cùng khi đầu dây kia biến mất, hắn bèn theo dây leo lên, biến mất vào không trung, cứ thế mà trốn khỏi ngục.”

“Bất kể xem xét từ góc độ nào hay suy luận ra sao thì…” Hoàng Tử Hà nghĩ ngợi hồi lâu, kết luận, “Chuyện này cũng không thể xảy ra.”

“Sao lại không thể? Những chuyện không thể tưởng tượng trên đời chẳng phải rất nhiều ư?” Khóe môi Lý Thư Bạch khẽ nhếch lên, “Ví như, nghe nói vương phi tương lai của ta sẽ biến mất ngay trước mắt mọi người.”

“Xem ra vương gia rất để tâm những lời của kẻ đó?”

“Ta tin rằng không có lửa thì sao có khói.” Lý Thư Bạch ngả người ra lưng ghế, nhìn lên bóng hoa dập dờn lay động trên ô cửa sổ để ngỏ, chợt hỏi, “Hoàng Tử Hà, hồi nhỏ ở Trường An, ngươi thích nơi nào nhất?”

“Hở?” Miệng đang ngậm một miếng bánh kim nhũ thì bị hỏi đột ngột, Hoàng Tử Hà trợn tròn mắt nhìn Lý Thư Bạch rồi lúng búng đáp, “Hẳn là… chợ Tây.”

“Ừm, chợ Tây. Hồi nhỏ ta cũng thích nơi đó nhất.” Y thong thả nói, như đang ngẫm ngợi, “Ai lại không thích chỗ đó chứ? Ấy là nơi náo nhiệt nhất kinh thành, thậm chí nhất thiên hạ.”

Chợ Tây thành Trường An.

Châu báu Ba Tư, hương liệu Thiên Trúc, ngựa quý Đại Uyển, lá trà Giang Nam, gấm vóc đất Thục, da thú ải Bắc…

Từng dãy dài tiệm quán tíu tít mở cửa, nào hàng cá hàng bút quán rượu tiệm trà, chẳng chỗ nào không huyên náo. Khách buôn chen vai thích cánh với người đi đường, những hàng quà vặt quẩy gánh đi trên phố, cô ả bán hoa với những bó hoa như gấm, ca kỹ người Hồ eo lưng thon thả trên gác quán rượu, tạo thành một cảnh tượng náo nhiệt khôn tả.

Đây chính là chợ Tây Trường An với không khí náo nhiệt mà cả lệnh giới nghiêm cũng không xua tan được. Từ những năm Khai Nguyên, Thiên Bảo trở đi, nơi này ngày càng phồn thịnh, kéo theo cả phường Sùng Nhân quanh đó đêm đêm sênh ca, rộn ràng không ngớt.

Ánh mặt trời cuối xuân đầu hạ chiếu lên những cây hòe cây du đầy bên đường, lá non mới nhú biêng biếc như ngọc bích. Lý Thư Bạch và Hoàng Tử Hà kẻ trước người sau thả bộ dưới bóng cây. Vì Lý Thư Bạch đang cải trang, nên Hoàng Tử Hà hôm nay cũng trút bỏ bộ đồ hoạn quan, mặc đồ nam bình thường, thoạt trông như một thiếu niên mới lớn.

Hai người quanh quẩn khắp chợ tây, xem đủ thứ trong các cửa hàng. Tiếc rằng Lý Thư Bạch từ nhỏ quen sống trong nhung lụa, không ưng mấy món đồ tạo tác thô sơ trên phố, còn Hoàng Tử Hà không xu dính túi, lại chưa được Lý Thư Bạch phát lương bổng nên chỉ nhìn chứ chẳng mua được gì cả.

Đến một tiệm bán cá chép gấm, Lý Thư Bạch mới mua một túi thức ăn cho cá, lại ngắm nghía một bể cá bằng sứ hình dạng khá đặc biệt, vẻ như đang cân nhắc.

Hoàng Tử Hà đã không mua được thứ gì, đương nhiên phải xúi bẩy người khác, “Đẹp lắm, đem con cá ở nhà thả vào, nó cũng được hoạt động thoải mái hơn.”

Y cầm bể cá lên xem, đoạn đặt xuống nói, “Nuôi trong bể lớn để nó bơi qua bơi lại thành quen, về sau sẽ không quen chỗ nhỏ nữa.”

Hoàng Tử Hà lẩm bẩm, “Để nó thoải mái một ngày cũng không được ư?”

“Từ khổ đến sướng dễ, từ sướng đến khổ khó. Nếu đằng nào cũng rơi vào cảnh khổ thì ban đầu việc gì phải để nó quá sung sướng?”

“…” Hoàng Tử Hà thực chẳng biết nói gì với kẻ vừa khoác cả một đạo lý lớn lên mình con cá nhỏ nữa.

Giờ còn sớm, chưa thấy các phường trò đâu cả. Hoàng Tử Hà hỏi người đi đường, biết được bọn họ thường phải qua giờ Ngọ, lúc trên phố đông đúc nhất mới xuất hiện.

Trông sắc trời đã sắp đến giờ Ngọ, Lý Thư Bạch cuối cùng cũng rủ lòng thương Hoàng Tử Hà, dắt cô vào một tửu quán bên đường, chọn một gian phòng ngăn, gọi mấy món ăn chưa từng gặp trong vương phủ.

Bên trong quán bài trí khá trang nhã, có điều người dùng bữa đông đúc, không khỏi quá ồn ào. Lý Thư Bạch vừa cau mày, chợt nghe thấy một tiếng thước gõ, cả quán rượu tức thì im phăng phắc.

Là một tiên sinh kể chuyện đương ở trong quán, tay cầm một chiếc trống đô đàm(*), vừa gõ vừa hát, trước là một khúc Điệp luyến hoa của giáo phường, sau đó thu dùi lại, hắng giọng nói, “Hôm nay lão xin kể hầu các vị một chuyện lạ lùng hiếm gặp khắp bốn phương tám hướng Cửu Châu.”

(*) Một loại nhạc cụ du nhập từ Thiên Trúc.

Vừa nghe giọng, Hoàng Tử Hà đã nhận ra đây là tiên sinh kể chuyện trong ngôi đình nhỏ ngoài thành Trường An khi trước, bấy giờ cả đám người tụ lại trú mưa, chính người này đã nhắc đến vụ án nhà cô, hẳn bây giờ sẽ thuật lại những chuyện trên phố trong thành.

Quả nhiên, người đó nói ngay, “Thành Trường An, hoàng đế ngự giữa cung Đại Minh. Ngoài cung còn có các vương, trong đó có một vị là Quỳ vương gia, húy là Lý Tư, tự Thư Bạch.”

Bên dưới có người la lên, “Tôi thích nhất nghe chuyện Quỳ vương đấy, trước hết hẵng kể chuyện vương gia chỉ huy sáu vị tiết độ sứ đại chiến với Bàng Huân đi!”

“Khách quan à, đừng nóng đừng nóng, để tôi kể chuyện gần đây cho ông nghe nhé, nguồn cơn việc này có liên quan chặt chẽ với chuyện Quỳ vương bắn chết Bàng Huân giữa vạn quân năm xưa đấy.”

Bên ngoài ồn ào nhốn nháo, nhưng trong gian phòng ngăn chạm hoa có thể nhìn xuyên vách ra ngoài thì ngược lại, Lý Thư Bạch chỉ mắt lấp tai ngơ, chậm rãi dùng cơm, bình thản nhìn những người đi lại ngoài đường.

Hoàng Tử Hà chống cằm lắng tai nghe câu chuyện, “Ồ, các vị có biết gần đây Quỳ vương bận túi bụi không, nghe nói vương gia mới gặp phiền phức đấy.”

“Quỳ vương gia vừa phá được vụ án Bốn phương trong kinh thành, lại sắp nạp vương phi, đương lúc gió xuân đắc ý, sao lại gặp phiền phức được?” Vẫn là người khách vừa nãy hỏi đáp tung hứng.

“Các vị có biết chiều qua vương phi tương lai của Quỳ vương phủ, chính là Vương cô nương ở Lang Gia ấy, đến chùa Tiên Du dâng hương chăng?”

Đám người ngồi đó xôn xao bàn tán, “Chuyện này tôi cũng nghe phong thanh, nghe đồn người họ hàng này của hoàng hậu vô cùng diễm lệ, đẹp như thiên tiên vậy!”

“Hôm qua lúc xa giá Quỳ vương phủ hộ tống nàng ra khỏi thành, tôi cũng đứng bên đường chờ xem mặt, nào ngờ vương phi tương lai quả thực hiền thục đoan trang y như lời đồn vậy, buông kín rèm xe không vén lên lấy một góc nào, thực khiến người ta tò mò.”

“Song như tôi thấy thì ắt là giai nhân tuyệt sắc, mới giành được Quỳ vương gia từ tay Kỳ Lạc quận chúa chứ?”

“Kỳ Lạc quận chúa hiện giờ mới là kẻ đáng thương nhất kinh thành đấy, đủ thấy đàn bà con gái đừng dại mà phô bày hết tâm ý ra, lỡ chẳng lấy được người trong mộng, lại thành trò cười cho thiên hạ.”

“Đúng vậy, nếu không có Vương cô nương này, thì dựa vào gia thế cùng dung mạo của quận chúa, chẳng phải là trời sinh một đôi với Quỳ vương ư? Chắc giờ quận chúa đang đóng cửa nhốt mình trong phòng, ngày ngày nguyền rủa Quỳ vương phi ấy nhỉ, a ha ha ha…”

Khắp phòng rộ lên tiếng xì xào, song tiên sinh kể chuyện chỉ cười ngồi nghe, đợi tiếng xôn xao ngừng bặt mới nói, “Nhưng các vị có biết, dù Vương cô nương kia may mắn ngồi lên vị trí Quỳ vương phi mà bao người trong kinh thành ao ước, cũng khó tránh khỏi hôn sự trắc trở giữa chừng không?”

Những người ngồi đó vừa nghe thấy câu này tức thì lặng phắc. Tiên sinh kể chuyện nọ thực là nhanh mồm nhanh miệng, tương thuật luôn tấn trò hôm qua trong chùa Tiên Du, lại thêm mắm giặm muối vô số phỏng đoán và tưởng tượng, cả cái gì mà chỉ thấy kẻ kia thân cao một trượng eo to tám người ôm mặt xanh nanh vàng bên sườn có một đôi cánh, còn nói hắn muốn bắt cóc vương phi nên Vương Uẩn phải chống kiếm đại chiến ba trăm hiệp với hắn. Quái nhân không thắng nổi, bèn nhảy khỏi vòng chiến rống lên, “Từ giờ đến hôm cưới còn mười ngày. Quỳ vương cứ cẩn thận đấy!” Thì ra hắn đã quyết sẽ bắt vương phi đi trước ngày thành hôn, ngay trước mắt mọi người, giữa tường sâu cung cao.

Tiên sinh càng kể càng hăng, gõ cây thước đánh cốp xuống bàn, vẻ hứng khởi, “Vương Uẩn nghe nói giận đến xì khói, vung kiếm chém xuống. Keng một tiếng, quái nhân đã biến thành làn khói xanh bay mất, dưới đất chỉ còn một đầu mũi tên đen sì, bên trên khắc bốn chữ ‘Đại Đường Quỳ Vương’, chính là mũi tên năm xưa Quỳ vương đã bắn vào yết hầu Bàng Huân.”

“Hay!” Tiên sinh kể chuyện vừa thốt ra tiếng cuối cùng, đám đông trong sảnh liền rầm rộ khen ngợi, ầm ĩ như sấm dậy. Hoàng Tử Hà lắc đầu. Lý Thư Bạch hờ hững hỏi, “Kể không hay ư?”

Hoàng Tử Hà lắc đầu, “Là tôi nghĩ không thông, nếu bên sườn đã có cánh thì còn biến thành làn khói xanh làm gì, đập cánh bay đi chẳng được ư?”

“Không thế thì sao hấp dẫn được người nghe?”

Nhớ lại ngày trước trong ngôi đình nhỏ ở ngoại thành Trường An, tiên sinh kể chuyện này từng vu cho mình là Bạch Hổ Tinh đầu thai, Hoàng Tử Hà bất giác đưa tay lên đỡ trán, trấn tĩnh rồi hỏi, “Không kêu phủ doãn trị cho hạng người này một trận được ư?”

“Tăng thêm chút niềm vui trong cuộc sống cho trăm họ, có gì không tốt đâu?” Lý Thư Bạch vẫn điềm nhiên, đến lông mi cũng chẳng buồn chớp.

Hoàng Tử Hà lắng tai nghe tiếp động tĩnh bên ngoài, thì ra tiên sinh nọ đã kể sang câu chuyện ngày xưa.

Năm Hàm Thông thứ chín, Bàng Huân binh biến ở Quế Lâm, thống lĩnh hai mươi vạn binh áp sát triều đình, đòi được phong làm tiết độ sứ. Triều đình không chịu, hắn bèn tự lập làm vua, đánh hạ một mạch mấy châu quận, ngang nhiên tàn sát quan lại và dân chúng. Bấy giờ các tiết độ sứ ai khư khư cầm quân lo thân người nấy, triều đình không cách nào điều động được binh lực các châu, giữa họa binh đao, hoàng thất Lý Đường đành bó tay chịu chết, chỉ riêng Lý Thư Bạch một mình đi đến các châu phủ hùng mạnh chiêu binh, tập hợp được mười vạn binh mã, lại đem quyền hành và so sánh lợi hại thuyết phục các tiết độ sứ xung quanh, cuối cùng tạo nên một thành lũy liên hợp của sáu tiết độ sứ lớn, đến tháng Chín năm sau thì đại phá phiến quân, giết chết Bàng Huân.

Bấy giờ Bàng Huân đứng trên đầu thành, giữa đám loạn quân, chính Lý Thư Bạch đã giương cung bắn trúng yết hầu hắn. Loạn quân chạy tan tác, Bàng Huân từ trên đầu thành rơi thẳng xuống đất, bị binh mã dưới thành giày xéo nát nhừ giữa tiếng nhốn nháo. Chỉ có mũi tên dính đầy máu thịt nọ là được giữ lại, cho vào hộp pha lê, đặt trong tháp canh ở Từ Châu để răn đe người sau.

Cũng chính lúc ấy, Lý Thư Bạch bắt được lá bùa viết sinh thần bát tự của mình, chớp mắt đà mấy năm, thiếu niên mười mấy tuổi đã thành vương gia quyền nghiêng thiên hạ, song từ bấy y cũng rơi vào lời nguyền quỷ quái, không cách nào thoát ra được.

Tháng trước có tin đồn chiếc hộp pha lê trong tháp canh Từ Châu vẫn không mảy may xê dịch, nhưng mũi tên kia đã không cánh mà bay. Quan lại Từ Châu cuống quýt truy tìm bấy lâu không thấy tăm tích, nào ngờ nó lại xuất hiện ở chùa Tiên Du, đúng ngày Vương Nhược đến dâng hương, do kẻ thần bí kia bỏ lại trong chùa.

"Các vị, thế này chẳng phải chuyện lạ đó đây, lạ càng thêm lạ ư?”

Tiên sinh gõ thước đánh cộp như khơi chuyện, mọi người bèn rộ lên bàn tán, “Lẽ nào là oan hồn Bàng Huân không tan, mượn dịp Quỳ vương gia thành thân đến báo thù ư?”

“Thôi đi, xưa nay chỉ có tôi trung con hiếu mới hiển linh, hắn là phản tặc, còn oan gì chứ?”

“Úi chà, Bàng Huân giết người như ngóe, nói không chừng chính là ác quỷ đầu thai, sao không thể có linh hồn chứ?”

Thấy câu chuyện chẳng mấy chốc đã xoay sang hướng thần quái, Hoàng Tử Hà đành quay lại nhìn Lý Thư Bạch. Y không buồn ngẩng lên, chỉ hỏi, “Sao thế?”

“Tôi đang nghĩ... năm mười chín tuổi, khi bắn mũi tên kia vào Bàng Huân, vương gia đã nghĩ gì?” Cô chống cằm nhìn y.

Mặt y vẫn thản nhiên như mặt hồ lặng gió, không một gơn sóng, “Nếu biết được ngươi sẽ thất vọng đấy.”

“Không thể nào, vương gia nói nghe xem?”

“Bấy giờ ta nghĩ, nếu tự dưng lại có cơn gió đẩy lệch mũi tên đi, có phải hơi mất mặt không.”

“…” Hoàng Tử Hà nín lặng.

“Có những chuyện, cần gì phải biết.” Y nói, đoạn trỏ ra ngoài song, “Đằng kia có phường trò mới ra kìa, đi thôi.”

Bụng sôi òng ọc, Hoàng Tử Hà nhìn đĩa thức ăn mới gắp được mấy đũa trước mặt rồi hậm hực đứng dậy theo y.

Đã qua giờ Ngọ, những người diễn trò rong đều đã có mặt. Song đa phần là mấy trò bình thường như tung vòng, đội bát, đi trên ang nước, trái lại, trước mặt một người nuốt kiếm có cả đám đông xúm xít.

“Nuốt kiếm quá bình thường, có gì hay đâu?” Cô hỏi một người trung niên đang ra sức chen lấn.

Người kia háo hức đáp, “Cái này khác! Thanh kiếm dài đến bốn thước, song người lùn nuốt kiếm chỉ cao ba thước thôi!”

Nghe vậy, Hoàng Tử Hà chỉ hận không thể chen ngay vào trong. Lý Thư Bạch ném cho cô một cái nhìn khinh bỉ rồi quay ngoắt người bỏ đi. Hoàng Tử Hà đành lặng lẽ theo sau, thầm nghĩ hạng người này sống trên đời dường như không có chuyện gì khiến y phấn chấn hay hứng thú cả, bản thân y liệu có thấy vui không?

Song chỉ một thoáng sau, cô đã nghĩ ngay đến bản thân mình. Mẹ cha qua đời, mất hết người thân, mang nặng mối thù mà chẳng có mảy may manh mối, đời này của cô liệu có cách nào trở lại thành thiếu nữ hồn nhiên nô đùa như trước không?

Lý Thư Bạch đang đi, chợt cảm thấy đằng sau yên ắng hẳn, cả tiếng chân hình như cũng không nghe thấy nữa. Y hơi ngoái đầu, nhìn về phía Hoàng Tử Hà.

Cô đứng phía sau, cách y chừng hai bước, song ánh mắt lại dán vào đôi vợ chồng trẻ đi ngang, bọn họ người bên trái người bên phải, dắt tay một cô bé, cô bé sôi nổi hoạt bát, có lúc còn cố ý nhảy lên đeo dính lấy cánh tay cha mẹ như một chú khỉ đánh đu.

Lý Thư Bạch dừng bước, đợi Hoàng Tử Hà.

Cô đứng đó đưa mắt nhìn ba người nọ đi xa, tĩnh tại mà lặng lẽ, nắng đổ xuống cô, tạo bóng lờ mờ trên gương mặt.

Hồi lâu, đợi cô nhìn đến mình, Lý Thư Bạch mới chậm rãi nói, “Đi thôi.”

Phía trước lại xuất hiện một đám đông, lần này là gánh ảo thuật của một cặp phu thê, ở họ toát lên vẻ phong trần và láu lỉnh đặc trưng của nghệ nhân giang hồ. Hoàng Tử Hà và Lý Thư Bạch đứng giữa đám đông, trước tiên thấy hai người kia diễn một màn kịch ngư long, sau đó là tiết mục biến nước trắng thành rượu thường thấy, người phụ nữ còn làm một màn biến hoa giấy thành hoa tươi, tuy phương pháp không có gì mới, song đến cuối màn, khi thị tung mấy chục đóa hoa tươi lên không trung rồi để chúng lả tả rơi xuống, trông cảnh tượng quả có lý thú.

Màn ảo thuật kết thúc, người xem tản đi. Cặp phu thê thu dọn đồ đạc chuẩn bị đi nốt. Thấy Lý Thư Bạch đưa mắt với mình, Hoàng Tử Hà đành bước lên hỏi, “Chào hai vị, màn biểu diễn của hai vị hay quá, xem đã cả mắt!”

Người đàn ông tươi cười đáp lễ, “Thường thôi thường thôi, tiểu huynh đệ thích xem ư?”

“Đúng thế, nhất là cái màn… biến hoa giấy thành hoa thật ấy. Tôi đoán hoa thật được giấu trong tay áo, nhưng hoa giấy biến đi đâu rồi?”

Người đàn ông cười nói, “Chuyện này không nói được, đây là ngón nghề kiếm cơm của chúng tôi.”

Hoàng Tử Hà quay lại nhìn Lý Thư Bạch, y bèn ném cho cô một thoi bạc. Cô đặt thoi bạc vào tay người kia, khẩn khoản, “Đại ca, không giấu gì huynh, chủ tôi đang đánh cược với người ta. Huynh có biết kinh thành từ hôm qua rộ lên lời đồn rằng ở chùa Tiên Du có kẻ chỉ phất tay một cái đã làm biến mất cả con chim trong lồng không?”

Người kia nắm chặt lấy thoi bạc, cười tươi rói, “Chuyện này tôi không biết, nhưng có cách làm biến mất một con chim trong lồng mà. Tiểu huynh đệ cứ kể ra xem.”

“Chủ tôi có một người bạn, khăng khăng nói rằng chuyện này không thể. Chủ tôi bèn đánh cược với y, nói trong ba ngày nhất định sẽ biểu diễn trò này cho y xem, Huynh thấy… có thể dạy cho chủ tôi cách ấy không?”

“Đó chẳng qua là trò vặt đấy thôi.” Người kia tông tốc nói ngay, “Con chim trước tiên đã được huấn luyện kỹ, một khi chủ nhân ra hiệu, nó sẽ đứng lên một chỗ nào đó trong lồng, chỗ đó gắn sẵn cơ quan, chỉ cần ấn tay trái vào một nan lồng, cơ quan nọ sẽ hoạt động, con chim nhỏ ắt rơi ra, đúng lúc ấy hắn phất tay áo qua hứng lấy là được.”

“Ồ! Ra vậy.” Hoàng Tử Hà sực hiểu, lại chìa tay về phía Lý Thư Bạch, Lý Thư Bạch ném cho cô một thoi bạc. Cô giơ thoi bạc lên hỏi, “Huynh đã nắm rõ cơ quan này như thế, chắc chỗ huynh cũng có loại chim và lồng như thế chứ?”

“Trước đây quả từng có.” Người nọ vừa thấy bạc liền lộ vẻ rầu rĩ, “Đáng tiếc mấy ngày trước bị người ta mua mất rồi.”

Người phụ nữ nãy giờ đứng bên cạnh, cuối cùng cũng không nhịn được chen vào, “Thiếp nói rồi mà, năm lạng bạc kia làm được gì chứ, con chim ấy là sư phụ truyền lại, huấn luyện công phu như thế, có bán mười lạng cũng tiếc.”

Hoàng Tử Hà lại hỏi, “Dạy sáo đen à? Trong ba ngày liệu có dạy được không?”

Người kia buồn bã đáp, “Không phải sáo đen, của tôi là một con chim trắng muốt, đẹp lắm.”

“Ôi, thế thì tiếc quá.” Hoàng Tử Hà nói, đoạn dúi thoi bạc vào tay hắn, “Chẳng biết là ai mua mất, có cách nào tìm được người đó không? Tôi muốn thử vận may, đi hỏi xem liệu người ta có bán lại cho không.”

“Chuyện này tôi thực không biết, người ta học xong thì đi mất, tôi cũng chẳng rõ tên.”

“Vậy trông người thế nào? Đại ca còn nhớ không?”

“Ừm… là một thiếu gia chừng hai mươi tuổi đổ lại, người tầm thước, mà hơi cao, mặt mũi thì, rất đẹp đẽ thanh tú… Phải rồi, trên trán còn có một nốt ruồi son!”

Người phụ nữ bổ sung, “Nốt ruồi nằm chính giữa trán, con người vốn đã đẹp đẽ lắm rồi, lại được thêm một nốt ruồi, thành ra dào dạt tiên khí, khác nào người trong tranh!”

Dọc đường về Quỳ vương phủ, hai người đều nín lặng.

Hoàng Tử Hà mải điểm lại đầu đuôi mọi sự cùng những manh mối bí hiểm chưa tháo gỡ được, bất chợt ngẩng lên thì thấy Lý Thư Bạch đã bỏ cô lại một quãng xa, vội rảo bước đuổi theo.

Trời đã tối, đèn đuốc đã thắp sáng hai bên đường, hàng dãy đèn lồng chạy dài, tỏa sáng đỏ rực khắp phố. Dưới ánh đèn, Lý Thư Bạch ngoái lại nhìn cô, gương mặt lạnh lùng cố hữu của y dịu đi dưới ánh hồng ấm áp, đôi mắt cũng bớt vẻ hờ hững, lại điểm vài phần băn khoăn.

Hoàng Tử Hà không ngờ y lại để tâm tới kẻ kia như vậy, tự dưng lúng túng, chẳng biết nên nói gì. Cô ngẩng đầu nhìn y, những ngọn đèn chạy dọc con đường lung lay trong gió, mờ ảo lung linh, tỏa ánh chênh chao. Cô chợt thấy bối rối, hồi lâu mới khó nhọc rặn được mấy câu, “Thực ra, tôi nghĩ thế này… Một trang nam tử xuất khẩu thành thi, khí chất ôn hòa thì không thể là kẻ diễn trò lưu lạc giang hồ, ắt là kín đáo học hỏi được ai đấy nên mới đến thăm dò… Nhưng người hôm ấy xuất hiện trước mặt chúng tôi… nhất định không thể là… người đó được.”

“Ừm, người ấy không thể có quan hệ gì với Bàng Huân, càng không thể qua mặt mọi người, lẻn vào chùa Tiên Du được.”

Nhưng y có thể sai kẻ khác lẻn vào chùa Tiên Du. Khi hai người không hẹn mà cùng nghĩ tới điểm này, cô lại nói, “Huống hồ, người ấy đã có thuộc hạ ra mặt thay mình, việc gì phải đích thân tới chỗ hai nghệ nhân diễn trò bên đường học lấy mánh khóe.”

Trên đường đèn đuốc sáng trưng như ban ngày, hai người đang đứng lặng, chợt một cỗ xe ngựa chầm chậm chạy đến, trước xe sau xe lại có vệ binh mở đường và hoạn quan hầu hạ, một hàng mấy chục người đi rất trật tự.

Hai người không muốn bị trông thấy, bèn tránh sang bên đường, nào ngờ người trên xe lại mở cửa sổ ra, chỉ thoáng nhìn đã thấy bọn họ.

Cỗ xe từ từ dừng lại rồi cửa xe bật mở, người bước xuống là Ngạc vương Lý Nhuận.

Y là một thiếu niên trắng trẻo mà thanh tú, văn nhã mà hiền hòa, gương mặt lúc nào cũng tươi cười. Những người gặp y đều nói ở y toát ra một thứ tiên khí bẩm sinh, mày mắt đẹp như tranh vẽ, chính giữa trán lại có một nốt ruồi son đỏ thắm, chẳng khác người trong tranh.

Lý Nhuận bước tới trước mặt hai người, mỉm cười hỏi Lý Thư Bạch, “Sao Tứ ca lại ở đây?”

Lý Thư Bạch quay lại nhìn y, khẽ gật đầu, “Thất đệ.”

Lý Nhuận thấy y đi một mình, chỉ dắt theo Hoàng Tử Hà, liền gật đầu ra vẻ hiểu ý, rồi cười cười nói với Lý Thư Bạch, “Hôm nay tiết trời thoáng mát, đèn phố như sao, hèn nào Tứ ca cũng phải ra ngoài đi dạo. Có điều dắt theo mỗi một tiểu hoạn quan e rằng không ổn, nên cho dăm tay cấm vệ đi cùng mới phải.”

Lý Thư Bạch giơ tay sờ mấy tua đèn buông rủ, “Nếu đem theo nhiều người, sao còn thưởng thức được cảnh đêm tĩnh mịch thế này?”

Lý Nhuận nhìn quanh, thấy cả con phố rực rỡ ánh đèn, người qua lại thưa thớt, không khỏi gật đầu tán thưởng, “Tứ ca nói phải, chúng ta từ nhỏ lớn lên giữa phồn hoa, đâu lĩnh hội được cảnh trí thế này.”

Lý Thư Bạch tỏ vẻ không muốn nhiều lời thêm nữa, “Sắp đến giờ giới nghiêm rồi, đệ cũng mau về đi.”

Lý Nhuận gật đầu khen phải, sau đó lại nghĩ ra một chuyện, liền nói, “Nếu Tứ ca rảnh rỗi, mời đến chỗ đệ chơi. Trần Niệm Nương đệ tử tái truyền của Đổng Đình Lan đang ở đó, đệ mời bà ta về làm cầm sư.”

“Bà ta không về Dương Châu ư?”

“Lúc trước Cửu đệ dẫn bà ta vào cung gảy đàn cho Triệu thái phi nghe, bệ hạ và hoàng hậu cũng có mặt. Song Triệu thái phi chỉ ưa tỳ bà, bệ hạ lại thích ồn ào, không chuộng cầm sắt, hoàng hậu thì thanh tĩnh xưa nay, hằng ngày không ham ca múa yến tiệc, càng không thể đánh giá cao một cầm sư. Đệ hỏi ý Trần Niệm Nương, bà ta nói muốn tạm nán lại kinh thành ít lâu, hẳn vẫn muốn tìm Phùng Ức Nương.”

Hoàng Tử Hà và Lý Thư Bạch nhìn nhau. Thực không ngờ Trần Niệm Nương lại đến sống trong phủ Lý Nhuận. Một loạt sự việc liên quan đến nhau dường như đang dần dần tập trung lại dưới sự dẫn dắt của một thế lực nào đó.

Lý Thư Bạch thản nhiên bảo Lý Nhuận, “Ra thế. Mấy hôm nữa ta rỗi, nhất định sẽ sang bên ấy.”

“Được, đệ xin quét cửa chờ sẵn.”

Đợi xe ngựa của Lý Nhuận đi xa, Lý Thư Bạch mới đưa mắt nhìn chiếc đèn trước mặt, chậm rãi hỏi, “Ngươi thấy Ngạc vương gia thế nào?”

Hoàng Tử Hà cân nhắc chốc lát rồi đáp, “Nếu muốn giả mạo thân phận, cách tốt nhất là đóng giả làm một người có đặc điểm rõ ràng. Tôi nghĩ đây có lẽ chính là nguyên nhân khiến Ngạc vương gia được chọn là hỏa mù che mắt chúng ta.”

“Còn khả năng nào không?”

“Còn một khả năng là Ngạc vương gia nổi dạ trẻ thơ, vừa thao túng việc tuyển phi của vương gia vừa đích thân đến chợ Tây học mánh, sau đó quay về sai người tới đe dọa vương phi.” Cô tựa vào gốc liễu, cầm một cành liễu thong thả nói, “Nghĩ thế nào cũng thấy khả năng đầu tiên nghe lọt tai hơn.”

Lý Thư Bạch chậm rãi nói, “Ta khác ngươi, không thích phân tích những chi tiết như vậy. Nhưng chẳng cần phân tích cũng biết Thất đệ không phải kẻ ấy, bởi ta không tin Thất đệ có thể ra tay với ta. Trên đời này, những kẻ dám chính diện đối địch với ta không nhiều đâu. Ta chỉ muốn biết kẻ nào định đẩy Thất đệ đến trước mặt ta, để làm ta tưởng Thất đệ đang giở trò.”

Mùng 9 tháng Năm.

Còn bảy ngày nữa là đến lễ thành hôn của Quỳ vương.

Cơn mưa rả rích suốt đêm khiến cả kinh thành trở nên mờ mịt. Trên đường đến nhà họ Vương, Hoàng Tử Hà nhìn qua tấm rèm trúc tinh xảo trên cửa xe, trông thấy những nhành hoa trĩu xuống vì ngậm nước mưa.

Hoa đào hoa mận đã nở hết, nhưng hoa hòe ở Trường An đang lần lượt xòe cánh, mùi hương ngan ngát bao trùm cả kinh thành. Từng chùm hoa trắng muốt buông rủ đầu cành, nhạt màu đến mức tưởng như vô hình. Thỉnh thoảng một hai đóa chạm vào cửa sổ xe nghe sột soạt, cô mới nhận ra không phải nước mưa mà là hoa.

Người nhà họ Vương đã cầm ô đứng ngoài cổng chờ sẵn, thấy Hoàng Tử Hà xuất hiện vội chạy lại che cho cô, “Cuối cùng Dương công công cũng đến rồi. Hoàng hậu triệu tiểu thư vào cung, dặn công công và Tố Khởi cô cô đi theo tấn kiến.”

“Ồ, ta biết rồi.” Hoàng Tử Hà gật đầu. Những lời đồn đại cứ lan đi mãi trong kinh thành, đã đến tận tai hoàng hậu nơi thâm cung. Hôm nay hoàng hậu triệu họ vào, hẳn muốn dặn dò nhiều việc.

Hoàng Tử Hà đón lấy cây dù, đi xuôi theo hành lang. Qua hai lớp cửa son, con đường quành sang Tây viện, chính là nơi ở của Vương Nhược. Chỗ nàng trồng đầy phong lan, bụi chuối trong sân cũng mới nhú lên những đợt non nuột nà, thấp thoáng trông thấy song hoa, giữa cảnh mưa lâm thâm thế này càng toát lên vẻ lạnh lẽo, thiếu hơi ấm.

Hoàng Tử Hà thu ô lại, đứng ngoài cửa sổ. Dưới hành lang trồng một bụi chuối, dưới gốc chuối là một ang sứ lớn, bên trong nuôi một con cá chép gấm ba bốn đuôi, màu sắc tươi tắn, pha giữa hồng và trắng, đang nhởn nhơ bơi lượn.

Hoàng Tử Hà đứng đó ngắm mưa giội xuống tàu chuối, làm bắn lên những hạt nước li ti. Giữa khung cảnh tĩnh lặng, cô chợt nghe loáng thoáng tiếng động trong phòng, như có kẻ đang thì thầm.

Hoàng Tử Hà ngoảnh vào, nhìn qua song cửa, trông thấy Vương Nhược đang ngủ mê man trên chiếc giường kê bên cửa sổ, đôi mày nàng nhíu chặt, vẻ mặt đầy kinh hãi, hai tay nắm chặt mép chăn, trán đầm đìa mồ hôi, như đang phải chịu cực hình tàn khốc nhất vậy.

Hoàng Tử Hà đứng ngoài cửa sổ, quan sát nàng một hồi, đang nghĩ xem có nên đánh thức hay không thì nghe thấy nàng lảm nhảm, “Huyết sắc… Huyết sắc…”

Cô thoáng ngạc nhiên, đang cúi đầu lắng nghe, chợt thấy giọng Vương Nhược đổi ra khẩn cầu, “Phùng Nương, đừng trách tôi, bà không nên biết…”

Mưa gió bỗng mạnh hẳn lên, hất van vát xuống Hoàng Tử Hà. Cô vội né người tránh, nghe thấy Vương Nhược “á” lên một tiếng rồi tỉnh dậy.

Hoàng Tử Hà bình thản giũ những hạt mưa trên áo mình, điềm nhiên như không bước đến gõ cửa gọi nhỏ, “Vương phi.”

Trong phòng vốn dĩ có hai a hoàn, một đứa tên Nhàn Vân cực kỳ lanh lợi, lập tức chạy ra mở cửa chào, “Dương công công đến rồi, vương phi đang gặp ác mộng.”

“Ừm, vừa nãy ở ngoài cửa sổ ta cũng nghe thấy.” Hoàng Tử Hà phẩy phẩy mưa trên người, quay lại trông thấy Vương Nhược đã từ từ ngồi dậy, đang ngẩng lên nhìn mình, vẻ kinh hoàng trong mắt chưa phai, tựa hồ vẫn còn chìm trong cơn ác mộng, khó mà thoát nổi.

Hoàng Tử Hà bèn đến bên giường khẽ hỏi, “Vương phi mơ thấy gì vậy?”

“Sùng Cổ…” Đôi mắt như hồ thu của nàng giờ đây ầng ậc nước, rưng rưng nhìn cô, ngập ngừng hồi lâu mới ngoảnh mặt đi, run rẩy đáp, “Ta, ta mơ thấy mình thực sự, thực sự biến mất…”

Hoàng Tử Hà ngồi xuống mép giường dịu giọng, “Giấc mơ chẳng qua là suy nghĩ trong lòng, vương phi ngày nghĩ sao đêm chiêm bao làm vậy, chỉ cần đừng nghĩ đến mấy lời của kẻ đó, nhất định sẽ không gặp ác mộng nữa đâu.”

“Thật ư?” Nàng run rẩy hỏi, yếu đuối bơ vơ nắm lấy tay áo Hoàng Tử Hà, thân hình cũng run lên bần bật, “Sùng Cổ, vương gia sẽ bảo vệ ta, phải không?”

“Đúng vậy.” Cô đáp không chút do dự, song lại nhớ đến câu Lý Thư Bạch nói – Bất kể vì lý do gì, khi đưa canh thiếp giả ra, cô ta đã mắc tội khi quân phạm thượng, kết cục chỉ có thể là vạn kiếp bất phục mà thôi.

Có điều, nghe cô đáp như vậy, Vương Nhược thấy yên tâm hẳn. Nàng khẽ thở phào, tựa mình vào tấm đệm mềm trên giường, ngơ ngơ ngẩn ngẩn. Hoàng Tử Hà thấy khóe môi nàng từ từ hé ra một nụ cười như mộng ảo, nhìn vào hư không mà như đang nhìn vào thứ gì đó bền vững không thể phá hủy, lẩm bẩm, “Phải rồi, Quỳ vương gia sẽ bảo vệ ta, ta còn sợ gì nữa chứ.”
 

Cam Miên

đậu phụ của hòa thượng
Thành viên BQT
Mod - Sưu Tầm
Mod - Công Viên Xanh
Tham gia
13/4/19
Bài viết
1,457
Điểm cảm xúc
976
Điểm
113
Cung Đại Minh.

Gác Bồng Lai, nơi ở của hoàng hậu.

Hoàng Tử Hà theo các cung nhân nườm nượp nối đuôi nhau thành một hàng dài bất tận, cùng Vương Nhược, Tố Khởi và mấy thị nữ nhà họ Vương, đi dọc thềm bạch ngọc mà lên, bước vào cửa điện Cửu Gian.

Đập vào mắt là bức bình phong mười hai tấm bằng gỗ trầm cực lớn chạm đến tận đất, bên trên khắc hình mười hai thần hoa hướng về phía núi Côn Luân chầu Vương Mẫu giữa cảnh hoa tiên mây khói mịt mờ. Hoàng Tử Hà theo sau Vương Nhược, dừng bước trước bình phong, cúi đầu đứng đợi, thấy xung quanh im phăng phắc.

Hoàng Tử Hà ngẫm lại những lời nói mơ vừa rồi của Vương Nhược. Phùng nương, xem ra ắt là Phùng Ức Nương, nhưng huyết sắc mà nàng nói là có ý gì?

Đương nghĩ ngợi, chợt thấy một chéo áo lụa đỏ thắm quết qua nền nhà trải thảm Ba Tư dày dặn, người bên cạnh cô đều đã lũ lượt quỳ xuống, không dám ngẩng đầu lên.

Biết là hoàng hậu đến, Hoàng Tử Hà bèn quỳ xuống như mọi người, cúi đầu nhìn những hoa văn mây ráng trên y phục của hoàng hậu.

Với các cung nữ theo hầu, hoàng hậu đi đến sau bức bình phong, ngồi xuống sập trầm hương lưu ly thất bảo, bưng ly trà sứ, trầm ngâm hồi lâu mới lên tiếng, giọng êm như suối chảy, chậm rãi mà trầm tĩnh, “A Nhược, trông sắc mặt muội không tốt đâu. Còn bảy ngày nữa là thành hôn, sao chẳng thấy vẻ hân hoan của tân nương đâu cả?”

Vương Nhược nghiêng mình ngồi vào mép sập cùng hoàng hậu, khẽ đáp, “Bẩm hoàng hậu điện hạ, vì có vài chuyện vặt nên gần đây thần thiếp lo lắng quá độ, làm phiền điện hạ phải hỏi han.”

Hoàng hậu chăm chú quan sát nàng hồi lâu, rồi im lặng nắm lấy tay nàng. Hoàng Tử Hà len lén ngẩng lên liếc trộm, thấy vẻ mặt hoàng hậu tuy vẫn lạnh lùng xa cách nhưng trong mắt lại thấp thoáng nét trìu mến.

Hai tỷ muội nhà này dung mạo khác nhau, tuổi tác cũng chênh lệch cả mười năm, nhưng tình cảm hình như khá thân thiết.

“Kinh thành rộng lớn, hạng vô công rỗi nghề rất nhiều, lời ong tiếng ve cũng lắm, tội gì phải nghĩ ngợi.” Hoàng hậu nắm lấy tay Vương Nhược, ấp trong hai bàn tay mình, dịu dàng như vỗ về một chú chim non. Hoàng Tử Hà trông thấy, lòng lại dâng lên một cảm xúc khó tả, đang ngẩn người ra, chợt nghe hoàng hậu hỏi, “Kẻ nào là người của Quỳ vương phủ phái đến hầu vương phi?”

Tố Khởi và Hoàng Tử Hà vội thưa, “Là chúng nô tài.”

Hoàng hậu đưa mắt nhìn về phía hai người, ánh mắt dừng lại lâu hơn ở Hoàng Tử Hà, song cũng chỉ trong một chớp mắt, đoạn nói, “Vương phi còn ít tuổi, sau này về vương phủ, các ngươi phải chú ý chăm sóc.”

“Dạ.” Cả hai vội đáp.

Vương Nhược cũng góp lời, “Sùng Cổ và Tố Khởi cô cô đều hết lòng hết sức với muội, gần đây họ chăm lo cho muội nhiều lắm.”

“Ừm, có gì không vui cứ nói với ta.” Hoàng hậu nói, đoạn cầm tay Vương Nhược đứng dậy, “Bảy ngày nữa là vu quy rồi, ta có chuẩn bị cho muội mấy thứ này, vào nội điện xem thử.”

Các cung nữ thị tòng phải đợi bên ngoài, nội điện vừa rộng vừa sâu, âm thanh vọng ra rất nhỏ, không sao nghe được. Chẳng bao lâu sau, mấy nữ quan của hoàng hậu bước ra, mời mọi người sang sảnh bên dùng cơm.

Đồ ăn trong cung khác hẳn bên ngoài, chế biến tinh tế, song ăn vào lại thấy nhạt nhẽo vô vị, Hoàng Tử Hà ăn được mấy miếng thì đặt đũa xuống. A hoàn Nhàn Vân ngồi cạnh huých khuỷu tay vào người cô, “Chúng ta ra cửa ngắm cảnh được không? Hình như từ đây nhìn xuống có thể bao quát cả hồ Thái Dịch, nhiều người cả đời còn không được thấy đâu.”

Hiện giờ, tuy đang mang thân phận hoạn quan, nhưng vì thường lui tới nhà họ Vương nên Hoàng Tử Hà cũng quen biết sơ sơ với Nhàn Vân. A hoàn này mồm mép tép nhảy, chẳng được mấy ai ưa, bởi thế nhân có Hoàng Tử Hà càng muốn kéo đi cùng.

Vừa lúc Hoàng Tử Hà cũng không muốn ăn thêm nữa, bèn cùng Nhàn Vân ra cửa, đứng tựa lan can nhìn về phía Bắc.

Hôm nay trời quang mây tạnh, hồ Thái Dịch lăn tăn gợn sóng, hòn đảo giữa hồ chẳng khác Bồng Lai tiên đảo, càng tô điểm thêm cho cảnh quan chung.

“Đẹp quá, chẳng trách mọi người đều nói hoàng cung là nơi đẹp nhất dưới gầm trời này.” Nhàn Vân dang hai tay ra như muốn ôm hết đất trời vào lòng mình.

Hoàng Tử Hà nhìn xuống lầu gác trùng điệp bên dưới, tán đồng, “Đúng vậy, đẹp quá.” Có điều quá trang nghiêm quá nguy nga, khiến người ta cảm thấy chẳng phải cõi người mà như lầu quỳnh gác ngọc không sao với tới, thiếu hẳn đi hương sắc nhân gian.

Hai người đang mải ngắm, chợt thấy Trường Linh một trong các nữ quan của hoàng hậu bước ra bảo, “Hoàng hậu vừa sai người dọn dẹp sảnh bên để vương phi nghỉ ngơi một lát. Nếu các vị muốn ngắm cảnh thì xuống hẳn ven hồ Thái Dịch mà xem, nhớ đừng đi xa quá đấy.”

Nhàn Vân nghe nói được phép xuống hồ, liền vui vẻ hỏi, “Thực ư? Thế thì tốt quá!”

Trường Linh quay lại gọi một cung nữ luống tuổi tên là Trường Khánh, sai cô ta đưa hai người đi dạo. Hoàng Tử Hà và Nhàn Vân theo Trường Khánh tới bên hồ Thái Dịch, vừa bước lên chiếc thuyền gỗ hải đường thì nghe thấy trên hồ có người gọi to, “Triệu thái phi giá lâm, mọi người phía trước tránh đường!”

Bọn họ ngẩng lên nhìn, thấy một con thuyền đi đến, đầu thuyền có một viên hoạn quan lớn tuổi đang đứng, sang sảng gọi bảo mình.

Ba người vội xuống thuyền, đứng nghiêm trên bến đợi Triệu thái phi cập bờ.

Thuyền tới nơi, mấy hoạn quan và cung nữ bước lên trước, sau đó là một thiếu nữ mặt tròn mắt hạnh, Hoàng Tử Hà nhận ra là Kỳ Lạc quận chúa. Lại nhớ đến lời đồn trong kinh, Kỳ Lạc quận chúa muốn nhờ Triệu thái phi hứa hôn bèn ra sức quấn quýt lấy lòng, ngày ngày tới chép kinh hộ. Gần đây nghe nói vì chuyện của Quỳ vương phi mà quận chúa rầu rĩ thành bệnh, nào ngờ hôm nay lại vào cung.

Viên hoạn quan lớn tuổi đỡ Triệu thái phi ra khỏi khoang thuyền. Thái phi là người nhu mì kiều diễm, cười đã có vài nếp nhăn, ánh mắt cũng đượm phần mệt mỏi, song khóe miệng vẫn rất tươi.

Mười ba tuổi vào cung, mười lăm tuổi sinh con trai, hai mươi tư tuổi đã thành thái phi, thậm chí còn có điện riêng trong cung Đại Minh, so với các phi tử bị đẩy đến cung Thái Cực và cung Hưng Khánh sau khi tiên hoàng qua đời thì rõ ràng là hơn hẳn.

Hoàng Tử Hà và Nhàn Vân vội bước đến bái kiến. Triệu thái phi nghe nói là người của Quỳ vương phủ liền mỉm cười quan sát cả hai, sau khi hỏi rõ tên tuổi lại nhìn Hoàng Tử Hà, “Ngươi chính là tiểu hoạn quan Dương Sùng Cổ đã phá vụ án Bốn phương trong kinh đấy ư?”

“Vâng.” Hoàng Tử Hà cúi đầu thưa.

“Ồ, sáng sủa tinh tươm đấy, xưa nay Quỳ vương rất biết nhìn người.” Bà ta lại hỏi, “Hôm nay các ngươi theo Quỳ vương phi vào cung à? Khéo quá, đã đến đây rồi, ta đi gặp cô nương họ Vương xem sao, sau này cô ấy cũng là người trong hoàng gia rồi.”

Nói đoạn Triệu thái phi tươi cười dẫn người đi đến gác Bồng Lai. Hoàng Tử Hà đợi các thị tùng đi qua hết mới cất bước theo sau, thình lình có ai nắm lấy tay áo, liền đó là tiếng cười khẽ, “Dương công công, lại gặp nhau rồi.”

Hoàng Tử Hà ngoái lại, ra là một thiếu nữ ôm cây tỳ bà, gương mặt bầu bĩnh, ánh mắt long lanh, đang hớn hở nhìn quanh ngó quất, đầy vẻ hoạt bát lanh lợi.

Hoàng Tử Hà nhận ra là Cẩm Nô, nghệ nhân tỳ bà ở giáo phường từng đi theo Chiêu vương Lý Nhuế bữa trước, vội gật đầu chào hỏi. Cẩm Nô che miệng cười, thì thào, “Hôm nay Triệu thái phi muốn nghe tỳ bà nên Chiêu vương gia sai tôi tới.”

Triệu thái phi là thân mẫu Chiêu vương Lý Nhuế, điều này Hoàng Tử Hà cũng biết. Hai người vừa đi vừa nói chuyện, chỉ thoáng chốc đã đến gác Bồng Lai, hoàng hậu đích thân ra đón.

Hoàng Tử Hà đứng dưới thềm, thấy Vương Nhược theo sau hoàng hậu, bước xuống thềm giữa các nữ quan và cung nữ. Ai nấy áo gấm quần lụa, dung mạo tựa hoa, nhưng nổi bật nhất vẫn là hoàng hậu, nhan sắc như soi sáng cả ngày xuân, ngay Vương Nhược trẻ trung hơn hẳn mà cũng không át nổi.

Hoàng hậu đứng trên cao nhìn xuống bọn Hoàng Tử Hà bên dưới. Gác Bồng Lai nằm bên bờ hồ Thái Dịch, gió trên hồ đưa tới thổi tung chéo quần và tay áo hoàng hậu, bảy lớp áo lụa như một đóa mẫu đơn đỏ rực nở rộ trong gió, êm đềm bao bọc phong tư tuyệt thế của người, vẻ hoa lệ như có như không, tưởng chừng sắp biến thành tiên bay đi mất.

Hoàng Tử Hà bất giác quên hết lễ nghi, cứ ngây ra mê mải ngắm hoàng hậu, không sao rời mắt được. Bỗng chốc có cảm giác mình lấm bụi bé mọn hẳn lại.

Chợt Cẩm Nô bên cạnh khẽ “a” lên một tiếng, rất nhỏ, âm thanh bị đè nghẽn trong cổ họng, gần như không thể nghe thấy.

Hoàng hậu thờ ơ lướt mắt qua bọn họ, nhìn về phía Triệu thái phi, “Thái phi giá lâm, thần thiếp không ra đón từ xa, thật là thất lễ!”

“Ôi chao, ta không thích các người câu nệ mấy thứ lễ tiết ấy đâu, giờ hoàng hậu là chủ hậu cung, thân già này mỗi dịp lễ tết còn phải trông vào bổng lộc và gấm lụa của hoàng hậu ban đấy mà.” Triệu thái phi tươi cười, vừa nói đùa vừa nắm tay hoàng hậu đi lên điện.

Hoàng Tử Hà theo vào.

Thái phi và hoàng hậu ngồi trên. Thái phi chăm chú nhìn Vương Nhược, hỏi han chuyện trò với nàng, thỉnh thoảng còn bật cười vui vẻ. Kỳ Lạc quận chúa đứng cạnh họ, gương mặt vốn tươi tắn giờ lại sa sầm, song khăng khăng không chịu lánh ra ngoài, cứ đứng lì ở đó bất động như người gỗ.

Trong điện có vui có buồn, song đám người dưới coi như không biết, chỉ im lặng đứng đợi. Bọn Hoàng Tử Hà không thuộc nhân sự trong cung nên đều phải chờ bên ngoài.

Để ý thấy mồ hôi lăn dài trên mặt Cẩm Nô, làm trôi cả phấn son, Hoàng Tử Hà bèn thì thào hỏi, “Sao thế?”

“Tôi… hình như nóng quá.” Cẩm Nô đáp, giọng khàn khàn.

Đang ngày xuân cảnh đẹp, lại có gió mát từ hồ phả vào, không thể nói là nóng lắm, song Hoàng Tử vẫn rút khăn tay đưa ra. Cẩm Nô nhận lấy, hai tay bất thần run lên. Lau xong mồ hôi trên trán, nhận thấy vẻ thắc mắc của Hoàng Tử Hà, Cẩm Nô bèn gượng cười chống chế, “Không sao đâu. Có lẽ là bệnh cũ tái phát, tôi… mắc một căn bệnh, thỉnh thoảng lại tái phát, về nghỉ một lát là khỏe thôi.”

Hoàng Tử Hà gật đầu, ngẩng lên nhìn bầu trời xanh biêng biếc trên đầu. Bỗng loáng thoáng nghe tiếng Cẩm Nô lẩm bẩm, “Không thể nào… không thể nào là người ấy được…”

“Ai cơ?” Cô tiện miệng hỏi.

“Chắc là người giống người mà thôi…” Nhận ra mình vừa lỡ lời, Cẩm Nô ngập ngừng hồi lâu mới run run hỏi, “Người vận áo đỏ kia, hẳn là… Vương hoàng hậu?”

“Ừm.” Hoàng Tử Hà khẽ đáp.

“Vậy… người ở phía sau… là Quỳ vương phi?”

Hoàng Tử Hà lại gật đầu, chăm chú nhìn Cẩm Nô, mong có thể đọc ra điều gì đó qua nét mặt, nhưng chỉ thấy toàn những hoang mang và hoảng hốt, hồi lâu mới nghe lẩm bẩm thật khẽ, “Không thể nào… Nếu là như vậy, Quỳ vương phi sao có thể là cô ta…”

Vốn tính nhạy bén, Hoàng Tử Hà cảm giác bên trong nhất định có ẩn tình, song Cẩm Nô chỉ là một nghệ nhân mới đến kinh thành ít lâu, làm sao hiểu được sự tình gì chứ?

Cô đang định lên tiếng hỏi, đột nhiên thấy nữ quan Trường Linh bước ra hỏi, “Ai là Cẩm Nô?”

“Là tôi…” Cẩm Nô vội thưa.

“Thái phi triệu cô.” Trường Linh nói, lại nhìn sang Hoàng Tử Hà hỏi nhỏ, “Sao ngươi còn chưa vào hầu hạ vương phi?”

Hoàng Tử Hà vội vâng dạ. Cẩm Nô thoáng chần chừ, rồi kéo tay Hoàng Tử Hà. Hoàng Tử Hà cảm giác được tay Cẩm Nô đổ mồ hôi lạnh toát, mềm nhũn cả ra. Cô biết Cẩm Nô chẳng còn sức ôm tỳ bà nữa, bèn cầm giúp, rồi dắt tay Cẩm Nô vào đại điện.

Đợi hành lễ xong, Hoàng Tử Hà mới đưa móng gảy ngọc và đặt cây tỳ bà vào lòng Cẩm Nô, đoạn đi về phía Vương Nhược thì thấy sắc mặt nàng cũng tái nhợt như đóa hoa tàn, ánh mắt chỉ chăm chăm nhìn xuống đất như thể không dám nhìn thẳng vào bất cứ ai - kể cả hạng xướng ca nhỏ nhoi như Cẩm Nô.

Hoàng Tử Hà thầm thở dài, lùi ra sau lưng Vương Nhược. Kỳ Lạc quận chúa đứng ngay gần đó, vẻ thù địch toát ra rõ ràng đến nỗi cô phải ngoái đầu nhìn, chỉ thấy ánh mắt đầy oán hận của quận chúa đang găm vào người Vương Nhược, như thể muốn dùng ánh mắt ấy để lột da xẻo thịt nàng.

Thấy Hoàng Tử Hà nhìn mình, Kỳ Lạc quận chúa chẳng những không hạ ánh mắt xuống, còn trừng trợn nhìn cô với vẻ gây hấn, mối căm hờn không che giấu ấy khiến Hoàng Tử Hà ngấm ngầm bội phục, đành rời mắt nhìn đi chỗ khác.

Triệu thái phi cười bảo Vương hoàng hậu, “Đây là một nghệ nhân giáo phường, có ngón tỳ bà tuyệt hay, người trong thiên hạ không sao bì kịp. Chiêu vương rất thích nghe cô ta chơi đàn, còn nói ngày sau ắt thành quốc thủ.”

“Vậy ư? Trẻ như thế đã là quốc thủ, lẽ nào thực có tài nghệ kinh người?” Hoàng hậu cười nói, ánh mắt hờ hững lướt qua Cẩm Nô đang ngồi nép bên dưới.

Cẩm Nô ôm tỳ bà, hơi khom lưng cúi đầu thưa, “Cẩm Nô không dám. Cẩm Nô học nghệ không tinh, có giỏi đến đâu chăng nữa cũng không hơn được sư phụ, sư phụ Cẩm Nô mới thực là quốc thủ.”

Bấy giờ hoàng hậu mới lộ vẻ hứng thú, liếc mắt nhìn thêm mấy lần, song cũng không hỏi han. Triệu thái phi cười hỏi, “Sư phụ ngươi là thánh thủ nào thế?”

“Sư phụ Cẩm Nô là nghệ nhân tỳ bà ở Vân Thiều Uyển Dương Châu, tên gọi Mai Văn Trí, chẳng hay các vị ngồi đây đã nghe bao giờ chưa? Cẩm Nô là đệ tử duy nhất của người.”

Hoàng Tử Hà chưa từng nghe cái tên Mai Văn Trí, nhưng năm chữ Vân Thiều Uyển Dương Châu khiến lòng cô chấn động. Trần Niệm Nương và Phùng Ức Nương đều là người của Vân Thiều Uyển, Cẩm Nô lại cùng đến từ nơi đó, quả là khéo thật.

Mọi người xung quanh không có phản ứng gì với cái tên này, riêng Triệu thái phi dường như rất thích Cẩm Nô, lại cười bảo, “Vậy nhất định là ngươi có thiên bẩm nên mới lọt mắt xanh sư phụ ngươi.”

“Thưa phải, năm ấy Cẩm Nô mới năm tuổi, quê nhà gặp nạn lụt, cha mẹ dẫn theo Cẩm Nô chạy nạn đến ngoại ô Dương Châu, cả nhà đã đói đến nỗi chỉ còn thoi thóp, đành cắm cọng cỏ đem bán Cẩm Nô(*)…”

(*) Thời xưa, người nào muốn bán mình thì cắm một cọng cỏ lên đầu làm dấu, ai muốn mua trông thấy sẽ hỏi và ra giá.

Cẩm Nô ôm chặt cây tỳ bà, bình thản kể, “Bấy giờ đúng lúc sư phụ đi ngang, tình cờ vén rèm xe lên, liếc thấy tay Cẩm Nô liền bảo dừng xe lại, bước xuống nắm tay Cẩm Nô săm soi một hồi, chẳng nhìn đến mặt đã kêu người lấy tiền trả để mua Cẩm Nô. Sư phụ bảo rằng, Cẩm Nô, đôi tay này của con sinh ra để gảy tỳ bà, ông trời sinh con ra chỉ vì một việc ấy thôi.”

Ánh mắt mọi người đương nhiên đều đổ dồn vào đôi tay Cẩm Nô. Chỉ thấy tay trắng trẻo, xương khớp cân xứng, ngón rất dài, lòng bàn tay còn có phần lớn hơn tay phụ nữ thông thường. Cẩm Nô đặt ngang cây đàn tỳ bà trong lòng, tay trái khẽ nhấn cần đàn, tay phải cầm móng gảy lướt trên dây. Lúc này bàn tay đã thôi run rẩy, gương mặt cũng ửng hồng. Ngón tay lướt đi, tốc độ gảy khiến người ta không trông rõ được đôi tay nữa, tiếng đàn tinh tinh tang tang tuôn ra như vô vàn hạt châu lớn nhỏ rơi lanh canh xuống thềm điện, hạt nào hạt nấy khác hẳn nhau, có hạt êm dịu, hạt thư thái, hạt trôi chảy, hạt mềm mại, muôn vàn cảm giác trào dâng trong một khoảnh khắc, trên đài cao, giữa sảnh hoa, tiếng vọng văng vẳng, ngây ngất lòng người.

Khúc đàn đã dứt, song mọi người vẫn còn chìm đắm thật lâu, khó mà định thần lại được. Ngay Vương Nhược cũng phải mất một lúc mới buông tiếng thở dài.

Triệu thái phi mỉm cười nhìn Vương hoàng hậu, “Thế nào?”

Bấy giờ Hoàng Tử Hà mới phát hiện ra, cả điện chỉ mình hoàng hậu vẫn bình tĩnh thản nhiên, nghe Triệu thái phi hỏi mới đáp, “Quả không tồi, có điều thiếp nghe không thấy hay.”

Hoàng Tử Hà nhớ lại lời người khác từng nói, bệ hạ chuộng yến tiệc chơi bời xa hoa, song hoàng hậu tính tình lại lạnh nhạt thanh tĩnh, chẳng hứng thú gì với mấy chuyện ca múa tiệc tùng, quả nhiên là thực.

Cẩm Nô đặt cây tỳ bà xuống, quay mặt lên điện hành lễ, thưa rằng, “Năm xưa sư phụ từng nói tiếng tỳ bà của Cẩm Nô chỉ có vô tận phồn hoa, không có tĩnh mịch bình đạm, hẳn đây là hạn chế trong ngón đàn của Cẩm Nô.”

Hoàng hậu nói, “Giờ ngươi đương độ thanh xuân, dung mạo đẹp đẽ, lại ở giữa kinh thành nô nức phồn hoa, không lĩnh ngộ được mới là tốt đó.”

Triệu thái phi cười, “Hoàng hậu nói phải, kẻ chưa trải qua đại bi đại khổ, sao lĩnh ngộ được tĩnh mịch bình đạm? Tiểu a đầu này cả đời không hiểu nổi mới tốt!”

Cẩm Nô lại hành lễ toan lui ra, song Triệu thái phi nói, “Hôm nay dẫu sao cũng rảnh rỗi, ngươi kể chuyện sư phụ ngươi đi, giờ sư phụ ngươi còn ở Dương Châu ư? Tài đàn của bà ta giỏi như thế, khi nào mời bà ta vào cung đàn cho ta nghe một khúc?”

Cẩm Nô gượng cười thưa, “Sư phụ Cẩm Nô đã qua đời rồi.”

Triệu thái phi tỏ vẻ luyến tiếc, “Tiếc quá, ta thích nhất là tỳ bà, cũng từng ban dụ cho con cháu họ Tào năm xưa vào cung, khốn nỗi nhân tài họ Tào đã mai một cả. Nghe giọng điệu ngươi, hẳn sư phụ ngươi phải có tài nghệ trác việt?”

“Thưa phải. Ngón tỳ bà của sư phụ Cẩm Nô, trên đời không ai bì kịp. Nếu thái phi có nhã ý, Cẩm Nô xin kể hầu một giai thoại năm xưa của người.”

Hoàng hậu lộ vẻ sốt ruột, quay sang khẽ hỏi Vương Nhược, “Muội mệt không? Có muốn nghỉ ngơi một lát không?”

Vương Nhược lắc đầu đáp, “Muội về cũng chỉ nằm đấy thôi, chi bằng ngồi lại nghe kể chuyện.”

Kỳ Lạc quận chúa ác khẩu chêm vào một câu, “Phải đấy, vương phi hiện giờ nên ở chỗ đông người thì hơn, để khỏi…”

Để khỏi thế nào, Kỳ Lạc không nói hết, song ai nấy đều hiểu cả, ngay Triệu thái phi cũng đưa mắt nhìn sang.

Cẩm Nô ngồi xuống ghế, ôm cây tỳ bà rủ rỉ kể, “Mười sáu năm trước, giữa Dương Châu phồn hoa, sư phụ và năm tỷ muội khác cùng lập ra Vân Thiều Uyển, sáu người được xưng tụng là Vân Thiều Lục Nữ. Về sau sư phụ xuất giá, sinh được một con gái, gặp lúc tiên đế ban chiếu triệu kiến, năm người trong Vân Thiều Lục Nữ phụng chiếu lên kinh, chỉ mình sư phụ vừa sinh nở, thì ở cữ tại nhà. Bấy giờ ở Dương Châu còn một phường ca vũ khác tên là Cẩm Lý Viên, vì người người đều nói ‘cảnh phồn thịnh của Dương Châu đều ở Vân Thiều’, bọn họ không phục, bèn đi tìm đủ ba mươi sáu ca kỹ người Hồ đem về. Hằng năm đến ngày Đông chí, cung Giang Đô mở cửa để nam phụ lão ấu khắp nơi lũ lượt vào chơi, nắm tay nhau đạp ca(*), là lễ lớn mỗi năm một lần ở Dương Châu. Mà trước khi đạp ca, ắt phải bầu chọn ra kỹ viện nổi tiếng nhất Dương Châu diễn tấu mở màn. Năm ấy, theo lệ vẫn là các vũ cơ của Vân Thiều Uyển múa mở màn trên đại điện cung Giang Đô. Khi điệu múa đầu tiên còn chưa kết thúc thì lầu gác phía đối diện chợt trỗi nhạc lên, ba mươi sáu ca kỹ người Hồ kia, có mười hai người gảy đàn không hầu và thổi sênh thổi sáo, còn hai mươi tư vũ cơ mặc sức ca múa. Những người Ba Tư nọ đi chân trần, khoác voan mỏng, eo lưng thon thả, lại thêm tóc vàng mắt xanh, xoay tròn như gió, toát lên một vẻ phong tình quyến rũ riêng. Tức thì cả đám người xem nhao nhao chạy sang bên kia, thi nhau ngắm nhìn phong tư các vũ cơ người Hồ, khiến cảnh tượng náo loạn cả lên, ồn ào huyên náo. Bấy giờ đội vũ cơ của Vân Thiều Uyển cũng luống cuống tay chân, đành thõng tay đứng trên đài chẳng biết làm sao cho phải. Năm ấy Cẩm Nô mới tám tuổi, đang ở cùng với sư phụ và đứa con nhỏ đầy tháng ở hậu điện, nghe thấy đằng trước náo loạn, sư phụ bèn giao đứa nhỏ vào tay Cẩm Nô, ra cửa xem thử, thấy mọi người đang xôn xao túm tụm ở bên kia. Ba mươi sáu Hồ cơ tiêu sáo rộn ràng, eo lưng mềm mại, lại liếc mắt đưa tình với khắp mọi người, khiến người xem bên dưới nhao nhao khen hay, không khí sôi nổi vô cùng. Trái lại bên này vắng hoe vắng ngắt, chỉ có mấy người xem đang thu dọn chuẩn bị chạy nốt sang bên kia. Thấy cảnh đó, sư phụ liền bước tới bên một ca kỹ, đón lấy cây tỳ bà trong tay cô ta rồi ngồi xuống chiếc ghế kê gần đại điện, gảy tỳ bà theo điệu đạp ca. Tiếng tỳ bà vừa cất lên đã vang khắp cung Giang Đô, khiến chim chóc giật mình bay vút lên, muôn núi ngàn khe đều vọng tiếng; chỉ sau đôi ba câu, hai mươi tư vũ nữ Ba Tư kia đã loạn hết vũ điệu, ra sức lắc hông lại theo không kịp tiết tấu; chưa hết nửa khúc thì mười hai nhạc cơ kia cũng chẳng tấu nổi nữa, không hầu sênh sáo đều im bặt. Cả cung Giang Đô chỉ nghe thấy tiếng tỳ bà thánh thót vang vọng, như mưa hoa ngập trời, trân châu tuôn chảy. Khúc nhạc chưa dứt thì tuyết đã lả tả rơi giữa ngày Đông chí, những bông tuyết tung bay, xoay vần theo tiếng tỳ bà, tựa hồ khói bụi tục thế đều đã được tiếng nhạc đưa thẳng đến chín tầng mây, trên thấu tai trời, dưới trùm muôn người. Cả ngàn người trong cung Giang Đô đều im phăng phắc đứng dưới trời tuyết đổ mà nghe, không một ai dám thở mạnh, chỉ e làm rối loạn tiếng đàn.”

(*) Một hình thức nghệ thuật vừa múa vừa hát theo điệu nhạc.

Nghe Cẩm Nô tả, mọi người bất giác cũng nín thở, ngay Triệu thái phi còn vỗ tay tấm tắc, “Quả là thần kỹ!”

Hoàng Tử Hà thầm hình dung ra cảnh tượng ngày hôm ấy, không khỏi mê mẩn tâm thần, cõi lòng rung động hồi lâu.

“Thưa phải, cả đời này, có lẽ Cẩm Nô chẳng thể nào nghe lại khúc tỳ bà hôm ấy nữa.” Cẩm Nô mỉm cười, gương mặt đầy vẻ ao ước, “Khúc đạp ca kết thúc, dư âm còn văng vẳng, sư phụ lại tấu thêm một khúc, lần này tiếng tỳ bà không cao vút ngạo nghễ như lúc trước mà chuyển thành trong trẻo ngân nga, như thôi thúc chân tay du khách, khiến mọi người đều chộn rộn muốn vận động. Các vũ cơ Vân Thiều Uyển trên điện định thần lại, lập tức theo lệ xếp thành từng tốp, nhảy múa mở đầu màn đạp ca. Du khách khắp cung thoáng chốc như mê như say, nắm tay nhau nhảy giữa trời tuyết theo tiếng nhạc, bắt đầu đạp ca suốt đêm. Về sau, ở Dương Châu có lời đồn, một khúc tỳ bà của Mai Văn Trí chống được cả điệu múa ma mị của trăm người.”

“Ta không tin.” Kỳ Lạc quận chúa thình lình ngắt lời Cẩm Nô, “Trên đời sao lại có tiếng tỳ bà thần diệu đến thế, hẳn là ngươi bịa đặt.”

Cẩm Nô im lặng, chỉ mỉm cười cúi đầu nhìn xuống đất.

“Có lẽ ngày tháng lâu dài, đã tô đẹp thêm cho ký ức rồi chăng?” Hoàng hậu hờ hững nói, đoạn quay lại dặn nữ quan Trường Linh đứng hầu phía sau, “Bảo người của nội giáo phường đưa đến một cây tỳ bà nội phủ, ban tặng Cẩm Nô cô nương.”

Cẩm Nô vội bái tạ, lại thưa, “Cây tỳ bà này của Cẩm Nô tên gọi 'Thu lộ hành sương', là quà sư phụ tặng ngày trước, bấy nhiêu năm nay dùng mãi đã quen, e rằng không đổi được.”

Hoàng hậu liền nói, "Vậy bảo nội phủ đưa mấy món như móng gảy bằng ngọc, dây đàn và phấn hương thông đến đây, mấy thứ này hẳn là dùng được."

Cẩm Nô lại bái tạ lần nữa. Triệu thái phi vẫy tay nói, “Được rồi, đã gặp Quỳ vương phi rồi, ta cũng nên về nghỉ thôi. Vương phi cũng lo bồi bổ tinh thần đi, mấy ngày nữa là đại hỉ rồi, đến chừng đó ta sẽ sai người tới uống rượu mừng.”

"Đa tạ thái phi." Vương Nhược yêu kiều vái tạ.

Triệu thái phi lại dẫn cả đám người đi khỏi. Trường Linh ra hiệu cho Cẩm Nô về trước, đồ vật trong cung ban thưởng sau này sẽ đưa tới tay.

Hoàng Tử Hà cũng theo Vương Nhược đứng dậy, cùng nàng sang sảnh bên nghỉ ngơi.

Bước xuống thềm, Kỳ Lạc quận chúa còn nói bằng một giọng đủ lọt tai Vương Nhược, “Xinh đẹp thì có gì lạ đâu, con thấy dung mạo nghệ nhân này còn hơn khối thiên kim nhà khác.”

Vương Nhược hiểu rõ Kỳ Lạc đang châm chọc mình, song vẫn giữ vẻ điềm nhiên chỉ riêng Cẩm Nô nãy giờ ngơ ngẩn trầm tư, lúc này chợt cười nhạt thưa, “Quận chúa nói đùa rồi, luận về dung mạo thì không đến lượt Cẩm Nô, sư phụ mới thực là giai nhân nghiêng thành nghiêng nước.”

“Sư phụ ngươi ư?” Kỳ Lạc quận chúa nào để Cẩm Nô vào mắt, chỉ nói, “Trên đời hiện giờ, trừ hoàng hậu điện hạ, còn kẻ nào dám xưng ‘nghiêng thành nghiêng nước’ chứ?”

“Quận chúa nói rất phải.” Cẩm Nô bị mai mỉa song chẳng lấy làm điều, chỉ cười cười quay sang nhìn Hoàng Tử Hà, đôi mắt cong lên như hai vành trăng non, “Dương công công, còn nhớ lần trước tôi nói không? Tôi biết rất nhiều cô gái đem lòng ngưỡng mộ Quỳ vương gia, ví như…. mấy tỷ muội ở Dương Châu và trong giáo phường. Nếu công công có thể khiến Quỳ vương năng lui tới giáo phường thì tốt quá.”

Hoàng Tử Hà không đáp, chỉ mỉm cười gật đầu.

Mãi tới khi Cẩm Nô đi khỏi, Kỳ Lạc quận chúa mới nhảy dựng lên, “Ả ta… ả ta nói các tỷ muội giáo phường ngưỡng mộ… ngưỡng mộ Quỳ vương là có ý gì chứ?”

Hoàng Tử Hà lặng thinh, bụng bảo dạ, cô có thể đem một kẻ xướng ca vô loài ra ví với Quỳ vương phi, tại sao cô ấy không thể lấy các tỷ muội giáo phường ra ví với cô?

Nhìn theo dáng điệu tha thướt của Cẩm Nô, lòng Hoàng Tử Hà vừa thấy khoan khoái vì hả giận, vừa lo thay cho Cẩm Nô đã đắc tội với Kỳ Lạc quận chúa.

Vương Nhược sang sảnh bên nghỉ ngơi. Hoàng Tử Hà và bọn Tố Khởi, Nhàn Vân, Nhiễm Vân ngồi bên ngoài đợi, sợ quấy rầy nàng.

Tố Khởi đang cùng nữ quan Trường Linh ngắm nhìn những mẫu hoa trang trí mới trong cung. Giờ là buổi chiều, đêm qua Hoàng Tử Hà lại không ngon giấc nên lơ mơ buồn ngủ. Chợt sau tấm bình phong ở nội điện vang lên tiếng loảng xoảng, tiếp đó là tiếng chim kêu, rồi đến tiếng thét kinh hoàng của Vương Nhược.

Hoàng Tử Hà giật mình sực tỉnh, lúc cô đứng phắt dậy thì Tố Khởi và Trường Linh đã vứt đám cung hoa chạy vào trong điện. Cô hốt hoảng chạy theo, chỉ thấy Vương Nhược đang co rúm trên sập, run lẩy bẩy, trên đệm là một nắm tóc mai bị cắt.

Trường Linh trỏ ra ngoài song, kinh hoàng nói, “Bên kia… Tôi thấy thích khách từ bên kia vượt song chạy trốn!”

Hoàng Tử Hà vội chạy đến bên cửa sổ xem xét, chỉ thấy phía sau là khoảnh sân vắng tanh vắng ngắt.

Cô lập tức quan sát kỹ bên dưới khung cửa và mái cong bên trên, xem có thích khách nấp ở đó không, song chẳng hề thấy một ai cả. Hoàng Tử Hà lấy làm ngạc nhiên, một nơi rộng thế này, thứ gì cũng đập ngay vào mắt, không có chỗ nào ẩn thân, nếu thích khách đã bị Trường Linh bắt gặp lúc vượt tường nhảy ra thì nhất định không thoát được tầm nhìn của cô.

Song trong một khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, thích khách đã chạy đi đâu?

Cô do dự quay đầu nhìn Vương Nhược, chỉ thấy nàng ôm chặt lấy chăn, ngồi bên mép giường, bóng chiều nhập nhoạng hắt lên mặt, mớ tóc bị cắt xổ tung, lọn dài lọn ngắn buông xõa bên mai, không sao vén lại được, phủ bóng mờ xuống má nàng, càng lộ rõ vẻ yếu ớt.

Hoàng hậu từ chính điện chạy sang, nghe bọn họ thuật lại đầu đuôi, liền nổi trận lôi đình, “Ngay tai cung Đại Minh này, giữa thanh thiên bạch nhật mà lại có thích khách đột nhập hòng gây hại cho vương phi! Đám người ở ty Phòng vệ đang làm cái gì vậy hả!”

Tất cả đều nín thít, không dám lên tiếng.

“Ta phải yết kiến bệ hạ, chuyện này không thể coi thường được.” Nói đoạn hoàng hậu đi thẳng ra cửa điện, chợt ngoái lại nhìn lướt qua mọi người, bảo, “Nếu chuyện này lan truyền ra, hẳn là lời đồn đại đang xôn xao trong kinh sẽ càng nghiêm trọng. Truyền chỉ của ta, lệnh cho mọi người trong cung không được tiết lộ ra ngoài. Vĩnh Khánh, ngươi lập tức đến vương phủ báo cho Quỳ vương, mời vương gia vào cung ngay.”

Đại hoạn quan Vĩnh Khánh vội vâng dạ rồi hối hả chạy đi.

Đợi hoàng hậu đi khỏi, tất cả mới xúm lại trấn an Vương Nhược, Nhàn Vân cảm kích nói, “Hoàng hậu suy nghĩ chu đáo thực, người đã săn sóc vương phi tận tình như thế, nhất định sẽ bảo vệ vương phi bình yên vô sự mà.”

Vương Nhược xem chừng hoảng sợ quá độ, chỉ ngồi ngây ra không nói năng gì.

Không lâu sau, ý chỉ của hoàng đế đến, Quỳ vương phi trước hết cứ vào ở trong điện Ung Thuần cung Đại Minh, phái Nội Đình điều một trăm quân thủ vệ trong kinh do Phòng vệ ty hữu đô úy Vương Uẩn đích thân thống lĩnh; Quỳ vương phủ lại điều thêm một trăm hộ vệ trong vương phủ, hai trăm người ngày đêm luân phiên bảo vệ điện Ung Thuần, đề phòng vạn nhất.

“Tốt quá rồi, có hai trăm người ở đây, cung Đại Minh lại sẵn có ba ngàn ngự lâm quân ngày đêm bảo hộ, kẻ khả nghi không thể trốn được.” Nhiễm Vân mừng rỡ động viên. Vương Nhược cũng đành gượng cười cho qua chuyện.

Điện Ung Thuần là một ngôi điện nhỏ nằm ở góc Đông Nam cung Đại Minh, vốn dùng làm nhà kho trong cung nên tường vách rất cao rất dày, có thể xem là nơi nghiêm ngặt nhất.

Mặt phía Tây là trọng điểm bảo vệ, bởi nơi này kề cửa lớn trong cung, nếu có người ngoài xâm nhập, hẳn phải vào theo hướng này. Có điều thiết kế điện rất chặt chẽ, mặt Tây là bức tường cao gấp ba người, chỉ mở một cửa ngách, hiện giờ có hai trăm lính phòng vệ, nên ngoài việc hạ lệnh khóa chặt cửa ngách, không cho bất cứ kẻ nào ra vào, thì bên trong bên ngoài cửa còn phái mỗi bên tám người canh gác, có thể nói là vững như thành đồng.

Mặt Bắc quay về phía nội cung, song cũng được canh gác nghiêm ngặt, ngoài hai lớp cửa đóng chặt còn có lính gác. Hơn nữa, dù là người đi tuần phiên thì buổi tối sau khi cài cửa bấm khóa, cũng không được ra vào nữa, để tránh có người trà trộn vào đội tuần tra.

Theo sắp xếp cụ thể thì tổng cộng có ba phòng tuyến bao quanh Vương Nhược - trong cùng là các cung nữ và hoạn quan ở nội điện và các lầu gác xung quanh, luôn luôn trông chừng nàng. Tiếp theo là ba mươi người ở ngoài đại sảnh, phân tán tại các hành lang và chốt gác, bất cứ lúc nào cũng có thể trông thấy người ra vào nội điện và lầu gác. Ba mươi người đứng dọc theo mé trong tường cung, lại có ba mươi người tuần tra mé ngoài. Mỗi toán gồm chín mươi người, cùng tám đội trưởng, hai thủ lĩnh phụ trách. Tổng cộng hai trăm người chia làm hai toán luân phiên.

Điện Ung Thuần vốn không lấy gì làm rộng, nay lại có hai trăm thủ vệ liên tục canh gác, khó tránh cảm giác chật như nêm cối.

“Trong điện đã được lục soát kỹ, không có bất cứ ai lẻn vào cả, xin vương phi yên tâm!” Hai vị thủ lĩnh của cấm vệ quân và hộ vệ vương phủ bẩm báo với Vương Nhược và Vương Uẩn.

Vương Uẩn nghe vậy cũng đứng dậy cáo từ Vương Nhược, “Sắp khuya đến nơi rồi, muội nghỉ sớm đi, ta ra đằng trước điện xem sao.”

Vương Nhược và Hoàng Tử Hà tiễn hắn đến cửa, nhìn theo mãi đến khi khuất bóng.

Hoàng Tử Hà đứng ở cửa điện, nhìn ra đám thủ vệ lố nhố đứng ngoài hành lang hay nép trong hòn giả sơn, trận thế bao vây tầng tầng lớp lớp như thế, khiến hình ảnh chiếc lồng chim trong tay kẻ thần bí ở chùa Tiên Du lại hiện ra trước mắt cô. Có điều, ai mà ngờ được, chiếc lồng trúc tía ken dày như thế, lại có một cơ quan bí mật, chỉ cần một động tác nhỏ là có thể xoay chuyển càn khôn, trộm rồng tráo phượng.

Mà Vương Nhược cũng chẳng khác gì con chim nhỏ trong lồng kia, một mình ngồi trong nội điện, nhìn các cung nữ hối hả thắp đèn, vẻ trầm tư.

Hoàng Tử Hà bước đến gần, hỏi khẽ, “Vương phi đang nhìn gì vậy?”

Vương Nhược thôi nhìn mấy ngọn đèn, từ từ ngẩng lên nhìn cô, trong cặp mắt long lanh lệ thấp thoáng ánh đèn lấp loáng, “Sùng Cổ, ta…”

Cổ họng nàng nghẹn lại, giọng khàn khàn, khẽ đến gần như không thể nghe tiếng, “Ta cảm thấy một tháng vừa qua cứ như một giấc mộng phù sinh vậy. Có được những thứ mà nằm mơ cũng không sao tưởng tượng nổi, nhưng chỉ trong nháy mắt tất cả lại sẽ trở thành ảo mộng, như ngọn đèn bấc chẳng mấy chốc đã lụi tàn.”

Hoàng Tử Hà nghe ra vô vàn xót xa trong giọng nói của Vương Nhược, niềm xót xa đó, dường như còn ẩn giấu một nỗi bi ai sâu thẳm.

Gió từ ngoài cửa nhè nghẹ thổi vào, ngọn đèn chầm chậm xoay tròn trong gió, lập lòe chớp tắt.

Gió nổi đèn xuân leo lét, mưa qua sầu cũ lưu niên, Hoàng Tử Hà nhìn gương mặt cúi gằm của Vương Nhược, một thiếu nữ đương độ tuổi hoa rực rỡ thế này mà lại như rơi xuống vực thẳm, đi trên băng mỏng thế ư?

Tuy chẳng biết tâm hồn nàng thực sự ra sao, Hoàng Tử Hà vẫn không khỏi thương xót, bèn nhỏ giọng khuyên nhủ, “Vương phi yên tâm đi, giờ vương phi đang ở trong cung Đại Minh, có bấy nhiêu binh sĩ hộ vệ cẩn mật, đến con ruồi còn không bay vào được, sao có thể xảy ra chuyện gì chứ?”

Vương Nhược gật đầu, song vẻ mặt vẫn đầy tâm sự.

Hoàng Tử Hà cũng chẳng biết phải an ủi thế nào, chỉ cảm thấy hình như hoàng hậu đã nghiêm trọng hóa vấn đề, thành ra làm tăng thêm áp lực cho Vương Nhược. Đang định vỗ về nàng mấy câu, chợt cô ngẩng lên, trông thấy Lý Thư Bạch thình lình xuất hiện giữa ánh đèn sáng trưng như ban ngày phía ngoài.

Y bước đến cửa nội điện nhìn vào bên trong, Nhàn Vân Nhiễm Vân vội vàng hành lễ, Tố Khởi đỡ Vương Nhược đứng dậy hành lễ với y.

Dưới ánh đèn, cô trông thấy ánh mắt Vương Nhược khi nhìn Lý Thư Bạch chẳng khác nào viên ngọc được lọc rửa, phát sáng lấp lánh mê người. Song vẻ mặt nàng lại vừa thẹn thùng vừa đượm phần thê lương, nửa vui nửa buồn, đến nụ cười cũng không che lấp được nét âu sầu thấp thoáng giữa đôi mày.

Lý Thư Bạch nhìn nàng, gật đầu chào, song chẳng nói năng gì, chỉ ra hiệu cho Hoàng Tử Hà ra ngoài.

Hoàng Tử Hà vội hành lễ với Vương Nhược rồi bước ra, cùng Lý Thư Bạch đi dọc theo con đường lát đá xanh ở đình giữa, băng qua đống giả sơn, đi đến hành lang ở đại sảnh. Nơi này cách nội điện của Vương Nhược chừng năm trượng, đứng đây có thể trông rõ mồn một tất cả động tĩnh bên ấy.

Lý Thư Bạch nhìn sang phía đó, hỏi, “Tối nay định sắp xếp thế nào?”

“Tố Khởi, Nhàn Vân, Nhiễm Vân hầu hạ vương phi ngủ ở gác bên trái, tôi và bọn An Phúc ở gác phải, hai bên chỉ cách nhau một sảnh nhỏ, có chuyện gì cũng có thể trông chừng lẫn nhau.”

“Ừm, ta không tin trong cung Đại Minh này, giữa vòng vây trấn giữ của binh lính, dưới sự trông chừng của mọi người mà vẫn có thể xảy ra chuyện đâu.” Lý Thư Bạch nói, đoạn cau mày, “Còn bảy ngày nữa là đến hôm nạp phi rồi, giờ hoàng hậu lại bày vẽ rình rang thế này, sự việc thành ra hơi phiền phức.”

Hoàng Tử Hà đang bận nghĩ xem là phiền phức gì, thì Lý Thư Bạch hờ hững nói tiếp, “Đang định trong hai ngày tới sẽ đưa vụ canh thiếp kia ra, dù sao thời gian cũng cấp bách rồi.”

Giọng y vô cảm, bình thản như đang nói chuyện thời tiết, không buồn bã, chẳng căm ghét, lại càng lộ rõ sự vô tình.

Nhớ đến khuôn mặt yếu đuối mơ màng của Vương Nhược, Hoàng Tử Hà không nhịn được hỏi khẽ, “Lẽ nào vương gia muốn đợi đến thời khắc sách lập vương phi thì vạch trần chân tướng ư? Nếu làm vậy e rằng sẽ khiến hoàng hậu và cả nhà họ Vương bẽ mặt.”

“Ta sẽ âm thầm giải quyết chứ, sao có thể làm mất thể diện họ Vương Lang Gia được.”

Hoàng Tử Hà chưa biết nói gì, ngoái đầu lại thì thấy Vương Nhược đang từ trong nội điện đi đến. Gió đêm lạnh lẽo thổi tung vạt áo và tơ tóc, nàng vận xiêm y vàng, tóc búi lỏng, bên mai gài một cây trâm hình sương đọng trên lá, dẫn theo Nhiễm Vân, băng qua đám giả sơn trong sân, tiến về phía họ.

Thân hình nàng chỗ nở chỗ thon vừa vặn, cao hơn những cô gái bình thường cả nửa cái đầu, dáng đi lại như gió lướt qua mặt nước, uyển chuyển mê người. Đến trước mặt họ, nàng yêu kiều bái chào, nói khẽ, “Tham kiến Quỳ vương gia.”

Lý Thư Bạch gật đầu ra ý miễn lễ. Vương Nhược đứng dậy ngước nhìn Lý Thư Bạch, nhỏ nhẹ nói, “Đa tạ vương gia đích thân tới thăm hỏi, Vương Nhược cảm kích vô cùng. Thiết nghĩ cung Đại Minh canh phòng nghiêm ngặt, lại có bấy nhiêu binh lính của vương phủ cũng như cấm vệ quân ngày đêm bảo hộ, ắt không thể có sơ hở, xin vương gia cứ yên tâm.”

Miệng thì nói vậy song cặp mắt Vương Nhược nhìn Lý Thư Bạch vẫn mở to, lộ nét bi ai và kinh hãi như nai nhỏ đang run sợ, thậm chí còn toát ra vẻ bịn rịn khó tả. Hoàng Tử Hà có thể đoán được, nếu lúc này Lý Thư Bạch quả thực nghe theo lời Vương Nhược mà đi khỏi, hẳn nàng sẽ đau lòng thất vọng biết bao.

May sao Lý Thư Bạch chỉ mỉm cười bảo nàng, “Chắc chắn rồi, không phải lo gì nữa. Nàng về nghỉ đi, từ mai cứ yên lòng ở lại trong cung nhé.”

“Vâng.” Vương Nhược sửa lại vạt áo, vái lạy.

Rèm mi dày dài che khuất đôi mắt nàng, ánh đèn thoáng qua đáy mắt như sóng gợn, trong khoảnh khắc, Hoàng Tử Hà cứ ngỡ đó là giọt lệ.

Vương Nhược đứng dậy, xuôi tay đi vào nội điện, không nói thêm gì nữa.

Lý Thư Bạch và Hoàng Tử Hà nhìn theo bóng nàng vòng qua giả sơn giữa cơn gió đêm lạnh lẽo, chậm rãi song không hề dừng lấy một bước. Đi đến cửa điện, dường như nàng có phần hoảng hốt, vô ý vấp phải ngưỡng cửa, Nhiễm Vân vội đỡ lấy nàng, giúp nàng nhấc cao xiêm lên.

Bấy giờ Lý Thư Bạch mới thôi nhìn theo, dặn dò, “Đã có bấy nhiêu người trông coi, vậy ta về phủ đây, nơi này giao cho ngươi trông chừng nhé.”

“Dạ.” Hoàng Tử Hà đáp, song vẫn nhìn vào điện. Chỉ thấy Nhàn Vân bưng hộp cơm đi thẳng ra nhà bếp đằng sau, Nhiễm Vân cầm đèn soi bên ngoài, vừa soi vừa lẩm bẩm gì đó.

Hoàng Tử Hà đứng bên kia hòn giả sơn hỏi với sang, “Cô đang tìm gì thế?”

Nhiễm Vân khum tay lên miệng làm loa, đáp thật to, “Cây trâm sương lá của vương phi không thấy đâu nữa!”

Hoàng Tử Hà liền vẫy vẫy tay với Lý Thư Bạch, “Tôi đi giúp họ tìm.”

Lý Thư Bạch không nói không rằng, chỉ đưa mắt nhìn theo bóng cô rảo bước đi ngang qua sân.

Hoàng Tử Hà băng qua hòn giả sơn, vừa nhìn đã thấy dưới đất có vật gì lấp lánh, hình dạng như gân lá, làm bằng vàng, ở giữa chạm rỗng, bên trên điểm xuyết hai viên trân châu như đôi giọt sương, chính là cây trâm vừa cài bên mai Vương Nhược.

Cô vội nhặt lên, đi đến đưa cho Nhiễm Vân.

Nhiễm Vân nhận lấy, cả hai cùng bước tới cửa điện thì thấy Nhàn Vân bưng hộp cơm quay lại, rầu rĩ mở ra cho họ xem, “Đầu bếp đã bị thanh lọc đuổi đi cả rồi, chỉ tìm thấy mấy miếng bánh trong tủ thôi, các người đã ăn tối chưa?”

“Ăn ăn ăn, chỉ biết ăn thôi, cô nhìn xem eo mình bao nhiêu rồi?” Nhiễm Vân giễu cợt.

Nhàn Vân trả đũa, “Hừ, năm xưa Dương quý phi châu tròn ngọc trịa, nghiêng nước nghiêng thành đấy thôi.”

“Hạng như cô đòi bì với Dương quý phi à? Huống hồ, bà ấy là người cách đây cả trăm năm rồi, giờ ai còn chuộng mốt giai nhân béo nữa! Nhìn eo vương phi nhà chúng ta kia kìa, ấy mới là đẹp!”

Hoàng Tử Hà tiến vào nội điện, thấy gác bên trái lặng phắc, liền rảo bước đi đến cửa nhìn xem.

Trong gác đặt một chiếc giường bằng gỗ hải đường có tua rua buông rủ, bên trên là chăn gấm gối thêu được gấp ngay ngắn; một chiếc sập khắc hoa nạm xà cừ bỏ không kê bên song cửa; trên tấm thảm rợp rợp hoa rơi vàng rắc bày một chiếc bàn thấp và hai cái đệm gấm; một tủ áo bằng gỗ tử đàn chạm hoa cỏ bốn mùa kê trong góc tường.

Ánh đèn lồng sáng ngời mà lạnh lẽo như thủy ngân soi sáng cả căn phòng, song không có một ai.

Vương Nhược vừa bước vào đây trước con mắt bấy nhiêu người, vậy mà chỉ một tích tắc đã lặng lẽ biến mất trong phòng kín, tựa như một làn khói xanh tan nhòa vào không khí.

Cả đám người phía sau còn đương ngây ra, Hoàng Tử Hà đã xăm xăm bước tới, mở toang cửa tủ áo nhìn vào trong, đoạn rạp mình nhìn xuống gầm giường, cuối cùng chuyển ra sau sập, đẩy bật cánh cửa sổ đóng chặt nhìn ra ngoài, vừa khéo trông thấy hai tên thị vệ đang ưỡn ngực đứng nghiêm bên ngoài.

Cô ngẩng lên, thấy Lý Thư Bạch đứng ở đại sảnh đang dặn dò gì đó. Như thể liếc thấy động tĩnh bên này, y quay sang nhìn cô.

Cô vẫy tay ra dấu với y, cho biết đã xảy ra chuyện.

Lý Thư Bạch liền rảo bước băng qua sân đi tới, thấy căn gác trống không, lập tức sai mọi người tìm kiếm trong sảnh nhỏ và hai căn gác hai bên. Điện Ung Thuần chẳng lấy gì làm rộng rãi, chỉ một lát đã lục soát hết các ngóc ngách, nhưng Vương Nhược vẫn biệt tăm.

Chợt nghe tiếng chân hối hả bên ngoài rồi Trường Linh nữ quan hầu hạ hoàng hậu và vài người nữa vội vàng chạy vào, “Xảy ra chuyện gì vậy?”

Trông thấy Lý Thư Bạch đứng đó, Trường Linh hấp tấp hành lễ, đoạn đưa mắt nhìn Nhàn Vân như dò hỏi. Nhàn Vân liền đáp khẽ, “Vương phi… chẳng biết đi đâu mất rồi.”

Trường Linh hoảng hốt kêu lên, “Nô tỳ đương phụng mệnh hoàng hậu kiểm lại một ít hoa trang trí và y phục đưa tới cho vương phi, sao… mới có một chốc, lại trước mắt bấy nhiêu người, mà…”

Lý Thư Bạch ra lệnh, “Ngươi quay về bẩm với hoàng hậu đi, bên này ta sẽ cho người lục soát lần nữa, nếu tìm thấy sẽ hồi báo ngay.”

“Để lại vài người giúp tìm kiếm đi, ta phải về gác Bồng Lai ngay bây giờ.” Trường Linh nói, đoạn ra hiệu cho mấy cung nữ ôm quần áo phía sau mình đặt đồ đạc xuống, rồi chỉ dẫn hai ba người về trước.

Theo phân công của Lý Thư Bạch, bấy nhiêu người đã lật đi lật lại tra xét từng bụi cỏ, từng viên gạch, từng cái cây đến mười mấy lần, song không thấy mảy may manh mối.

Quả nhiên như tiên đoán, Vương Nhược đã biến mất trước ngày thành hôn, hơn nữa còn ở ngay giữa cung Đại Minh, trong vòng vây bảo vệ của binh lính.
 

Cam Miên

đậu phụ của hòa thượng
Thành viên BQT
Mod - Sưu Tầm
Mod - Công Viên Xanh
Tham gia
13/4/19
Bài viết
1,457
Điểm cảm xúc
976
Điểm
113
Một lúc sau, một trong các đại thái giám của hoàng hậu là Vĩnh Tế cũng tới. Điện Ung Thuần lố nhố nào là hoạn quan, cung nữ, cấm vệ quân, hộ vệ vương phủ, gần như phải chen vai thích cánh nhau. Thấy tình cảnh ấy, Lý Thư Bạch chịu không nổi, bèn giơ tay ra hiệu cho tất cả lui ra, chỉ để lại mười mấy người do Vương Uẩn chỉ huy sục sạo tìm kiếm mọi dấu vết có thể trong điện.

Lý Thư Bạch và Hoàng Tử Hà ra đứng ngay trước cửa, quan sát kỹ chung quanh.

Điện Ung Thuần đã yên tĩnh trở lại, giữa đêm khuya trông chẳng khác gì cung điện bình thường, cả điện có bảy gian đằng trước và bảy gian đằng sau, bố cục oai nghiêm nên có phần thô cứng, được nối thông bằng hai hành lang trái phải, tạo thành một chữ khẩu. Nhằm làm dịu thiết kế cứng nhắc này, những người thợ thủ công đã lát một con đường bằng đá xanh ở sân giữa, hai bên đặt hòn giả sơn. Giả sơn không cao, chỉ có một hai khối đá vượt đầu người, còn lại là đá vừa và nhỏ bày lẫn lộn với nhau cho đẹp mà thôi, bởi vậy đứng ở khu phía trước có thể nhìn thấy rõ mồn một khu phía sau.

“Bấy giờ chúng ta đứng dưới mái hiên đại sảnh, gần hành lang, nhìn theo Vương Nhược đi dọc con đường lát gạch xanh vào nội điện. Vì Vương Nhược ngủ tại gác trái nên khi đi được phần tư đường đã vòng qua giả sơn, song chúng ta vẫn có thể trông thấy bóng dáng. Quả thực chúng ta đã thấy cô ấy đi vào gác trái, không quay a nữa.”

Lý Thư Bạch gật đầu tỏ ý xác nhận.

“Ngay sau khi Vương Nhược vào cửa điện, Nhàn Vân lại bưng hộp đồ ăn đến nhà bếp. Sau đó, Nhiễm Vân xách đèn lồng đi ra tìm trâm. Đến đây có một nghi vấn phải đặt ra, tại sao đương lúc tình hình nhạy cảm phải cảnh giác cao độ thế này mà cả Nhàn Vân lẫn Nhiễm Vân lại cùng ra ngoài, sao không nghĩ tới việc để một người ở lại cạnh Vương Nhược?” Hoàng Tử Hà nói, đoạn bước đến bên bàn ngồi xuống, định giơ tay rút trâm cài tóc vẽ ký hiệu theo thói quen, nhưng vừa đưa tay lên đã chạm phải chiếc mũ hoạn quan bằng sa trên đầu, bất giác khựng lại, sau đó cầm lấy cây trâm sương lá đang đặt trên bàn vẽ sơ đồ điện Ung Thuần.

Lý Thư Bạch theo dõi, hơi cau mày. Hoàng Tử Hà không bận tâm, ung dung thuật lại mọi chuyện khi ấy, “Sau đó tôi lên tiếng hỏi, họ bèn kể chuyện tìm trâm, tôi đi đến sau hòn giả sơn phát hiện thấy cây trâm, bèn cầm lấy đưa cho họ, bấy giờ Nhàn Vân cũng vừa mới quay về, đem theo bánh hồ đào.”

Trên bức phác họa mờ đến mức gần như không thể nhìn thấy, cô lại vạch một đường từ nội điện đến nhà bếp bên cửa ngách, “Nhà bếp của điện Ung Thuần nằm ở góc Tây Nam, ngay sát tường, các đầu bếp đều đã bị đuổi đi vì lý do an toàn. Nhàn Vân lần đầu vào cung, vậy mà chỉ trong một khoảng thời gian ngắn như vậy đã tìm thấy điểm tâm dù nhà bếp không có ai để hỏi han, chẳng rõ là vì may mắn hay có giác quan đặc biệt với đồ ăn?”

Lý Thư Bạch liếc cây trâm trong tay cô đang vô thức vạch vạch trên bàn, thản nhiên hỏi, “Ta tưởng ngươi còn phán đoán nào khác nữa kia?”

“Còn nữa, nội điện gồm ba phần, từ trái sang phải lần lượt là gác trái, sảnh nhỏ, gác phải. Thực ra nội điện có bảy gian, hai gian bên trái và hai gian bên phải đã dùng làm gác, chỉ có ba gian giữa được coi là sảnh. Gác trái cấu tạo như phòng ấm, bốn vách tường dày dặn, hơn nữa chỉ có một cửa sổ, nằm cùng phía với cửa lớn của nội điện, nhìn thẳng ra sân giữa và sảnh lớn. Bởi thế, nếu muốn ra vào gác trái thì chỉ có một con đường là đi qua sảnh nhỏ. Trong lúc tôi, Nhàn Vân, Nhiễm Vân ba người đứng sờ sờ ở cửa sảnh nhỏ, cô ấy trừ cách đi xuyên tường, chỉ còn biện pháp duy nhất là trèo cửa sổ ra ngoài.”

“Ngoài cửa sổ chẳng những có hai người trông giữ từng giờ từng khắc, mà ngay hành lang đại sảnh cũng luôn luôn có người canh giữ, ta lại đang đứng ở chính hành lang đó, nếu cửa sổ mở ra, thì ta và những người khác sẽ trông thấy trước tiên.”

“Còn một khả năng nữa, là ở nội điện có đường hầm.” Hoàng Tử Hà quăng cây trâm xuống, cùng Lý Thư Bạch quay lại gác trái, quan sát căn gác chỉ có một cửa chính một cửa sổ, không hề có chỗ ẩn nấp.

“Đường hầm hả, có thể lắm.” Lý Thư Bạch ngồi xuống chiếc ghế thấp, tự rót trà uống. Thấy đại gia đây chẳng giúp được việc gì, Hoàng Tử Hà đành bấm bụng tự kiểm tra từng mảng tường, thậm chí bê cả tủ quần áo ra, gõ gõ vào mảng tường phía sau tủ hồi lâu.

Lý Thư Bạch ung dung uống trà, nhìn cô như đang xem một vở kịch không chút liên quan đến mình. Thấy ngón tay đã sưng lên vì gõ, Hoàng Tử Hà đang định xoa xoa một lát thì Lý Thư Bạch quăng cho cô một vật. Cô bắt lấy xem thử, ra là nửa thoi bạc, vuông vắn dày dặn, ước chừng nặng đến mười lạng. Cô nằm bò dưới đất, gõ bạc xuống nền gạch, chăm chú lắng nghe âm vọng bên dưới, song chẳng thu được gì. Ngay cả phần gạch xanh dưới thảm, cô cũng lật thảm lên gõ gõ từng viên một.

Lý Thư Bạch vẫn thờ ơ như không, khi cô kiểm tra đến bên dưới chỗ ngồi của y, y bèn bưng ly trà chạy sang đệm gấm đối diện để ngồi, coi như không thấy.

Hoàng Tử Hà tìm đến mệt lử mà chẳng thu hoạch được gì, đành đứng dậy ngồi xuống trước mặt Lý Thư Bạch, đặt nửa thoi bạc kia lên bàn, “Vương gia ra đường sao còn đem theo bạc thoi, mà lại là nửa thoi vậy?”

“Đương nhiên ta đâu có mang.” Lý Thư Bạch đáp, đoạn trỏ ba ly trà đương úp, “Thấy nó đặt trên ghế, dùng ly trà úp lên, ta cầm chén uống trà mới phát hiện ra đó.”

“Lạ thật, ai lại để nửa thoi bạc này trên bàn chứ?” Cô lật qua lật lại săm soi, thấy phía sau thoi bạc theo thông lệ có đúc chữ, ở đây là:

Phó sử Lương Vi Đống… Nội khố sứ thần Trương Quân Ích. Đúc bạc hai…

Lý Thư Bạch cầm lấy thoi bạc, quay mặt có chữ về phía cô, “Để tránh việc ăn bớt ăn xén khiến bạc không đủ trọng lượng, khi đúc người ta phải khắc tên một sứ thần và ba phó sử lên thoi bạc, để có bằng cứ mà tra.”

“Tôi biết, bởi thế nửa thoi còn lại hẳn có tên hai vị phó sử khác và chữ ‘mươi lạng’, xem ra đây là thoi bạc hai mươi lạng do kho bạc trong đại nội đúc thành.” Hoàng Tử Hà vừa nói vừa ước chừng trọng lượng thoi bạc.

Lý Thư Bạch trỏ vào tên hai người trên thoi bạc, “Nhưng trong những người phụ trách đúc vàng bạc ở đại nội, không có ai tên như thế này cả.”

“Người phụ trách đúc bạc ở đại nội nhiều như vậy, lẽ nào vương gia đều biết cả ư?”

“Rất trùng hợp, trước đây bên kho bạc từng xảy ra một vụ nhận hối lộ, ta phụng mệnh dẫn theo mấy chục người chuyên tính toán thu chi ở bộ Hộ vào cung, đối chiếu tất cả sổ sách bao năm nay trong đại nội. Đồng thời cũng xem qua tư liệu về việc đúc vàng bạc và tiền đồng của bản triều từ khi khai quốc đến giờ nên đã ghi nhớ hết tên họ những người phụ trách đúc bạc, thậm chí kẻ chủ quản các kho phủ địa phương cũng nhớ rõ cả.”

Bản lĩnh nhìn qua là thuộc đáng sợ của kẻ này, Hoàng Tử Hà đã đích thân thể nghiệm, cô cầm nửa thoi bạc trong tay săm soi một hồi, lẩm bẩm, “Lẽ nào đây là bạc tự đúc?”

Song lập tức, cô lại lắc đầu phủ định suy đoán này, “Nếu là tự đúc, nhất định sẽ khắc tên của chủ nhân, chứ ai giả mạo làm sứ thần trong kho bạc đại nội - trừ phi đây là loại bạc giả lõi chì ngoài phố.”

“Cũng không phải, thoi bạc này được chặt làm đôi, vết chặt vẫn là bạc ròng, xét theo trọng lượng cũng không có chênh lệch.” Nhìn cô vắt óc nghĩ ngợi, Lý Thư Bạch giơ bốn ngón tay ra, “Xem ra đây cũng là một điểm cần chú ý - nửa thoi bạc chưa rõ lai lịch.”

“Sao lại là nửa thoi nhỉ?” Hoàng Tử Hà lẩm bẩm, cảm thấy khả năng đột phá từ phương diện này rất mong manh, bèn đặt nửa thoi bạc xuống cạnh cây trâm sương lá, rồi ngẩng lên hỏi Lý Thư Bạch, “Tiếp theo đây, vương gia định làm gì?”

“Nói đến việc này, quả thực ta cũng cần chuẩn bị một chút. Ngày mai có một đoàn sứ giả Thổ Phồn vào kinh, bộ Lễ nhờ ta giúp họ ra mặt tiếp đãi.” Y đứng dậy, thong thả phẩy vạt áo, “Từ đầu ta đã nói rồi thôi, chuyện này giao cả cho ngươi đấy, hiện giờ quả nhiên đã đi đến bước xấu nhất trong dự liệu, ngươi phải phụ trách giải quyết ổn thỏa chuyện này - ít nhất cũng phải tìm biết xem Vương Nhược thế nào.”

Hoàng Tử Hà đứng dậy theo y, “Một mình tôi ư?”

“Nội Đình và Đại Lý Tự nhất định sẽ nhúng tay vào, đến lúc đó ta sẽ nói một tiếng với họ, để ngươi luôn được tham gia - phải rồi, nếu phát hiện thấy thi thể gì đó thì cứ tìm Chu Tử Tần.”

Khóe môi Hoàng Tử Hà không khỏi giần giật - vương phi tương lai bảy ngày nữa là gả cho y, trong nháy mắt biến mất ngay trước mặt, vậy mà y vẫn quan tâm tới việc thi thể xuất hiện trước hết, thật chẳng hiểu là hạng người gì nữa!

Tình hình bây giờ như một mớ gai rối beng, đâu đâu cũng là manh mối, song đâu đâu cũng lại là thép tấm, chẳng biết phải bắt tay từ chỗ nào.

Hoàng Tử Hà quay vào điện Ung Thuần, sục sạo khắp các ngóc ngách, lại tưởng tượng ra vô số cách giấu giếm manh mối, chuồn ra ngoài qua cửa sổ hoặc cửa chính, rà soát lại đầu đuôi câu chuyện mấy lần, song vẫn chẳng thu được điều gì.

Thân thích của hoàng hậu, vương phi tương lai của Quỳ vương biến mất đầy bí ẩn ngay trong hoàng cung mà Nội Đình bó tay hết cách. Theo ý chỉ của hoàng hậu, Nội Đình không chỉ tra xét điện Ung Thuần mà còn lục lạo khắp cung Đại Minh, nhưng kết quả trắng tay cứ như đã được định sẵn. Đương nhiên không thể dỡ cả điện Ung Thuần ra, nhưng tất cả đồ đạc và trần thiết bên trong đều đã bị gỡ bỏ rồi lại lục soát thật kỹ một lần nữa, song chẳng thu được gì. Chẳng bao lâu sau, Đại Lý Tự thiếu khanh Thôi Thuần Trạm cũng dẫn theo một đám thôi thừa tri sự vào cung Đại Minh, tiến hành thẩm tra.

Theo lời Lý Thư Bạch căn dặn, Hoàng Tử Hà tới gặp Đại Lý Tự thiếu khanh Thôi Thuần Trạm.

Trước đây trong vụ án Bốn Phương, cô đã gặp Thôi Thuần Trạm một lần, người này khoảng ba mươi tuổi, thuộc gia tộc họ Thôi ở Bác Lăng, là con cháu thế gia, thiếu niên đắc chí, luôn toát lên tinh thần nhiệt tình hăng hái. Vừa gặp y, trước mắt cô đã hiện lên hình ảnh Vương Uẩn, cảm thấy hai người này nhang nhác nhau.

Vì Hoàng Tử Hà là người của Quỳ vương phủ, trước đây lại từng phá được án Bốn Phương, nên Thôi Thuần Trạm hết sức nể vì cô, còn mời cô ngồi, cười nói, “Công công tuy trẻ tuổi song năng lực phá án thực khiến người ta bái phục. Lần này Quỳ vương để công công tham gia, hy vọng công công sẽ hết sức tương trợ.”

Hoàng Tử Hà vội đáp, “Nếu có chỗ nào cần tới, tôi nhất định sẽ dốc cạn sức mọn.”

Theo lệ Đại Lý Tự lại lặp lại quá trình cũ một lượt, Tố Khởi, Nhàn Vân, Nhiễm Vân cùng mọi người trong cung đều bị triệu tới căn vặn cặn kẽ lần nữa. Song lời khai của họ vẫn vậy, không có gì khác, chỉ là vương phi đến điện Ung Thuần, Quỳ vương gia tới thăm, vương phi một mình ở gác phía Đông, những người khác vừa ra ngoài chốc lát thì vương phi đã biến mất.

Khi ấy, Hoàng Tử Hà cùng Lý Thư Bạch và hơn ba mươi người dưới sân đều không phát hiện được Vương Nhược ra vào lúc nào, thậm chí mấy viên hoạn quan ở gác phải, chỉ cách một sảnh nhỏ, cũng không hề nhận thấy bên gác trái có gì khác lạ.

Hai thị vệ đứng canh bên ngoài cửa sổ gác Đông bấy giờ cũng đang nghiêm chỉnh chấp hành nhiệm vụ, quả quyết bản thân không hề rời mắt khỏi khung cửa sổ, chính là khung cửa sổ mà Hoàng Tử Hà đã mở ra xem sau khi có chuyện.

“Vương đại nhân dặn chúng tôi phải trông chừng thật kỹ cửa sổ, nên chúng tôi không dám rời mắt!” Các thị vệ khẳng định.

“Quả nhiên vẫn là Vương Uẩn suy nghĩ chu đáo - tiếc rằng đề phòng muôn lối, cuối cùng vương phi vẫn xảy ra chuyện.” Thôi Thuần Trạm than thở. Hoang mang vì không có manh mối, hắn bối rối quay sang nhìn Hoàng Tử Hà, “Đúng là chuyện quái gở… Chẳng biết công công có phát hiện gì không?”

Hoàng Tử Hà lắc đầu, “Trước khi đại nhân đến, tôi và vương gia đã kiểm tra nhiều lần, song chẳng thu được gì cả, chỉ uổng công.”

Khi tra hỏi xong mọi người thì trời đã sắp tối. Tìm kiếm thật lâu cũng chẳng phát hiện được gì, chỉ có một binh sĩ lục soát nhà bếp phía sau trình lên một miếng gỗ cháy sém, nói rằng tìm được trong bếp lò.

Thôi Thuần Trạm đón lấy xem xét rồi ngán ngẩm lắc đầu, “Đồ ngốc! Nhà bếp đốt vài mẩu gỗ vụn thì có gì quan trọng? Thế mà cũng đem đến cho bản quan à!”

Hoàng Tử Hà nghe nói liền đón lấy xem kỹ, là một mẩu gỗ đã cháy gần hết, bề ngoài đen sì, nhưng vẫn giữ được đường nét cơ bản, mang máng thấy giống hình móng ngựa, đằng trước là mặt vát đã cháy vênh cả lên, đằng sau cong hình bán nguyệt.

Cô còn đương săm soi thì Thôi Thuần Trạm đã nói, “Nhà bếp trong cung thỉnh thoảng cũng lấy những đầu mẩu gỗ vụn làm củi đun, ta thấy cái này có lẽ là phần còn lại của món đồ gỗ nào đó thôi, không có gì lạ.”

Hoàng Tử Hà gật đầu, đoạn giao mẩu gỗ cho người của Đại Lý Tự, dặn dò, “Cứ giữ lại đi, biết đâu cần đến.”

“Dương công công nói phải, cứ giữ lại đã.” Thôi Thuần Trạm ưng thuận, rồi quay sang bảo người sắp xếp tài liệu, nói hôm nay chỉ đến đây là dừng.

Hoàng Tử Hà bèn cáo từ, Thôi Thuần Trạm vội gọi cô lại, cười nói, “Hôm nay hiếm hoi được lần gặp mặt, sau này còn phải hợp tác lâu dài, ta định mời công công đi ăn được chăng.”

Hiện giờ Hoàng Tử Hà là người do vương phủ phái đến tham dự vào vụ án này, đương nhiên đành phải nhận lời. Nhưng khi đến Chuế Cẩm Lâu ở chợ Tây, thấy trong phòng ngăn đã có mấy người ngồi, cô không khỏi ngán ngẩm.

Cẩm Nô ôm tỳ bà ngồi một bên xem như cũng là người quen, ngoài ra còn có Chu Tử Tần vận áo gấm thanh thiên viền nẹp hồng phấn, đeo thắt lưng vàng nhạt, đang hào hứng phân tích làm sao để phân biệt được thời gian tử vong thông qua vị thịt và mức độ thối rữa, hoàn toàn không đếm xỉa đến cảm giác của người khác khi nhìn gà vịt cá thịt ngồn ngộn trên bàn.

Một người mỉm cười đứng dậy đón Hoàng Tử Hà và Thôi Thuần Trạm, phong thái ung dung văn nhã như đi giữa gió xuân, chính là Vương Uẩn.

“Sùng Cổ!” Vừa thấy Hoàng Tử Hà, Chu Tử Tần mừng rỡ quên cả câu chuyện đang nói, rối rít vẫy tay với cô, “Vừa nghe có một vị Dương công công ở Quỳ vương phủ giúp Thôi huynh làm án, ta đã nghĩ ngay là công công, quả nhiên không sai!”

Hoàng Tử Hà phớt lờ chỗ trống bên cạnh Vương Uẩn, khăng khăng chọn ngồi cạnh Chu Tử Tần phối đồ xanh hồng lòe loẹt trông rất đáng sợ, miệng nói, “Không ngờ công tử cũng ở đây.”

Thôi Thuần Trạm cười nói, “Tử Tần có khả năng quan sát tinh tường các hiện trường xảy ra vụ án, đặc biệt còn có nghiên cứu sâu sắc về thi thể, Đại Lý Tự cũng thường phải nhờ vả đệ ấy. Tiếc rằng chẳng bao lâu nữa Tử Tần sẽ phải theo Chu đại nhân vào Thục, về sau bọn chúng ta trên kinh khó lòng gặp được nữa, nhân hôm nay phải uống thêm mấy chén đấy.”

Chu Tử Tần nhìn y đầy khinh bỉ, “Mỗi lần đều là bọn đệ uống, huynh toàn ỷ nhà có sư tử Hà Đông, xưa nay chỉ một hai chén đã xong, cái danh sợ vợ nhất kinh thành chẳng huynh thì còn ai nữa!”

Thôi Thuần Trạm cười ha hả, rõ ràng chẳng hề phật ý, cứ luôn miệng hỏi khi nào Chu Tường cha gã lên đường, lúc nào bày tiệc đốt đuôi(*)…

(*) Tiệc đốt đuôi là một loại yến tiệc đặc thù từng thịnh hành ở thành Trường An đời Đường, do quan mới nhậm chức hoặc mới được thăng chức chiêu đãi những bạn bè và đồng liêu tới chúc mừng. Cái tên “đốt đuôi” kỳ lạ có ba cách giải thích, một là khi hổ biến thành người, phải đốt đuôi đi; hai là nói khi dê nhập bầy mới, phải đốt cháy đuôi cũ mới được tiếp nhận; ba là cá chép vượt vũ môn, phải chịu bị lửa trời đốt trụi đuôi cá, mới có thể hóa rồng.

Đợi tám món ăn nóng sốt đưa cả lên, mọi người cùng cạn một chung, Vương Uẩn mới cất tiếng hỏi, “Chẳng hay việc Quỳ vương phi mất tích đến giờ đã có manh mối gì chưa?”

Thôi Thuần Trạm lắc đầu, “Xem ra vẫn cần thêm ít thời gian nữa.”

Vương Uẩn lộ vẻ lo lắng, song cũng không tỏ thái độ nhiều.

Nhìn đĩa cá mới bưng lên, Chu Tử Tần ồ một tiếng, “Hôm nay Lý thẩm vẫn phụ trách làm cá ở nhà bếp đi vắng ư?”

Tiểu nhị ngạc nhiên hỏi, “Sao Chu công tử biết vậy, hôm nay nhà Lý thẩm có việc, là người khác làm cá đấy.”

Chu Tử Tần nhăn mặt, “Thoạt nhìn là biết người mới làm, phần bụng cá ta thích nhất bị khuyết này, ngươi xem đường cắt thì xiên xẹo, lớp mỡ và da bụng đều bị phá hỏng cả, mùi hương và vị ngon đặc biệt ở bụng cá bị hủy hoại hết! Còn nữa còn nữa, các vị xem, cả sợi đen ở hậu môn cũng không lọc sạch, nào có được tay nghề điêu luyện như Lý thẩm!”

Người quanh bàn đều cười gượng, Vương Uẩn đổi chủ đề, “Dương công công và Tử Tần quen nhau ư?”

Hoàng Tử Hà ngồi cạnh Chu Tử Tần, bất lực nhìn gã gắp một miếng cá to đã được lọc sạch vào bát mình, “Có duyên gặp mặt một lần thôi.”

Thôi Thuần Trạm cười, “ Tử Tần với ai cũng có thể vừa gặp đã thân, chúng ta quen rồi.”

Chu Tử Tần nghiêm mặt phản bác, “Đệ và Sùng Cổ là bạn bè vào sinh ra tử, không như người bình thường đâu.”

Cùng đi quật mồ có một lần thôi mà? Từ lúc nào đã thành vào sinh ra tử vậy? Hoàng Tử Hà nhăn mặt, chỉ cắm cúi ăn cá trong bát. Chu Tử Tần vẫn ra rả bên tai cô, “Không phải ta tự khoe chứ, về ngón lọc xương cá ta là hạng nhất kinh thành, thậm chí nhất cả thiên hạ đấy. Trước đây bị gia phụ nhốt ở nhà, không cho theo ngỗ tác ra ngoài học hỏi, hằng ngày chỉ còn trò nghiên cứu gà vịt cá do nhà bếp làm - trâu có một trăm linh tám chiếc xương, gà có một trăm sáu mươi tư chiếc, cá thì chênh lệch nhiều hơn, ví như con cá diếc hôm nay, đừng tưởng cá diếc lắm xương, thực ra nó đều có quy luật phân bố cả, ta dạy công công một cách nhé, tuyệt chiêu độc môn của ta đấy, bí truyền bí truyền, chính là thịt lưng cá có thể chia lớp mà gỡ ra, đương nhiên thao tác rất quan trọng…”

Mọi người vừa nghe gã huyên thuyên, vừa uống rượu cười đùa, không khí trên tiệc khá vui vẻ, chẳng bao lâu đã dẹp hết những lời thảo luận liên quan đến việc vương phi mất tích, biến thành một buổi họp mặt chè chén. Hoàng Tử Hà thấy vẻ mặt Vương Uẩn có phần bất đắc dĩ, song nhìn chung vẫn miễn cưỡng rặn ra được nụ cười.

Chẳng rõ ai lại khơi mào, “Hôm nay trong kinh đang đồn ầm lên, mọi người có nghe không?”

“Đồn cái gì?” Tất cả liền hỏi.

“Đồn đại về Kỳ Lạc quận chúa đó.”

Mọi người dĩ nhiên biết Kỳ Lạc quận chúa xưa nay vẫn tự cho mình là Quỳ vương phi tương lai, song cuối cùng lại không được thỏa nguyện, đều mỉm cười đầy ẩn ý, ồ lên một tiếng.

Cẩm Nô cười nói, “Ôi chao, quả là không khéo. Nói ra thì, hôm qua thiếp đến đàn tỳ bà hầu thái phi, vừa khéo gặp Kỳ Lạc quận chúa trong cung.”

“Té ra lúc vương phi mất tích, Kỳ Lạc quận chúa cũng ở trong cung?” Thôi Thuần Trạm hỏi.

“Đúng thế, nghe nói quận chúa đến chép kinh giúp thái phi. Nghe nói trước đây nàng ấy đã đút lót cho các cung nhân thân cận của người nên mới nhận được việc này. Quỳ vương gia cứ mười ngày lại vào cung thỉnh an thái phi một lần, đến lúc đó nàng ấy có thể bắt chuyện.”

Mọi người đều cảm thán, “Quả là si tình mà.”

“Hơn nữa nghe nói nàng ấy cũng tỏ rõ thái độ với thái phi tình cảm của mình dành cho Quỳ vương, thái phi có ý tác hợp. Tiếc rằng cuối cùng vận mệnh an bài, Quỳ vương không đến lượt nàng ta. Từ khi Quỳ vương và Vương cô nương định ngày thành hôn, nàng ấy cũng lấy cớ bị ốm, một dạo không vào cung nữa, nào ngờ hôm qua lại vào, vừa gặp lúc vương phi mất tích. Sau khi xảy ra chuyện, nghe nói Kỳ Lạc quận chúa còn đích thân đến điện Ung Thuần ngó nghiêng…” Cẩm Nô kể, đoạn lấy cây tỳ bà che miệng cười, “Thiếp cũng theo đến xem, nói đùa chứ, vẻ mặt quận chúa lúc đó thực là như trút được gánh nặng, cầu được ước thấy.”

“Phải đó, trong kinh đồn rằng Quỳ vương phi sẽ mất tích trước ngày thành hôn, người thích nghe tin đồn này nhất chính là cô ta chứ ai.” Ngoại trừ Vương Uẩn, cả đám đàn ông ngồi quanh đều cười khanh khách, dẫu Vương Uẩn sờ sờ ở đó, họ cũng không giấu nổi thú ngồi lê đôi mách.

Hoàng Tử Hà bất lực nhìn bọn họ, thầm điểm qua mọi điều về Kỳ Lạc quận chúa một lượt rồi tạm ghi nhớ trong lòng. Ngẩng lên thấy giữa cả bàn tiệc ồn ào, Vương Uẩn vẫn chăm chú nhìn mình, dưới ánh đèn, chỉ thấy y da dẻ như ngọc, tóc đen như nhung, gương mặt đứng đắn, phong thái nghiêm túc. Giữa nam nhân không nên thân, y càng lộ rõ vẻ xuất chúng, từ đầu đến chân toát ra phong độ cao quý của con cháu quý tộc thời Tấn cùng khí chất siêu phàm thoát tục hơn hẳn mọi người.

Cảm thấy hàng mi giật lên một cái như có ai đó cầm kim chích vào mi mắt, Hoàng Tử Hà vội quay đầu né tránh ánh mắt y, làm bộ điềm nhiên cùng Chu Tử Tần nghiên cứu cấu tạo xương cá.

Tới khi cơm no rượu say thì đã đến đầu giờ Dậu. Tiểu nhị đến thêm nến, Cẩm Nô lại ôm tỳ bà so dây tấu một khúc sau cùng.

“Ôi chà, thời tiết này đúng là rầu cả người.” Cẩm Nô gảy thử mấy âm, bất lực nói, “Cả ngày mưa rả rích, dây đàn lại lỏng, còn thêm ẩm thấp, tiếng càng chẳng ra gì.”

Hoàng Tử Hà quay lại hỏi, “Có cách gì không?”

“Lấy phấn hương thông lau một lượt là được.” Cẩm Nô rút trong ngực áo ra một chiếc hộp tinh xảo, dùng ba ngón tay nhón một nhúm phấn hương thông, xoa kỹ lên trục đàn, lại nói, “Thứ phấn hương thông này quả là đồ trong cung có khác, công công xem, đến hộp đựng cũng đẹp thế này, tôi nhận được phải cho ngay vào ngực áo cất kỹ.”

Hoàng Tử Hà không sao hiểu nổi tâm lý thích khoe khoang của Cẩm Nô, đành ngắm nghía cây tỳ bà, tấm tắc, “Cây Thu lộ hành sương này đẹp ghê.”

“Phải đó, là của sư phụ tôi cho mà. Đời này kiếp này tôi chỉ dùng nó thôi, những cây khác tôi gảy không quen, vì thế tay và động tác của tôi chỉ phù hợp với nó.” Cẩm Nô mỉm cười, nhón phấn hương thông lau một hồi thật lâu, đôi mày khẽ cau, nhưng lập tức lại nhoẻn miệng cười, ôm cây tỳ bà vào lòng, dùng móng ngọc gảy gảy dây đàn, tiếng nhạc vui vẻ linh hoạt tuôn ra.

Khúc đàn dứt, Thôi Thuần Trạm bèn nâng chén chốt lại, “Ơn vua mênh mông, gắng gánh trọng trách. Các vị ngồi đây, chúng ta nhất định phải dồn toàn bộ lực lượng phá cho được án này để khỏi phụ sự coi trọng của bệ hạ điện hạ và Quỳ vương, hy vọng mọi người đều có thể tích cực hiến kế, sớm ngày kết án, đặng báo hoàng ân!”

Bữa ăn bằng tiền công quỹ lần này đến đây là kết thúc.

Người của Đại Lý Tự tính tiền, sau khi tiễn hai vị đại nhân Thôi Thuần Trạm và Vương Uẩn, quanh bàn chỉ còn lại Chu Tử Tần, Hoàng Tử Hà và Cẩm Nô bấy giờ đang xếp lại cây tỳ bà.

Chu Tử Tần nhìn mấy món ăn còn chưa động đũa trên bàn, gọi tiểu nhị lại bảo, “Có thứ gì như lá sen không? Gói con gà nướng, cá nướng và đĩa móng giò kia lại cho ta.”

Cẩm Nô phì cười, “Té ra lời đồn trong kinh đúng thực, Chu tiểu gia quả là tiết kiệm.”

“Gà vịt thịt cá cũng có tôn nghiêm, đời nào lại cam lòng để thế cho biến thành nước gạo chứ?” Chu Tử Tần chẳng hề phật ý, cười nói, “Cái trước mặt cô đó, phải, chính là đĩa anh đào đó, cô gói lại giúp ta.”

“Anh đào cũng có tôn nghiêm ư?” Cẩm Nô nhìn mấy ngón tay trắng nõn của mình, miễn cưỡng đổ anh đào lên lá sen gói lại đưa cho Chu Tử Tần, đoạn cau mày, “Ôi chao, mấy quả anh đào chết giẫm này cuống cứng quá, đâm cả vào tay tôi rồi.”

“Ta biết cô tay mềm, nhưng ai ngờ đến anh đào mà cô còn sợ đâm đau. Cảm ơn cảm ơn.” Chu Tử Tần tiện miệng nói, dùng dây buộc túm cả lại, xách lên theo hai người đi ra.

Hoàng Tử Hà cố ý đi chậm lại phía sau, khẽ hỏi Cẩm Nô bấy giờ đương mải xoa tay, “Cẩm Nô cô nương, xin hỏi lúc nào cô rảnh, ta có thể đến chơi chăng?”

“Ồ, Dương công công cũng hứng thú với tỳ bà sao?” Biết rõ là hoạn quan, song Cẩm Nô vẫn theo thói quen đẩy đưa, nhẹ nhàng mà yểu điệu.

Hoàng Tử Hà đáp, “Có vài chuyện muốn hỏi cô.”

“Về sư phụ tôi ư?” Cẩm Nô hỏi.

Hoàng Tử Hà hoàn toàn không hứng thú với sư phụ nào đó, chỉ cười nói, "Đương nhiên là về… các tỷ muội khi trước của cô, mấy người ngưỡng mộ Quỳ vương gia đó.”

“Đến thăm thì được, mời Quỳ vương gia đích thân đến hỏi, tôi nhất định sẽ chỉ ra là cô nào ngưỡng mộ gia.” Cẩm Nô thổi thổi bàn tay, nhoẻn cười, “Được rồi, tôi đi trước đây.”

“Cẩm Nô cô nương.” Hoàng Tử Hà ngăn nàng lại, hỏi khẽ, “Hôm ấy trên gác Bồng Lai, cô từng nói một câu khiến ta chú ý…”

“Gì cơ?” Cẩm Nô ngây ngô vô tội nhìn Hoàng Tử Hà.

“Cô nói, vương phi sao có thể là… cô ta.” Hoàng Tử Hà ghé tai nói, giọng rất khẽ, nhưng từng câu từng chữ đều hết sức rõ ràng.

Nét mặt Cẩm Nô tức thì cứng lại, trợn trừng mắt nhìn Hoàng Tử Hà hồi lâu mới cụp mắt xuống đáp, “Công công đừng nói ra ngoài, kẻo tôi lại mang tội. Thực ra tôi chỉ… chỉ cảm thấy Kỳ Lạc quận chúa có tướng vương phi hơn, nên mới thuận miệng nói thế thôi.”

Hoàng Tử Hà còn định gặng thêm thì Cẩm Nô đã vội vã đi vòng qua, bước lên một cỗ xe ngựa cạnh đó, bảo gã phu xe, “Còn không quay về thì giới nghiêm mất, mau đi thôi!”

Hoàng Tử Hà bất lực nhìn cỗ xe đi xa dần, lòng thầm tính toán xem phải làm sao mới tạo được cơ hội tiếp cận hỏi han lần nữa.

Xe ngựa nhà họ Chu đang đợi sẵn trước cửa, Chu Tử Tần đứng trước cửa xe hỏi cô, “Sùng Cổ, định về thế nào đây?”

Hoàng Tử Hà tiện miệng đáp, “Tôi thuê xe về Quỳ vương phủ.”

“Ta tiện đường, để ta đưa công công.” Gã làm hiệu cho cô lên xe.

Hoàng Tử Hà phì cười hỏi, “Tiện đường chỗ nào? Quỳ vương phủ ở phía Bắc, nhà công tử phía Tây mà.”

“Giờ ta đâu có về nhà.” Gã nói đoạn ra hiệu cho cô lên, tên đánh xe chẳng đợi ra lệnh đã thành thạo cho xe lăn bánh, nhằm hướng hồ Khúc Giang ở phía Bắc mà đi.

Thành Trường An đã tối mịt, trăng mới ló, tiếng người vừa lặng. Bên ngoài bờ tường hồ Khúc Giang, trên con đường lổn nhổn sỏi đá ven sông, có mấy tên ăn mày đang sưởi ấm, hoặc đứng hoặc ngồi, kẻ nào kẻ nấy đều gầy trơ xương.

Xe ngựa dừng lại, Chu Tử Tần nhảy xuống, đặt mấy gói đồ ăn trong tay lên chiếc bàn đá cạnh bờ sông, còn mở cả gói gà nướng ra, rồi quay về xe.

Gã đánh xe theo lệnh đánh xe đến Quỳ vương phủ trước.

Hoàng Tử Hà vén rèm xe lên, nhìn ra phía sau.

Đám ăn mày bị mùi thơm ngào ngạt hấp dẫn, xúm đông xúm đỏ quanh chiếc bàn đá vui sướng ăn ngồm ngoàm, tên nào tên nấy đều hân hoan.

Hoàng Tử Hà không khỏi nở nụ cười, “Thực không nhìn ra ngoài nghiên cứu thi thể, công tử còn làm những việc thế này nữa.”

“Ồ, chỉ tiện thể thôi mà.” Gã thờ ơ xua tay.

Dọc phố treo hàng dãy đèn lồng, chiếu sáng rực mặt đường. Xe ngựa lóc cóc băng qua mấy con phố dài, thỉnh thoảng lại có chút ánh sáng lọt qua rèm xe lờ mờ rọi vào trong. Nụ cười vô tư của Chu Tử Tần thoắt ẩn thoắt hiện dưới ánh đèn, toát lên vẻ dịu dàng mà đơn thuần, đầy sự hồn nhiên của thiếu niên.

Hoàng Tử Hà bất giác chạnh lòng thương cảm. Thầm nghĩ nếu kẻ từ nhỏ đã chứng kiến quá nhiều thủ đoạn tàn nhẫn, tâm địa hiểm độc như mình gặp được người như Chu Tử Tần sớm hơn, không chừng tấm lòng sẽ bớt đôi phần cứng rắn.

Về đến Quỳ vương phủ đã sắp canh hai. Hoàng Tử Hà múc nước tắm rửa, lại giặt quần áo phơi phóng xong xuôi, tới khi đi ngủ thì đã quá canh ba.

Các hoạn quan khác đều phải chen chúc hai ba người trong một gian phòng, chỉ mình cô được Lý Thư Bạch dặn dò trước nên một mình một phòng, chẳng phải lo lắng điều gì, tha hồ yên tâm ngủ. Nào ngờ trời vừa tảng sáng đã có người đập cửa thình thình, “Dương Sùng Cổ! Dậy mau, dậy mau!”

Hoàng Tử Hà đầu óc còn đương mơ màng, nhỏm nửa người dậy, “Ai thế? Có chuyện gì vậy?”

“Vương gia có lệnh, gọi ngươi lập tức đến cửa cung Đại Minh đợi sẵn.”

Hoàng Tử Hà vỗ trán thở dài, khổ không kể xiết, “Vương gia hẳn đang lên chầu chứ?”

“Hôm nay bệ hạ không được khỏe, đã bỏ buổi chầu sớm nên gia bảo ngươi đến đó đợi. Ai da, một tiểu hoạn quan như ngươi quản việc của gia làm gì? Ngươi cứ tới đó là được rồi.”

“Vâng vâng vâng…”

Hối hả chạy đến cung Đại Minh thì mặt trời đã lên cao. Lý Thư Bạch đang đứng trước cửa cung trò chuyện với một người Hồi Hột, hai người dùng toàn tiếng Hồi Hột chẳng ai hiểu gì, nói chuyện rất vui vẻ.

Hoàng Tử Hà đứng bên cạnh Lý Thư Bạch, người Hồi Hột kia trông thấy cô bèn xì xồ gì đó, song Lý Thư Bạch chỉ cười cười, rồi nói vài câu dạng như từ biệt, ra hiệu cho Hoàng Tử Hà theo mình lên xe ngựa.

Hoàng Tử Hà ngồi trong xe, nhìn y nhắm mắt dưỡng thần, khóe môi còn thấp thoáng nụ cười, không nén được tò mò hỏi, “Vừa rồi các vị nói gì vậy?”

Lý Thư Bạch mở mắt nhìn cô, “Ngươi sẽ không muốn biết đâu.”

Hoàng Tử Hà cảm thấy câu này đi kèm với vẻ mặt như cười mà không phải cười của y, chính là ý nói “mau nài nỉ ta đi, mau gặng hỏi ta đi”. Để làm vui lòng chủ nhân, cô đành hỏi gặng, “Rốt cuộc nói chuyện gì vậy?”

“Hắn nói tên tiểu hoạn quan này hay đấy, bừng bừng anh khí, song vẫn không mất bản sắc nam nhi.”

“Quả nhiên tôi không nên hỏi…” Hoàng Tử Hà cứng họng quay đầu nhìn ra bên ngoài, “Chúng ta đi đâu đây?”

“Chẳng phải nói vụ án vẫn không có manh mối gì ư? Ta giúp ngươi tìm lấy một manh mối.”

Hoàng Tử Hà sáng mắt lên, “Ngạc vương phủ ư?”

Lý Thư Bạch khẽ gật đầu, “Một mình ngươi đi có lẽ không tiện, nên ta đi với ngươi.”

“Ồ, nghe nói Ngạc vương gia đã thu nhận Trần Niệm Nương, tôi nghĩ tất cả manh mối hiện giờ đều phải trông vào Phùng Ức Nương quá cố, hoặc là, phía Trần Niệm Nương sẽ có manh mối gì đó.”

Cô vừa nói đến đây, cỗ xe bỗng khựng lại rồi dừng hẳn.

Bên ngoài có thị vệ gõ nhẹ vào thành xe, “Bẩm vương gia, Kỳ Lạc quận chúa chặn xe giữa đường, hình như…”

Lý Thư Bạch khẽ cau mày, vén rèm xe lên nhìn ra ngoài, thấy xe ngựa của Kỳ Lạc quận chúa dừng ngay trước mặt, Kỳ Lạc đã nhảy từ trên xe xuống xăm xăm đi về phía này.

Hoàng Tử Hà theo Lý Thư Bạch xuống xe với tâm thế đi xem kịch hay.

Kỳ Lạc quận chúa xưa nay luôn hếch cằm cao ngạo nhìn xuống kẻ khác, nhưng vừa thấy Lý Thư Bạch đã rưng rưng nước mắt nói khẽ, “Tham kiến Quỳ vương điện hạ…”

Kỳ Lạc quận chúa là ái nữ của cố hoàng thúc Ích vương, tính ra còn là họ hàng của Lý Thư Bạch, nên y cũng đáp lễ, “Quận chúa cần gì phải đa lễ.”

“Vương gia, muội nghe nói… gần đây trong kinh rộ lên lời đồn đại về Quỳ vương phi, đều bắt nguồn từ muội cả, hy vọng không làm vương gia thêm phiền não, nếu không muội thực khó yên lòng…” Cặp mắt to tròn như quả hạnh long lanh lệ, nhìn Lý Thư Bạch không chớp, đôi má vốn đầy đặn cũng tóp đi không ít, rõ ràng sau khi Lý Thư Bạch lập phi, cô ta ăn không ngon ngủ không yên.

Lý Thư Bạch chỉ dịu dàng nhìn Kỳ Lạc, giọng nói vẫn điềm nhiên, “Quận chúa không cần lo lắng, Vương Nhược mất tích trong cung là chuyện lạ lùng, song cũng chưa chắc đã không tìm được, đến lúc đó nhất định quận chúa sẽ rửa được mối oan này.”

“Nhưng… Nhưng muội nghe nói, chuyện này là…” Kỳ Lạc nuốt lại bốn chữ “ma quỷ gây ra”, ai oán nhìn Lý Thư Bạch, thẽ thọt, “Muội nghe người trong kinh nói, những điểm quái dị trong chuyện này thần bí khó lường. Vương Nhược có lẽ, có lẽ đã không còn trên đời nữa rồi.”

Hoàng Tử Hà đứng phía sau lặng lẽ quan sát cô gái đương ra sức làm bộ đáng thương, song nhìn thế nào cũng không giấu được vẻ hí hửng, thầm nghĩ dẫu sao cũng là kẻ được nuông chiều từ nhỏ, vĩnh viễn không hiểu được cách quan tâm người khác và nhận định tình hình, tính tình thẳng ruột ngựa như vậy, khiến người ta chỉ thoáng nhìn đã thấy cả lục phủ ngũ tạng, rốt cuộc đây là điểm đáng yêu hay đáng ghét của quận chúa?

Lý Thư Bạch vẫn vờ như không biết, cứ dịu dàng đối đáp, nét mặt chẳng khác nào non xa nước gần trong tranh thủy mặc, giữa vẻ mịt mù lảng bảng chỉ thấy ôn hòa nhã nhặn. Y điềm đạm an ủi Kỳ Lạc quận chúa, nhưng Kỳ Lạc quận chúa lại càng được thể, nước mắt oan ức mỗi lúc một nhiều, tuôn rơi lã chã.

Lý Thư Bạch đã ngán ngẩm lắm rồi song rốt cuộc vẫn giơ tay lau nước mắt cho Kỳ Lạc quận chúa.

Cuối cùng, Hoàng Tử Hà đành làm tròn phận sự, từ phía sau lên tiếng nhắc nhở, “Vương gia, Cảnh Dục đã đến Ngạc vương phủ thông báo từ lâu, e rằng bây giờ Ngạc vương gia đang đợi, gia xem…”

Lý Thư Bạch gật đầu, lại nói với Kỳ Lạc quận chúa, “Ta đi đây. Quận chúa cứ yên tâm, mọi chuyện đều có ta lo liệu.”

Kỳ Lạc quận chúa đứng lặng bên đường nhìn theo Lý Thư Bạch, mãi tới khi xe ngựa của y đi khuất thật lâu, lại thêm đám thị nữ bên cạnh tỉ tê khuyên giải, mới quay trở lại xe.

Hoàng Tử Hà nhìn qua khe rèm trông thấy hai cỗ xe quay lưng đi ngược chiều nhau, không khỏi đưa mắt nhìn Lý Thư Bạch.

Lý Thư Bạch lạnh nhạt hỏi, “Cảm thấy ta không nên cho cô ấy quá nhiều hy vọng, nên cương quyết hơn nữa, để cô ấy nản lòng ư?”

Hoàng Tử Hà không đáp, song biểu hiện trên mặt đã rõ rành rành.

“Trước đây, khi tiên hoàng băng hà, chỉ có cô ấy từng nắm lấy tay ta, an ủi ta.” Y ngả người ra tấm đệm gấm đằng sau, nét mặt bình thản, vẫn giữ nguyên vẻ xa cách và ôn hòa như trang thủy mặc khi nãy, “Kỳ Lạc là một cô gái tốt, có điều không thông minh cho lắm.”

“Thế nên gia đã làm lỡ một cô gái tốt, giờ còn khiến cô ấy mang tiếng xấu khắp kinh thành.”

Y liếc cô, rồi lặng thinh không nói suốt dọc đường. Nước trong chiếc bình lưu ly treo trên vách xe sóng sánh theo nhịp tròng trành của xe ngựa, con cá nhỏ bên trong dường như đã quen với trạng thái này, lặng lẽ nằm yên dưới đáy bình, không hề hoảng hốt.

Hồi lâu cô mới nghe tiếng Lý Thư Bạch hỏi, “Ngươi có biết cô ấy mang bệnh từ lúc sinh ra, không sống nổi đến hai mươi không?”

Thấy Hoàng Tử Hà kinh ngạc nhìn mình, song y chỉ chăm chú nhìn con cá nhỏ trong bình, kể bằng giọng đều đều, “Năm xưa Ích vương tuy chỉ có họ xa nhưng Văn Tông hoàng đế không con nối dõi đã triệu ông ấy về triều phong vương để chuẩn bị đăng cơ. Nếu như cung đình không xảy ra đấu đá thì Ích vương đã là chủ thiên hạ.

Hậu duệ của dòng dõi thiên tử cũ nhất định phải bị tuyệt diệt. Giờ Ích vương đã qua đời, các huynh đệ của Kỳ Lạc cũng mất cả, chỉ còn cô ấy trơ trọi một mình, bằng không ngươi nghĩ vì sao khi phụ hoàng qua đời, cô ấy lại dám nắm tay ta?"

Hoàng Tử Hà nín lặng, miên man nghĩ đến thiếu nữ tính tình cương liệt đang làm trò cười cho mọi người trong kinh, lại mường tượng mãi đôi gò má bầu bĩnh cùng cặp mắt như quả hạnh ấy. Hồi lâu, cô mới hỏi khẽ, "Kỳ Lạc quận chúa có biết không?"

"Ta nghĩ cô ấy hẳn cũng biết tình hình của mình không ổn, nhưng chắc không ngờ lại nhanh như thế." Lý Thư Bạch từ từ nhắm mắt lại, nói, "Cứ để cô ấy phách lối làm càn, ảo tưởng thêm mấy ngày thì có sao, sau này dù có muốn quấy rầy ta, cũng chẳng còn cơ hội nữa rồi."
 

Cam Miên

đậu phụ của hòa thượng
Thành viên BQT
Mod - Sưu Tầm
Mod - Công Viên Xanh
Tham gia
13/4/19
Bài viết
1,457
Điểm cảm xúc
976
Điểm
113
Xe ngựa băng qua con phố rộng thênh thang của Trường An rồi dừng lại ở Ngạc vương phủ.

Hoàng Tử Hà vừa theo Lý Thư Bạch xuống xe, ngẩng lên đã thấy Ngạc vương Lý Nhuận đứng ngay trước cổng. Vẫn nguyên dáng vẻ thanh tú thoát tục, gương mặt y tươi cười, dáng vẻ ôn nhu cao quý. Đường nét gương mặt vốn hơi yếu đuối, song được nốt ruồi son giữa trán tôn lên, tức thì trở nên rạng rỡ tươi tắn, rành rành là một mỹ nam.

Lý Nhuận mỉm cười gật đầu với Hoàng Tử Hà rồi bước tới nghênh đón Lý Thư Bạch, “Hôm nay chẳng phải Tứ ca nghị sự với Hải Thanh vương của Hồi Hột tại cung Đại Minh ư? Sao rảnh rỗi tới chơi vậy?”

“Có việc gì quan trọng đâu, chỉ làm theo thông lệ mà thôi. Ông ta tặng cho ta một chuỗi tràng bằng tử đàn vàng, ta nghĩ chắc đệ thích, nên đem đến tặng.”

“Đúng là Tứ ca hiểu đệ nhất!” Lý Nhuận vui vẻ đón lấy, dùng đầu ngón tay vân vê từng hạt một, đoạn mời mọc, “Tứ ca vào nhà chơi, gần đây đệ kiếm được thứ trà trời ban, mới ra năm nay đấy, lát nữa ta sẽ pha trà cùng thưởng thức.”

Lò đất hồng, cành thông mảnh. Cửa giả bốn bề sảnh đều mở toang, ngoài song lại dẫn một khe suối nhỏ, bày mấy hòn đá trắng, trồng một vạt thông thấp, đầy ý thơ tao nhã.

Hoàng Tử Hà bưng ly trà lên nhấp một ngụm, ngẩn đầu nhìn lên vách sảnh đương treo hai câu thơ của Vương Duy. Một câu là gió thông đùa nới dải, trăng núi soi gảy đàn(*). Một câu là trên đá xanh suối chảy, kẽ lá tùng trăng lùa(**)

(*) Trích trong bài Mời rượu Trương thiếu phủ.

(**) Trích trong bài Chiều thu trong núi.

Lý Thư Bạch bình phẩm, “Có thông, có suối, có đá, lại có khung cửa tròn như trăng, quả đã bước vào ý thơ của Ma Cật(*) vậy.”

(*) Ma Cật là tên chữ của Vương Duy.

Hoàng Tử Hà hiểu ngay y định mượn cớ nói đến chuyện gì, bèn thẽ thọt góp một câu, “Nếu có thêm đàn, thì mới đủ mười phần ý thơ.”

“Sùng Cổ nói phải, vừa hay chỗ đệ đang sẵn có một cầm sư.” Lý Nhuận gật đầu, đoạn sai người đi mời Trần Niệm Nương. Chẳng bao lâu sau, Trần Niệm Nương ôm đàn bước vào, trong lúc hành lễ, nhác thấy Hoàng Tử Hà, bà ta lộ vẻ mừng rỡ, khẽ gật đầu chào cô, “Dương công công.”

Bàn tay phải đang đút trong tay áo của Hoàng Tử Hà bất giác giật nảy lên, trong tay áo cô có một vật nho nhỏ được bọc bằng vải trắng. Cô bất giác lo ngại, nghĩ thầm, đây là viên ngọc có khắc tên bà mà Phùng Ức Nương đến chết cũng không rời đây.

Lòng cô thoáng thê lương song ngoài mặt vẫn tươi cười với bà ta, “Trần nương, bộ Hộ vẫn chưa tra được tin tức về lệnh sư tỷ, xem ra phải đợi ít lâu nữa.”

Trần Niệm Nương gật đầu, dung mạo bà ta đã tiều tụy đôi phần, song ngón đàn vẫn khiến người ta phải trầm trồ như thế, một khúc vạn khe hòa, thánh thót luồn qua rặng thông, lại qua dòng suối, làm người nghe quên hết thế tục.

Lý Thư Bạch tấm tắc, “Bấy nhiêu cầm sư trong giáo phường chẳng ai bì được Trần cầm sư.”

Lý Nhuận cười nói, “Đúng thế, giờ đây hẳn Trần cầm sư phải là quốc thủ rồi.”

Lý Thư Bạch điềm nhiên nhắc, “Sùng Cổ, ta nhớ lần trước ngươi nghe Trần cầm sư diễn tấu trở về, nhiều lần ngơ ngẩn thất thần, còn âm thầm đi tập đàn, hôm nay có dịp, còn không mau thỉnh giáo Trần cầm sư?”

Hoàng Tử Hà thực bội phục bản lĩnh nói dối không chớp mắt của y, vội thuận nước đẩy thuyền, giúp Trần Niệm Nương cất đàn vào túi, lại ôm hộ cả cây đàn về phòng. Lý Nhuận đãi Trần Niệm Nương như thượng khách, tiểu viện bà ta ở nằm bên mé Đông vương phủ, trong sân trồng đầy thúy trúc, thoáng mát mà u tĩnh.

Trần Niệm Nương ngồi xuống sửa lại mấy dây, miệng giảng giải, “Đàn là môn phải khổ công cả đời, ta thấy tiểu công công thường bận rộn, muốn dốc lòng học đàn e rằng rất khó. Nếu công công chỉ hứng khởi nhất thời thì học mấy khúc dễ gảy là đủ. Cung, thương, giốc, chủy, vũ và mấy loại thế tay, thế ngón đã học qua rồi chứ?”

Hoàng Tử Hà liền thỉnh giáo, Trần Niệm Nương cũng chỉ bảo cặn kẽ từng điều, chớp mắt mặt trời đã lên đến đỉnh đầu, người hầu của vương phủ cũng đưa đồ ăn tới cho họ.

Thấy Trần Niệm Nương ăn rất ít, Hoàng Tử Hà bèn khuyên nhủ, “Trần nương, gần đây bà có vẻ gầy quá, xin bà đừng quá lo âu, phải giữ gìn lấy thân thể. Tôi nghĩ Phùng nương nhất định cũng không muốn thấy bộ dạng tiều tụy thế này của bà đâu.”

Trần Niệm Nương ngẩng lên nhìn cô, gượng cười, “Đa tạ tiểu công công, song giờ đây ta không ăn ngon ngủ yên được, hễ nhắm mắt lại thấy gương mặt Ức Nương, chắc công công không hiểu được cảm giác ấy đâu. Mười mấy năm nay, hai tỷ muội nương tựa vào nhau, giờ Ức Nương để lại ta một mình, thực chẳng biết phải sống tiếp ra sao nữa.”

Hoàng Tử Hà bất giác vỗ nhẹ lên tay bà ta, chạnh lòng nhớ tới cha mẹ và người thân đã vĩnh viễn bỏ mình mà đi. Cùng một lứa bên trời lận đận, song cô lại chẳng thể giải bày nông nỗi, đành lặng lẽ nắm chặt miếng ngọc dương chi nhỏ trong tay áo.

Cô trả lại Trần Niệm Nương bức họa bà ta đưa lần trước, “Tôi đã cho người phỏng lại một bức, đem theo bên người rồi, biết đâu sau này còn có thể giúp bà tìm kiếm, bà thấy có được không?”

Trần Niệm Nương trân trọng cất bức họa đi, “Dĩ nhiên là được, ta còn phải cảm tạ công công ấy chứ.”

Hoàng Tử Hà lại hỏi, “Bà và Phùng nương thân thiết như thế, lẽ nào bà ta chưa bao giờ nhắc tới người nhờ vả bà ấy là ai ư?”

“Chưa từng. Ức Nương xưa nay chẳng giấu ta việc gì, song lần này lại nói đây là chuyện rất tốt, nhất định phải giúp người ta.”

Hoàng Tử Hà trầm ngâm hỏi, “Phùng nương và bà hẳn không có gì giấu giếm nhau, bà nghĩ xem có người bạn cũ nào khiến bà ta cao hứng như thế chăng?”

Trần Niệm Nương so lại dây đàn, thong thả đáp, “Thực không dám giấu, tuy chúng ta lớn lên bên nhau, lại cùng học nghệ, nhưng Ức Nương mệnh bạc, từng bị bán vào lầu xanh, may sao không lâu sau có vị khách chuộc thân cho, rồi theo người ta đến Dương Châu, về sau vì đại phu nhân trong nhà khắc nghiệt nên Ức Nương phải cầm một món tiền ra đi, mua một căn nhà nhỏ, vào Vân Thiều Uyển Dương Châu làm cầm sư. Còn ta vẫn ở Lạc Dương, mãi đến mấy năm sau nhận được thư, mới biết Ức Nương đang ở Dương Châu. Thư rằng, Niệm Nương, năm xưa lúc trẻ chúng ta từng thề sống chết có nhau, nay nếu có lòng, thì có thể nương tựa nhau đến già…”

Kể đến đây, Trần Niệm Nương cũng lã chã hai hàng nước mắt. Dẫu dung nhan chẳng cách nào trẻ lại song nước mắt vẫn trong veo, “Bấy giờ ta ở Lạc Dương, thường đến các nhà vọng tộc dạy đàn, cuộc sống không có gì phải lo lắng. Song nhận được thư Ức Nương bèn gói ghém mấy bộ đồ đơn giản nhất, xuôi Nam xuống Dương Châu. Ức Nương không bao giờ nhắc lại cuộc sống mấy năm trước đó, ta cũng không muốn nói đến quá khứ của mình, bởi chúng ta đều hiểu, giữa đôi bên không cần phải nói làm chi nữa.”

Bởi vậy, người bạn cũ của bà ấy, Niệm Nương cũng chẳng biết là ai ư?

Trần Niệm Nương thấy cô vẫn trầm tư, liền hỏi, “Tiểu công công, chuyện này có liên quan gì tới việc tìm kiếm Ức Nương không?”

Hoàng Tử Hà ngập ngừng một thoáng rồi gật đầu, “Có điều phía bộ Hộ chưa tìm thấy ghi chép, nên tôi định âm thầm tự tra xét xem, gần đây trong cung xảy ra vài việc, tôi và người của bộ Hình cũng như Đại Lý Tự có gặp nhau, nên tôi nghĩ không biết có thể nhân cơ hội này giúp bà tìm Ức Nương hay không.”

Trần Niệm Nương vái cô một vái thật dài, đoạn nói, “Đa tạ tiểu công công! Có gì xin cứ hỏi, nếu biết ta nhất định sẽ nói, đã nói nhất định sẽ nói hết.”

Hoàng Tử Hà vội đỡ bà ta dậy, “Theo tôi nghĩ, việc quan trọng nhất là tra xem người nhờ bà ấy vào kinh là ai.”

“Trước đây ta cũng muốn dò hỏi, nhưng mà…” Trần Niệm Nương nghẹn ngào, “Có điều, ta quả không có manh mối gì cả…”

Hoàng Tử Hà trầm ngâm, “Tôi nghĩ, người có thể nhờ vả một cầm sư thì thân phận hẳn là tương tự hoặc xuất thân tương tự như bà ấy, ít nhất cũng không phải khách khứa đến nghe hát mà nhiều khả năng là tỷ muội trong Vân Thiều Uyển, hơn nữa có lẽ đã rời khỏi Vân Thiều Uyển, nên mới gọi là bạn cũ.”

“Ồ, nếu về chuyện này thì ta nghĩ, có lẽ là… người mà Ức Nương quen biết trong giai đoạn chúng ta ly tán.” Trần Niệm Nương bấm đốt tay nhẩm tính, rồi cặn kẽ kể ra, “Ức Nương sống cùng ta bấy nhiêu năm, các mối quan hệ cũng rất đơn giản, sau khi đến Vân Thiều Uyển, những người Ức Nương quen thì ta đều quen cả. Bởi vậy ta nghĩ có lẽ là người bạn cũ quen biết trong mấy năm chúng ta xa nhau, ta không quen song tỷ ấy lại khá thân thiết, bằng không nhất định đã kể với ta là ai nhờ vả mình đưa con gái người bạn cũ lên kinh rồi.”

“Bà và Phùng nương mất liên lạc với nhau từ khi nào? Chẳng hay người biết chuyện khi ấy còn sống không?”

“Từ mười lăm năm trước rồi. Vân Thiều Uyển là phường ca múa, người đến kẻ đi tấp nập, hôm nay còn ngồi bên nhau cười cười nói nói, chớp mắt đã ai đi đường nấy, huống hồ là chuyện đã mười lăm năm. Những người già năm xưa giờ đa phần biệt tăm biệt tích rồi.”

“Song tôi nghĩ, mười mấy năm rồi còn có thể gửi gắm một việc quan trọng như thế, hẳn không phải người quen sơ, ít nhất thời ấy cũng từng xảy ra chuyện gì đó, nên đến giờ bà ấy vẫn ghi nhớ trong lòng.” Hoàng Tử Hà nghĩ ngợi, “Mười mấy năm nay, lẽ nào Ức Nương chưa từng nhắc đến với bà ư?”

Trần Niệm Nương trầm ngâm hồi lâu, chợt à lên một tiếng, “Vân Thiều Lục Nữ…”

Vừa nghe nhắc Vân Thiều Lục Nữ, Hoàng Tử Hà lập tức nhớ tới câu chuyện Cẩm Nô kể. Cô vội gặng, “Niệm Nương, bà nói rõ cho tôi nghe được không?”

“Đó là sáu tỷ muội đứng đầu các danh kỹ Dương Châu mười mấy năm trước, cùng dựng nên Vân Thiều Uyển, hai chữ ‘Vân Thiều’ lấy từ ‘Vân Thiều Phủ’ của Tắc Thiên hoàng đế(*) năm xưa. Đến nay trong Vân Thiều Uyển vẫn thờ thanh đoản kiếm năm xưa Tắc Thiên hoàng đế dùng để thuần phục ngựa đó.”

(*) Năm Như Ý thứ nhất (692) Võ Tắc Thiên đổi tên gọi “giáo phường” thành “Vân Thiều Phủ”. Đến thời Đường Trung Tông mới đổi lại là “giáo phường”.

Một phường ca múa lại đi thờ một thanh đoản kiếm, khiến Hoàng Tử Hà không khỏi tò mò, “Lưỡi dao của Tắc Thiên hoàng đế dùng khi thuần phục ngựa ư? Sao lại thất lạc đến tận Dương Châu?”

“Đại tỷ trong Vân Thiều Lục Nữ là hậu duệ của Công Tôn Đại Nương, năm xưa kiếm thuật của Công Tôn Đại Nương lừng danh thiên hạ, được Huyền Tông hoàng đế ban cho đoản kiếm đó. Sau loạn An Sử, đệ tử của Công Tôn Đại Nương là Lý Thập Nhị Nương lại truyền đoản kiếm ấy cho đồ tôn, chính là Vân Thiều đệ nhất nữ Giang Hoành Ba.”

“Vậy trong sáu người, Ức Nương thân với ai nhất?”

“Lúc ta tới thì chỉ còn đại tỷ Giang Hoành Ba mà thôi, nghe nói năm người kia trong mấy năm hoặc đã xuất giá hoặc đã bỏ đi rồi. Song thỉnh thoảng Ức Nương cũng nói, nếu năm xưa không nhờ Vân Thiều Lục Nữ thì tỷ ấy chẳng tài nào thoát nổi nhà tay lái buôn từng chuộc thân giúp. Hình như đại phu nhân của người đó muốn bán tỷ ấy đi, may mà các tỷ muội ở Vân Thiều Uyển mến tài nên ra sức điều đình với bà ta, mới chuộc thân được về. Chỉ đáng tiếc xuất giá xong, thỉnh thoảng lắm họ mới có thư gửi về, trừ đại tỷ Giang Hoành Ba và tam tỷ Lan Đại ra, ta chưa từng gặp những người khác. Bọn họ nổi danh trong chốn yên hoa, nhưng dẫu sao cũng xuất thân từ phường ca múa, ta nghĩ… khó lòng đặt chân được vào chốn danh gia vọng tộc.”

Hoàng Tử Hà lặng lẽ gật đầu, tuy vẫn không thể xác định được người nhờ cậy Ức Nương có phải một trong Vân Thiều Lục Nữ hay không, nhưng dẫu sao cũng có chút manh mối. Sực nhớ ra một chuyện, cô lại hỏi, “Phải rồi, Trần nương! Bà đến từ Vân Thiều Uyển, vậy có quen Cẩm Nô không?”

“Hẳn là quen rồi. Lần trước ta được vinh hạnh biểu diễn cho các vị vương gia xem cũng là nhờ Cẩm Nô giới thiệu, bằng không sao có thể gặp mặt quý nhân chứ?”

“Bà kể cho tôi nghe vài chuyện về Cẩm Nô được không?” Hoàng Tử Hà nắm lấy tay bà ta hỏi, “Ví như, cuộc sống lúc trước của cô ấy, thân thiết với những người nào, hoặc… các tỷ muội xung quanh thế nào chẳng hạn.”

Trần Niệm Nương vắt óc nghĩ ngợi, đoạn cau mày đáp, “Vân Thiều Uyển rất đông ca kỹ, có điều ta giỏi đàn mà Cẩm Nô thạo tỳ bà, hai ngón đó đều thuộc gác Băng Huyền nên ngày thường thi thoảng cũng gặp nhau, song chẳng qua chỉ gật đầu chào hỏi qua loa thôi. Tại Dương Châu, tài nghệ của cô ấy được coi là mười phần xuất chúng trong lớp trẻ, dáng người xinh đẹp, lại thích bày tiệc rong chơi, là kẻ ham vui nổi tiếng, con cháu nhà giàu hoặc quan lại giao du với cô ấy không biết bao nhiêu mà kể, song thân thiết hình như chẳng có ai. Chắc công công cũng biết, tuy Cẩm Nô sống phóng đãng song tính tình rất tốt, khéo ứng xử, lại nhiệt tình với người khác. Lần này ta lưu lạc trong kinh, cô ấy chẳng qua chỉ tình cờ đi ngang trông thấy, vậy mà tức tốc nhảy từ trên xe của Chiêu vương xuống hàn huyên, biết được tình cảnh bèn thuê giúp ta một căn phòng trọ dài ngày. Ta thấy trong giáo phường cô ấy cũng là người biết cư xử, còn về các tỷ muội ở Dương Châu hay ở đây thì ta không rõ.”

Hoàng Tử Hà đành tìm một chuyện chẳng mấy quan trọng hỏi tiếp, “Nghe nói sư phụ cô ấy tên Mai Vãn Trí, là một trong Vân Thiều Lục Nữ?”

“Chuyện này ta cũng chỉ nghe nói. Năm xưa tại Vân Thiều Uyển, Mai Vãn Trí được coi là đứng đầu về nhạc cụ, lúc Cẩm Nô năm tuổi được bà ta nhặt về, coi như con gái, về sau Mai Vãn Trí sinh một con gái tên Tuyết Sắc, mọi người đều nói bà ấy đối với Tuyết Sắc còn không bằng đối với Cẩm Nô.”

“Tuyết Sắc… Huyết Sắc(*)?” Hoàng Tử Hà nhẩm lại hai chữ này, đột nhiên trong nháy mắt, một tia chớp xẹt qua khiến đầu óc cô lạnh buốt, rồi lại nóng bừng lên.

(*) Trong tiếng Trung, hai chữ Tuyết Sắc và Huyết Sắc phát âm tương tự nhau

Trần Niệm Nương không hề nhận thấy biểu hiện khác lạ của Hoàng Tử Hà, chỉ nói, “Đúng vậy, Tuyết Sắc. Chồng Mai Vãn Trí là một họa sư họ Trình, rất đẹp, vẽ cũng rất giỏi, nhưng suy nghĩ không giống người thường. Người bình thường đặt tên hay chọn tên Hoa tên Yến, còn ông ta lại đặt tên cho con là Tuyết Sắc, khiến rất nhiều người nghe lầm thành ‘Huyết Sắc’, chỉ biết nhăn nhó cười khổ cho đứa con gái xinh đẹp của Mai Vãn Trí.”

Hoàng Tử Hà cảm thấy mây mù trước mắt mình đang từ từ tan ra, không kềm chế được chộp lấy tay Trần Niệm Nương gặng hỏi, “Trần nương, vậy Tuyết Sắc con gái Mai Vãn Trí giờ ra sao rồi?”

Trần Niệm Nương ngạc nhiên nhìn Hoàng Tử Hà, rõ ràng không hiểu tại sao đang nói về Cẩm Nô lại đột ngột quay sang hỏi chuyện Tuyết Sắc. Song bà ta cũng đành chiều theo, rù rì kể lại, “Đứa con gái ấy của Mai Vãn Trí, có thể nói là số vất vả. Chưa đầy năm tuổi thì mẹ qua đời, cha con dắt díu nhau về quê cũ ở Liễu Châu, song cha nó chẳng có nghề kiếm sống, vẽ tranh dù sao cũng không đủ kiếm ăn qua ngày, ông ta đã đói khổ lại thêm bệnh tật, cuối cùng khi nó mười tuổi, người cha nhắm mắt xuôi tay. Thân thích họ hàng trong nhà xưa nay vẫn lom lom dòm ngó như hổ đói liền xồ đến chiếm luôn nhà nó, khiến nó không chốn dung thân, bị người ta chà đạp. Về sau có mấy người khác trong Vân Thiều Lục Nữ biết cảnh ngộ của nó, mới gọi đến Dương Châu. Lúc nó đến ta đã ở Vân Thiều Uyển rồi, chỉ thấy một đứa bé mười ba tuổi, gầy gò bẩn thỉu, vậy mà có thể bôn ba ngàn dặm đến tận Dương Châu. Bấy giờ tất cả người ở đó đều ròng ròng nước mắt, nhớ lại năm xưa Mai Vãn Trí lộng lẫy xinh đẹp, diễm lệ cao sang như thế, chỉ để lại một đứa con gái, vậy mà lại lâm vào cảnh ngộ ấy…”

“Vậy Tuyết Sắc hiện giờ ở đâu?”

“Lan Đại đón nó đến ở với bà ấy, ta cũng chỉ thỉnh thoảng gặp nó ở Vân Thiều Uyển mà thôi, đa phần là vào dịp lễ tết, những khi Vân Thiều Uyển bận rộn, dàn ca múa hoặc hợp tấu thiếu một hai chân, nó thường theo Lan Đại tới giúp đỡ.”

“Ồ… cô ấy biết đánh đàn ư?”

“Biết, nó từng theo học Ức Nương một thời gian. Tay nó rất đẹp, xương ngón tay dài mà có lực, thực ra rất hợp học cầm sắt tỳ bà, song chẳng rõ vì sao lại học rất chậm, thiếu ngộ tính, mọi người đều than rằng tư thái phong hoa tuyệt đại năm xưa của Mai Vãn Trí coi như thất truyền.”

“Mai Vãn Trí là một đại mỹ nhân ư?” Hoàng Tử Hà lại hỏi.

“Ta chưa gặp bao giờ, có điều nghe nói là giai nhân tuyệt sắc!” Trần Niệm Nương nói như chém đinh chặt sắt. “Bấy nhiêu năm nay, trong Vân Thiều Uyển ngày ngày đều có những mỹ nhân xuất sắc, bản thân Tuyết Sắc cũng là mỹ nữ hiếm thấy, song Ức Nương luôn nói, Tuyết Sắc còn xa mới bì nổi mẹ mình. Nếu luận về mỹ mạo, chỉ Mai Vãn Trí mới được coi là diễm lệ rạng rỡ, lộng lẫy mê người - cái gọi là riêng có mẫu đơn là quốc sắc, chỉ mình bà ấy xứng thôi.”

“Ừm, tôi cũng nghe Cẩm Nô kể sư phụ cô ấy là mỹ nhân nghiêng nước nghiêng thành.”

“Lúc Mai Vãn Trí qua đời, Cẩm Nô mới chừng mười tuổi, song xưa nay ta vẫn nghe cô ấy kể chuyện sư phụ mình, không chỉ vì Mai Vãn Trí đã nhặt cô ấy về từ lúc năm tuổi, cứu mạng cô ấy, mà Cẩm Nô thực lòng sùng kính Mai Vãn Trí. Nghe nói khi rời Vân Thiều Uyển lên kinh, cô ấy đã ôm tỳ bà quỳ trước bức họa Mai Vãn Trí suốt nửa canh giờ.”

“Vậy Tuyết Sắc hoặc Mai Vãn Trí có tranh vẽ ư?” Hoàng Tử Hà hỏi.

“Mai Vãn Trí có, chồng bà ta là họa sư, nghe nói xuất thân nghèo khổ nhưng rất tài hoa. Năm xưa ông ta từng họa cho Vân Thiều Lục Nữ một bức Du xuân đồ, đủ cả sáu người, hiện do Lan Đại cất giữ.”

Hoàng Tử Hà lặng lẽ gật đầu, lại hỏi, “Tôi mượn xem bức họa ấy được không?”

Trần Niệm Nương đáp, “Khó gì đâu, hiện giờ Lan Đại cũng rời khỏi Dương Châu rồi, trước khi đi còn để lại địa chỉ ở Bồ Châu, để ta viết thư bảo Tuyết Sắc đem tranh đến, chỉ mất một hai ngày thôi.”

Hoàng Tử Hà mừng rỡ, “Thật ư? Vậy tốt quá rồi, nếu Tuyết Sắc có thể đích thân đem tranh đến, tôi nghĩ chuyện này ắt sẽ có bước tiến vượt bậc.”

“Được, hôm nay ta sẽ viết thư cho Lan Đại ngay.”

“Đa tạ Trần nương!”

“Phường ca múa ở Dương Châu…”

Trở về vương phủ, Hoàng Tử Hà liền thuật lại mọi chuyện cho Lý Thư Bạch, nghe xong y phải nhíu mày, “Sao lại dây dưa đến việc lâu đến thế, lại ở nơi xa như thế?”

“Tôi cũng không ngờ. Song xem xét đủ loại dấu vết thì dường như có liên quan thật.”

Họ vừa bàn luận về vụ án, vừa theo nhịp cầu cong cong bắc ngang dòng nước thong thả đi về phía hiên Tịnh Dữu. Lý Thư Bạch xưa nay không thích nhiều người đi theo hầu hạ, nên đám thị vệ hoạn quan đều đi xa xa phía sau, chỉ mình Hoàng Tử Hà và y thả bộ trên cầu.

Ngoái lại thấy trên bờ nước và trong cánh rừng, từng ngọn đèn lồng đã lần lượt thắp lên, ánh đèn, ánh trăng và ánh sao cùng rọi xuống mặt nước dập dềnh, lấp la lấp loáng, trông hai người như đi giữa trăng sao.

Bỗng nhiên, cả hai bất giác đều dừng chân giữa cầu, nhìn xuống vầng sáng mênh mông dưới nước. Gió đêm đã ấm dần lên, tiết trời cuối xuân đầu hạ quả là rất hợp lòng người.

Lý Thư Bạch quay sang nhìn Hoàng Tử Hà đứng phía sau cách mình chừng một bước, trông thấy trăng sao lấp lánh sáng rực trong mắt cô, y cũng không khỏi khựng lại một thoáng.

Đúng lúc này, có tiếng chân huỳnh huỵch trên bờ đột ngột phá tan bầu không khí tĩnh lặng. Một kẻ đang hối hả lao lên cầu, miệng la lớn, “Vương gia! Vương gia!”

Lý Thư Bạch đưa mắt nhìn sang, thấy đám thị vệ đã ngăn kẻ kia lại, bèn quay người đi về phía đó, chỉ thấy dưới ánh đèn có một người đương hốt hoảng đứng ngay tại đầu cầu, chính là Chu Tử Tần.

Lý Thư Bạch ra hiệu cho đám thị vệ để Chu Tử Tần lên cầu, bản thân y cũng quay người đi thẳng tới ngồi trong đình trên cầu, tỏ ý mời Chu Tử Tần ngồi rồi hỏi, “Xảy ra chuyện gì thế?”

Chu Tử Tần ngồi xuống chiếc ghế đá đối diện y, sợ sệt siết chặt hai nắm tay lại, ngập ngừng mãi.

Lý Thư Bạch cau mày hỏi, “Rốt cuộc là chuyện gì thế?”

“Tôi… Tôi có lẽ…” Chu Tử Tần nói, môi tái nhợt cắt không được giọt máu run lên bần bật, gã ngước nhìn Lý Thư Bạch, lại nhìn sang Hoàng Tử Hà, hồi lâu mới rặn ra được mấy chữ lí nhí, “Có lẽ… đã giết người…”

Lý Thư Bạch nhướng mày hỏi, “Có lẽ à?”

“Chính là… tôi không nói rõ ngay được, chuyện này Sùng Cổ cũng biết đấy, tôi thực sự không định giết họ mà!”

Hoàng Tử Hà kinh ngạc nhìn Chu Tử Tần, “Sao lại liên quan đến tôi nữa?”

“Vì nạn nhân chính là mấy tên ăn mày tối qua ta đã đưa đồ ăn đến cho đó!”

Chu Tử Tần vừa dứt lời Hoàng Tử Hà đã a lên một tiếng, buột miệng hỏi, “Là mấy người tối qua ư?”

Lý Thư Bạch liếc cô, đoạn trầm giọng nói, “Tử Tần, kể rõ đầu đuôi chuyện xem nào.”

“Vâng.” Chu Tử Tần căng thẳng hồi tưởng lại, rồi kể bằng giọng run run, “Tối qua Thôi đại nhân mời chúng tôi đến Chuế Cẩm Lâu uống rượu, tôi nghe nói có cả vị công công từng phá vụ án Bốn Phương nhà vương gia, đoán là Sùng Cổ nên cũng tới tham dự. Cuối bữa, thấy trên bàn có mấy món ăn mới động đũa qua loa, bèn đem gói lại cho mấy tên ăn mày kia. Trước đây tôi cũng thường làm vậy, xưa nay chưa từng xảy ra chuyện gì cả.”

Hoàng Tử Hà gật đầu, ý bảo lời kể của gã không có vấn đề gì.

“Sau đó, sáng nay tôi tỉnh giấc, nghe nói người của bộ Hình đang nghiệm thi bèn chạy tới xem, kết quả phát hiện… phát hiện người chết chính là mấy tên ăn mày tối qua!”

Hoàng Tử Hà hỏi, “Chắc gì đã là do đồ ăn chúng ta đưa đến có độc? Tối qua lúc ăn chúng ta có thấy gì lạ đâu.”

Chu Tử Tần căng thẳng tóm lấy tay cô đáp, “Không đâu, là thật đó! Mấy người đó quả thực trúng độc mà chết.Ta nhặt được chiếc lá sen gói đồ ăn hôm qua, lén đem về nhà kiểm nghiệm, kết quả phát hiện thấy dấu vết chất kịch độc… hơn nữa còn là loại độc rất hiếm thấy ở đây.”

Thấy Lý Thư Bạch liếc nhìn tay mình, Hoàng Tử Hà đành lẳng lặng rút tay lại, hỏi tiếp, “Là loại độc gì vậy?”

“Nhựa cây độc tiễn, mạn Nam Man thường gọi là ‘kiến huyết phong hầu’, nghe nói hễ trúng độc thì không đi được quá mười bước đã lăn ra chết, là một trong những thứ độc nhất trên đời.” Chu Tử Tần cau mày, “Ở kinh thành rất hiếm thấy thứ đó, trước đây ta cũng chỉ đọc trong sách mà thôi, người trúng độc này da thịt toàn thân sẽ thâm đen lại rồi thối rữa, râu tóc móng tay và răng đều rụng hết, không thể nhận diện được, cực kỳ đáng sợ.”

“Mấy tên ăn mày kia cũng bị thế ư?”

“Ừ, hiện giờ bộ Hình đã hạ lệnh, vụ án này rất đáng sợ, nhất định phải tra cho ra tên sát thủ tàn độc đó.” Môi Chu Tử Tần tái nhợt, hai vai run lên bần bật, “Nhưng Sùng Cổ, công công cũng biết mà, ta… ta thực sự không có ý hại người đâu!”

Hoàng Tử Hà cau mày, “Vấn đề là chúng ta không sao cả, vậy tại sao đồ chúng ta đưa đến lại đột nhiên dính chất độc được?”

“Hơn nữa… Hơn nữa còn do chúng ta chính tay gói lại, đích thân đưa đến nữa chứ!”

Lý Thư Bạch bỗng chen vào, “Ta thấy vấn đề quan trọng nhất là kẻ nào đã hạ độc vào đồ ăn của các ngươi?”

Hoàng Tử Hà gật đầu, “Bấy giờ ở đó có Thôi đại nhân, Vương Uẩn, hai chúng tôi, mấy viên quan trong Đại Lý Tự… cả Cẩm Nô nữa.”

Chu Tử Tần bấm ngón tay suy xét từng người một lượt, rõ ràng đều không thể đặt giả thiết họ là hung thủ, cuối cùng đành rầu rĩ ngẩng lên hỏi, “Sùng Cổ, công công bảo chuyện này liệu có tra đến chúng ta không?”

“Theo công tử thì sao?” Hoàng Tử Hà hỏi lại.

“Tối qua khi chúng ta đến đó, trên phố đã sắp giờ giới nghiêm nên không ai nhìn thấy cả, ta nghĩ có lẽ là… Chỉ cần chúng ta không nói ra, chắc không sao đâu nhỉ?”

“Sai nha xử lý thế nào tôi không biết, song nếu là tôi, đầu tiên sẽ cho điều tra những thức ăn còn sót lại trong dạ dày nạn nhân. Ăn mày hiếm khi được ăn mấy món ngon như vậy, nên hung thủ sẽ bị khoanh vùng là con cháu nhà giàu sang quyền quý. Đồng thời, lá sen bỏ lại hiện trường vẫn còn tươi, phần nhiều là do các quán rượu hay mua dự phòng, nếu là đồ ăn của người thường tự nấu, đều dùng lá sen khô gói lại, chứ mấy ai chuẩn bị sẵn lá sen tươi để gói đồ ăn? Phải biết địa thế kinh thành khá thấp, lại trũng, lá sen trong thành mới nhú thôi, lá sen các quán rượu thường dùng đều phải đặt sẵn từ ngư dân ở ngoại ô, sáng ra lúc đưa cá tôm đến tiện thể hái luôn, cũng xem như là hàng hiếm.”

“Vậy… Vậy có thể là cố ý đánh lạc hướng, nên mới dùng lá sen tươi gói đồ ăn…”

“Có thể. Nhưng trước khi xét đến khả năng đó, đám bổ khoái hẳn đã phải sục sạo hết các quán rượu lớn, sau đó chẳng mấy chốc sẽ moi ra công tử nhà Chu đại nhân Chu Tử Tần xưa nay không bao giờ bỏ phí đồ ăn, nắm được các món tối qua công tử gói đem về, chứng cứ xác thực, có thể lập tức trình lên xin chỉ thị có nên mời công tử đến nha môn uống trà hay không rồi?”

Chu Tử Tần tức thì ngồi phệt xuống ghế, mặt tái ngắt, mắt trợn trừng.

Hoàng Tử Hà bất lực hỏi, “Hằng ngày chẳng phải vẫn làm việc với thi thể đấy thôi, sao tôi không biết công tử sợ xác chết đến này nhỉ?”

Chu Tử Tần yếu ớt đáp, “Ta chỉ thích nghiên cứu thi thể, chứ đâu có thích biến người ta thành thi thể.”

Hoàng Tử Hà và Lý Thư Bạch vừa đưa mắt nhìn nhau thì Cảnh Hữu bước vào bẩm báo, “Vương gia, có Thôi đại nhân cầu kiến.”

Lý Thư Bạch hỏi, “Đại Lý Tự lại có chuyện gì tìm ta ư?”

“Bẩm, nghe nói là chuyện liên quan đến vụ án.”

Câu này khiến Chu Tử Tần đứng bật dậy, “Không, không thể nào, có phải hắn biết tôi ở đây không…”

“Tử Tần.” Lý Thư Bạch liếc gã.

Bấy giờ Chu Tử Tần mới tỉnh ngộ, nhận ra mình đã căng thẳng quá mức, dù Thôi Thuần Trạm biết gã là hung thủ, cũng không thể đến thẳng Quỳ vương phủ đòi người được.

Lý Thư Bạch quay sang nhìn Cảnh Hữu, hờ hững nói, “Mời Thôi đại nhân vào.”

Thôi Thuần Trạm rảo bước tiến vào, sau khi hành lễ với Lý Thư Bạch còn gật đầu chào hỏi Hoàng Tử Hà và Chu Tử Tần. Chu Tử Tầnđương nơm nớp, thấy hắn không quá chú ý đến mình, mới hơi vững dạ.

Nào ngờ Thôi Thuần Trạm đi thẳng vào đề, ngay câu đầu tiên đã nói, “Lần này đến cầu kiến, hẳn vương gia đã biết ý định của ty chức. Tử Tần, Dương công công, lẽ nào hai vị cũng biết rồi?”

Chu Tử Tần giật thót, lắp bắp, “Đệ, đệ biết rồi…”

“Ồ, vậy có phải đệ cũng nghe nói…” Hắn nhìn Lý Thư Bạch, ngập ngừng chốc lát mới tiếp, “Nghe nói thi thể vô cùng quái dị, da thịt toàn thân đen sạm thối rữa, không nhận được mặt mũi nữa…”

Sắc mặt Chu Tử Tần càng tái nhợt, run run nói, “Đệ, đệ đã thấy rồi…”

“Gì cơ, Thì ra đệ đã xem qua thi thể rồi à?” Thôi Thuần Trạm thoáng kinh ngạc, rồi nói với vẻ thâm thúy, “Xem ra danh tiếng Tử Tần đã lừng lẫy cả kinh thành rồi, ngay đến chuyện thế này, trong cung cũng báo cho đệ tới xem trước.”

Hoàng Tử Hà và Lý Thư Bạch nhìn nhau, đều cảm thấy có phần không đúng lắm. Song Chu Tử Tần vẫn đương hồn phi phách tán, chưa thoát được nỗi kinh hoàng vì bản thân là hung thủ, chỉ đờ đẫn gật đầu.

“Tuy đệ thường kiểm nghiệm thi thể, nhưng đây cũng là lần đầu thấy cảnh này nhỉ? Sự tàn độc của hung thủ quả là độc nhất vô nhị, xưa nay chưa từng có!” Thôi Thuần Trạm lắc đầu than, “Đừng nói đệ, đến cả ta nghe thấy tin này cũng ngẩn người ra. Đây hẳn là vụ án tàn nhẫn đáng sợ nhất tại kinh thành trong vòng mười năm trở lại đây ấy. Tử Tần, hình như đệ cũng nghiên cứu khá sâu về độc dược, có nhận ra được là loại độc gì không?”

Chu Tử Tần há miệng, song một lúc lâu cũng không thốt ra được nửa lời.

Hoàng Tử Hà đang định đạp chân gã thì nghe thấy Lý Thư Bạch bên cạnh thong thả lên tiếng, “Tử Tần đến tìm ta cũng vì việc này, cho rằng hung thủ đã dùng nhựa cây độc tiễn.”

Thôi Thuần Trạm gật đầu, “Ty chức biết ngay Tử Tần sẽ phát hiện được mà.”

Chu Tử Tần lại lộ ra vẻ nơm nớp, nét mặt như muốn nói “Tôi có liên quan đến chuyện này, là tôi có tật giật mình.”

Hoàng Tử Hà hậm hực trừng mắt nhìn cái gã chẳng nên thân ấy, thầm nhủ, chúng ta cũng là kẻ bị hại, sao lúc này ngươi không thể vờ làm bộ thản nhiên kia chứ? Nếu bây giờ bịdính líu vào, thì về sau làm sao điều tra tìm ra hung thủ thực sự được?

Trái lại, Lý Thư Bạch quay sang nhìn Thôi Thuần Trạm hỏi, “Phát hiện di thể Vương Nhược ở đâu vậy?”

Hoàng Tử Hà không ngờ y lại hờ hững hỏi một câu như thế, chẳng buồn rào đón mà đi thẳng vào đề, không khỏi nghiêng đầu nhìn sang, thấy nét mặt y tuy có phần nghiêm trọng song ánh mắt vẫn lạnh nhạt, chẳng mảy may xao động, khiến cô thấy lòng lạnh hẳn đi.

Câu này của Lý Thư Bạch vừa thốt ra, Chu Tử Tần lập tức nhảy dựng lên, “Gì, gì cơ? Vương Nhược… Vương cô nương vừa mất tích bí ẩn trong cung đã chết rồi ư? Còn tìm thấy cả di thể?”

Thôi Thuần Trạm ngạc nhiên nhìn gã, “Nãy giờ chẳng phải chúng ta đang nói chuyện này ư?”

“Đệ… chuyện đệ nói…” Chu Tử Tần khó mở lời, cứ lúng túng mãi không dám nói tiếp.

Hoàng Tử Hà đành đỡ lời, “Thực ra trước khi Thôi đại nhân tới, chúng tôi đang thảo luận về cái chết ly kỳ của mấy tên ăn mày trong kinh.”

Thôi Thuần Trạm xua tay, “Giờ ai còn quan tâm tới cái chết của mấy tên ăn mày được chứ! Thân thích của hoàng hậu mất tích rồi chết thảm trong cung, phen này Đại Lý Tự đừng hòng được yên thân!”

Chu Tử Tần lí nhí nói, “Ăn mày cũng là người mà, huống hồ lại là ba bốn mạng người… ai da!”

Là Hoàng Tử Hà đá gã một cái, ý bảo tạm thời đừng dẫn lửa tự thiêu. Gã đành ngậm miệng lại.

Thôi Thuần Trạm lại nói, “Vừa nãy các vị không thảo luận chuyện này, tai sao vương gia lại biết ty chức đang nói tới Vương cô nương?”

“Khắp thiên hạ này, còn chuyện gì khiến trong cung phải gọi người đến khám nghiệm, lại phái ngươi tìm ta trước nhất nữa chứ?” Lý Thư Bạch điềm nhiên giải thích.

Huống hồ từ lúc bước vào còn giấu đầu hở đuôi, ra sức tỏ vẻ rầu rĩ thông cảm, ai mà không biết đại nhân muốn biểu đạt cái gì chứ? Hoàng Tử Hà mắng thầm.

“Nói vậy là… Thì ra nãy giờ chúng ta ông nói gà bà nói vịt ư?” Cuối cùng Chu Tử Tần đã định thần lại, tử khí trên mặt cũng tan đi, con ngươi bắt đầu chuyển động.

Thôi Thuần Trạm gật đầu đáp, “Đúng thế, xem ra mọi người đều hiểu lầm rồi. Thảo nào, ta còn thấy lạ, sao đệ có thể đi khám nghiệm thi thể vương phi trước cả ta chứ?”

Trong bốn người, chỉ mình Hoàng Tử Hà bình tĩnh hỏi vào việc chính, “Xin hỏi Thôi đại nhân, di thể Vương cô nương được tìm thấy ở đâu vậy?”

“Kể ra chắc các vị không tin.” Thôi Thuần Trạm cau mày, “Đêm hôm qua, di thể đột nhiên xuất hiện ở gác Đông điện Ung Thuần cung Đại Minh.”

“Cái gì?” Chu Tử Tần lại nhảy dựng lên, “Cô ấy, cô ấy chẳng phải đã mất tích từ đó sao?”

“Đúng thế, bên đó vì xảy ra chuyện nên những đồ bài trí bên trong vẫn giữ nguyên. Sáng nay, các hoạn quan đến mở cửa ra, thình lình phát hiện thi thể Vương cô nương nằm trên giường, còn nguyên quần áo trang sức như lúc mất tích, song cả người đã đen sạm thối rữa, trúng độc mà chết.”

Hoàng Tử Hà cau mày im lặng.

Chu Tử Tần ngạc nhiên nói, “Quả là chuyện lạ trong thiên hạ… Rõ ràng người đã mất tích, sao đột nhiên lại xuất hiện, hơn nữa còn thần không hay quỷ chẳng biết biến mất, rồi lại thần không hay quỷ chẳng biết xuất hiện…”

“Đúng thế, tựa hồ trước giờ cô ấy vẫn ở đó, chưa từng mất tích vậy, chỉ là trong hai ba hôm ấy đã biến thành thứ gì đó chúng ta không trông thấy được.” Thôi Thuần Trạm lắc đầu than, “Vụ án này bắt tay vào e là khó đây…”

Lý Thư Bạch đứng dậy ra cửa gọi Cảnh Dục đến giúp y thay đồ, chuẩn bị vào cung đến điện Ung Thuần.

Hoàng Tử Hà cũng chỉnh đốn lại trang phục, nghi hoặc hỏi, “Trên đời sao có thể có thứ gì không nhìn thấy được chứ?”

Thôi Thuần Trạm cười đáp, “Hẳn là phải có, bằng không sao hơn hai trăm người tìm không ra?”

Chu Tử Tần vội nói, “Tôi về nhà lấy mấy món đồ, các vị nhất định phải đợi tôi nhé, cho tôi vào cung với!”

Lý Thư Bạch phớt lờ gã, xăm xăm đi thẳng ra ngoài, chỉ buông một câu, “Đừng nhiều chuyện, tốt xấu gì cũng là thiên kim nhà họ Vương, sao có thể để ngươi động dao kéo vào di thể chứ.”

Chu Tử Tần nằn nì, “Vậy tôi đi theo xem có được không?”

Lý Thư Bạch hất cằm về phía Thôi Thuần Trạm, “Đại Lý Tự của Thôi đại nhân chẳng phải thường nhờ người khám nghiệm hiện trường ư? Giờ nhờ thêm một lần có sao?”

Thôi Thuần Trạm lập tức vẫy tay với gã, “Đến đây, Tử Tần, xe ngựa của ta đậu ngay cửa ngách này.”
 

Cam Miên

đậu phụ của hòa thượng
Thành viên BQT
Mod - Sưu Tầm
Mod - Công Viên Xanh
Tham gia
13/4/19
Bài viết
1,457
Điểm cảm xúc
976
Điểm
113
Hai cỗ xe ngựa dừng lại ở cửa mé Đông cung Đại Minh, xuống xe bước qua cửa là thấy điện Ung Thuần nằm một góc cung. Song cửa điện không mở ở phía này, họ phải men theo bức tường cao ngất rẽ sang phía Tây, hết tường phía Nam lại rẽ về phía Bắc đi tiếp. Bên đó mở một ô cửa ngách để người ra vào.

Điện Ung Thuần trước đây vốn dùng làm nhà kho trong cung nên rất kín cổng cao tường, chỉ mở một cửa ngách phía Tây và một cửa chính ở mặt Bắc. Nào ngờ vì kín đáo tối tăm nên những thư họa gấm lụa cất bên trong càng dễ mối mọt, đành phải bỏ cả đi, lại đặt hai hòn giả sơn thấp trong sân, hòng làm giảm bớt vẻ cứng nhắc của một gian nhà kho, chuẩn bị cho người vào ở.

“Ngờ đâu chỗ kín đáo nhất trong cung lại không phòng chống nổi một lời đồn. Ôi chao, quả là trời cao trêu người mà.” Thôi Thuần Trạm vừa nói vừa dẫn ba người vào trong, chợt họ nghe thấy tiếng ầm ĩ, dường như bên trong có người đang tranh luận.

Qua cửa là tới đại sảnh, liền trông thấy mấy người nhà họ Vương đang tranh cãi. Nhìn qua Hoàng Tử Hà đã nhận ra ngay Vương Uẩn, bên cạnh là cha y, Hình bộ thượng thư Vương Lân.

Chỉ nghe Vương Uẩn nói, “Vương Nhược là con gái họ Vương chúng ta, vốn đã định sẽ là Quỳ vương phi, lại là một thiếu nữ chưa xuất giá, muôn phần cao quý, sao có thể để ngỗ tác mổ xẻ thi thể chứ? Việc này nhất định không được!”

Vương thượng thư rầu rĩ đáp, “Con cũng biết đấy, cha con là thượng thư bộ Hình, về lý về pháp, người chết bất đắc kỳ tử đều phải kiểm tra di thể thật kỹ, huống hồ việc này liên can rất rộng, ảnh hưởng lớn như thế, nếu chúng ta không tra xét thêm, chẳng những khó ăn nói với triều đình mà còn không biết giải trình ra sao với Quỳ vương phủ nữa.”

“Lẽ nào vương phi tương lai bị người ta mổ xác khám nghiệm, soi ruột moi gan, lại làm Quỳ vương gia mát mặt ư? Chuyện này dù kẻ nào đồng ý, con nghĩ hoàng hậu cũng quyết không ưng thuận! Không tin bây giờ con sẽ đi tìm hoàng hậu.”

Vương Uẩn hùng hổ nói, chẳng hề nể mặt cha mình, đang định phất tay mà đi, chợt quay đầu trông thấy bọn Lý Thư Bạch đứng ngay hành lang đại sảnh, không khỏi sững người ra.

Hiếm hoi lắm mới thấy Lý Thư Bạch mỉm cười, đi về phía họ, miệng nói, “Kẻ hiểu ta chỉ có Vương Uẩn vậy, đương nhiên ta không đồng tình để ngỗ tác đụng vào di thể Vương Nhược, nên đã dẫn tới đây một nhân tuyển tốt nhất rồi.”

Bọn Vương Uẩn vội hành lễ tham kiến y. Lý Thư Bạch tỏ ý bảo Chu Tử Tần khám nghiệm thi thể, đồng thời giới thiệu, “Người này hẳn các vị đều biết, chính là công tử của Chu Tường Chu thị lang đại nhân, có nghề khám nghiệm, là ta bảo gã theo tới, cũng không dùng công cụ, chỉ quan sát xem nguyên nhân cái chết thôi.”

Vương Lân vội nói, “Vẫn là vương gia suy nghĩ chu đáo.”

Chu Tử Tần cáo lỗi với tất cả thân tộc nhà họ Vương rồi dẫn Hoàng Tử Hà vào gác Đông điện Ung Thuần.

Trong gác Đông, mọi thứ vẫn y nguyên như hôm xảy ra chuyện, tuy đã bị lục soát kỹ, song những kẻ lục soát đều tâm niệm rằng đây là hoàng cung nên sau khi tìm kiếm lại ra sức khôi phục nguyên trạng.

Nhưng thiếu nữ nằm giữa khung cảnh ấy, dung mạo đã thay đổi hoàn toàn. Trên mình nàng vận một chiếc áo vàng, tóc búi lỏng, chân xỏ đôi giày bằng lụa trắng, trang phục y như khi mất tích.

Song da thịt toàn thân đã tím tái thối rữa, máu đen lênh láng, chẳng nhận rõ được đường nét khuôn mặt, cũng không cách nào nhìn ra vẻ kiều diễm như đào như mận từ thi thể ấy nữa.

Hoàng Tử Hà lặng lẽ nhìn nàng, chợt trong đầu thoáng qua hình ảnh đóa khởi lưu ly cài bên mai nàng hôm ấy, hoa cùng người soi vào nhau.

Có điều, chỉ ngây ra một thoáng, cô đã mím môi bước đến bên giường, nơi thi thể đang nằm.

Chu Tử Tần kéo ghế ngồi xuống, rút trong người ra một đôi găng bằng da cực mềm cực mỏng đeo vào, đoạn cúi xuống, nâng mặt nàng lên nhìn kỹ.

Dẫu Hoàng Tử Hà đã trông thấy nhiều thi thể, cũng không cách nào bình tĩnh trước một gương mặt sưng phù, bê bết máu đen thế này, cô quay đầu đi, song vẫn không quên hỏi, “Chẳng phải công tử không mang dụng cụ ư? Đôi găng tay này cầm theo từ bao giờ vậy?”

“Sáng nay lúc ra cửa. Nghe nói ngoài phố có án mạng, hình như bị trúng độc chết, ta bèn vơ vội lấy nó, nào ngờ bấy giờ không dùng đến, mãi đến giờ mới dùng.” Chu Tử Tần vừa nghiêm nghị giảng giải cho cô, vừa cúi xuống xem xét kỹ thất khiếu thi thể, lại vạch miệng ra xem răng lưỡi, “Khi kiểm nghiệm thi thể trúng độc, đặc biệt là loại kịch độc thế này, lỡ như trong lúc kiểm nghiệm bị xây xước, máu độc sẽ dây vào, đến chừng đó thì gay to, bởi vậy buộc phải đeo găng tay.”

Hoàng Tử Hà không muốn nghe những điều này, bèn hỏi, “Người chết mặc quần áo của Vương Nhược, vậy dáng dấp và tuổi tác thì sao, có khớp không?”

“Người chết ước chừng mười sáu mười bảy tuổi, thân hình thon thả mảnh khảnh, cao khoảng năm thước bảy tấc. Con gái cao như vậy khá hiếm, nên về cơ bản có thể coi là trùng khớp. Chẳng hay trên người Vương Nhược có nốt ruồi đen hay vết bớt gì không?”

“Để tôi nhớ xem….” Cô vắt óc hồi tưởng lại những lần tiếp xúc với Vương Nhược trước đây, “Nốt ruồi hay vết bớt thì không có, nhưng hình như cổ tay phải có một đốm tàn nhang, công tử xem có không?”

Chu Tử Tần kéo tay phải của nàng lên quan sát rồi tiu nghỉu đáp, “Da dẻ đã đen sạm lại, không thấy được gì cả, đừng nói tàn nhang, ngay nốt ruồi e rằng cũng không nhìn ra được nữa đâu.”

“Ừm.” Hoàng Tử Hà nhìn đôi tay sưng phù đen sạm kia, rầu rầu nhớ lại lần đầu tiên gặp Vương Nhược, trong xe ngựa, từng trông thấy đôi tay ngọc ngà nhỏ nhắn của nàng lộ ra dưới tay áo. Giờ đây, trước đôi tay khiến người ta không dám nhìn thẳng vào này, ngực cô cũng hơi thắt lại, “Đôi tay.. sao lại sưng phù ra nông nỗi này? Tay cô ấy trước kia nhỏ nhắn mềm mại ai thấy cũng phải ngưỡng mộ đấy.”

“Nhỏ nhắn ư?” Chu Tử Tần cầm bàn tay sưng tướng lên, sờ từ lòng bàn tay đến các ngón một lượt, “Không thể nào, xương bàn tay cô ấy, so với các thi thể phụ nữ ta từng khám nghiệm có thể coi là khá to, dù gì trước đây cũng chẳng thể coi là nhỏ được.”

Hoàng Tử Hà ồ lên kinh ngạc, quan sát đôi tay đã sưng phù đen sạm kia, tồi huých khuỷu tay vào vai Chu Tử Tần, “Tháo găng tay ra cho tôi.”

Chu Tử Tần nghi hoặc nhìn cô, “Làm gì thế?”

Hoàng Tử Hà không đáp, chỉ hất hàm, nheo mắt, Chu Tử Tần lập tức ngoan ngoãn cởi găng tay ra đưa cho cô.

Tuy là loại găng da bó sát, nhưng găng tay đàn ông dù sao cũng khá to, Hoàng Tử Hà đeo vào lại thành hơi rộng, song cô bất chấp, cứ thế sờ nắn đôi tay thi thể, còn so cả với tay mình - hiện tượng sưng phù thường chỉ phình ngang chứ ngón tay không thể dài ra quá nhiều, song ngón tay xác chết so với đôi tay khá to từng được Trần Niệm Nương khen rằng rất hợp để gảy đàn của cô còn dài hơn một chút.

Chu Tử Tần lải nhải, “Công công xem, tuy là đàn ông, song tôi đoán chắc công công đã tịnh thân khi còn rất nhỏ, nên tay còn nhỏ hơn cả cô ấy.”

“Tịnh thân thì liên quan gì tới việc tay to tay nhỏ.” Hoàng Tử Hà thầm nhủ, rồi nắn nắn xương tay mình qua lớp găng, sao đó nắn sang xương đối phương. Tuy bàn tay đã sưng phù lên rất khó sờ thấy xương, song cô cứ lần mò nắn thử từng tấc một, cuối cùng cũng sờ thấy một cục cưng cứng, chứng minh cho câu nói của Chu Tử Tần - xương bàn tay người này không hề nhỏ.

Chu Tử Tần lo lắng bảo, “Sùng Cổ, đừng dùng lực mạnh quá, da thịt đã thối rữa ra rồi, nếu bị nắn cho nát thì không hay đâu…”

Hoàng Tử Hà nghe nói vội lỏng tay ra, đoạn lật bàn tay lên xem có bị mình nắn nát hay chưa. Còn may, mới chỉ rách một chút bên dưới bàn tay, nơi đó vừa khéo lại có một lớp da mỏng trắng bệch, tuy bị cô nắn rách, song không chảy máu.

“Cái này hẳn là một lớp chai mỏng, nên dù có rách cũng không vấn đề gì. Huống hồ da thịt toàn thân đã thối rữa, rách chút miếng chai cũng không ai để ý đâu.” Chu Tử Tần nói, đoạn quan sát kỹ vị trí vết chai, thấy nó nằm ở mép bàn tay phía dưới ngón út, không khỏi cau mày, “Lạ thật, bấy nhiêu năm nay, đây là lần đầu tiên ta nghiệm thi thấy vết chai ở đây đấy.”

“Ừ nhỉ, theo lý thì khi bàn tay dùng sức, lực sẽ tập trung ở gan bàn tay, chỗ mép ngoài bàn tay này là khó mọc chai nhất.” Hoàng Tử Hà cũng nhìn kỹ lại, thấy trên đầu ba ngón giữa bàn tay trái và ngón cái bàn tay phải da dẻ đều hơi cứng, nghĩ ngợi hồi lâu, làm ra đủ loại tư thế nào viết chữ, thêu hoa, giặt và hồ áo hay dùng chày đập áo, vẫn không kết luận được.

Chu Tử Tần nhận lấy đôi găng cô cởi ra, nhận xét, “Trừ điểm này ra thì chẳng có điều gì đáng để ý nữa cả. Cô gái này xuất thân không tồi, tóc và răng đều bóng loáng, thân thể cũng không có dấu hiệu làm việc nặng. Hiện giờ cô ta mặc đồ của Vương Nhược xuất hiện ngay trong điện Ung Thuần, lại không thể nhận rõ dung mạo, nếu chúng ta nói rằng không phải Vương Nhược thì dường như không đủ chứng cứ thuyết phục…”

Hoàng Tử Hà nhanh nhảu, “Để tránh đánh rắn động cỏ, công tử cứ ghi vào sổ khám nghiệm trước đi, nhưng không được nói thẳng ra, chỉ nói là người chết thôi.”

Hai người mở cửa, bước ra đại sảnh gặp những người đang đợi.

Chu Tử Tần hành lễ với mọi người rồi cầm hồ sơ khám nghiệm trong tay, nhưng chỉ chọn đọc lên mấy câu sơ lược, “Nghiệm thấy, người chết là phụ nữ, thân cao năm thước bảy tấc, diện mạo không rõ, da thịt toàn thân đem sạm phù thũng, máu đen vấy khắp người. Răng lợi đủ cả, tóc bóng mượt dài đến gót chân, toàn thân không có vết thương, hẳn do trúng độc mà chết.”

Vương Lân xót xa than thở, “Thực đáng hận, đáng hận quá! Ai ngờ cháu gái tôi lại chết oan chết uổng ngay giữa hoàng cung thế này…”

Phía sau, hai người huynh đệ của Vương Nhược từ Lang Gia tới chuẩn bị tham dự hôn lễ cũng buồn bã ra mặt. Người lớn hơn hỏi, “Chẳng hay nguyên nhân cái chết của tiểu muội ta là…”

“Chết vì nhựa cây độc tiễn.” Chu Tử Tần đáp.

“Cây độc tiễn ư…” Mọi người chưa ai nghe qua cái tên này, chỉ mình Vương Uẩn lên tiếng hỏi, “Lẽ nào là loại độc mà dân Nam Man vẫn gọi ‘kiến huyết phong hầu’?”

“Đúng thế, trong kinh rất hiếm thấy.” Có điều tối qua cũng có mấy người chết vì nó. Chu Tử Tần liếc Hoàng Tử Hà, thấy cô không có ý nói rõ với họ, đành ngậm miệng không nói tiếp nữa.

Chẳng bao lâu sau, hoàng hậu cũng đích thân đến. Nhìn từ cửa sổ vào, vừa trông thấy xác chết trên giường, hoàng hậu đã phải quay ngoắt đi, nữ quan Trường Linh phía sau vội đỡ ngay lấy mới khỏi ngã lăn xuống đất. Hoàng hậu loạng choạng bưng mặt đi thẳng, không nói một lời.

Trường Khánh dẫn theo một toán người ở hậu đình tới thu dọn di thể, cả đám cứ lẳng lặng mà làm. Lát sau, xe ngựa nhà họ Vương chở quan tài đi khỏi, Lý Thư Bạch còn đứng ở cửa cung đưa mắt nhìn theo.

Chu Tử Tần chạy về xe của Thôi Thuần Trạm, Hoàng Tử Hà kéo thớt ngựa đã chuẩn bị sẵn toan trèo lên, chợt nhìn qua cửa sổ, bắt gặp ánh mắt của Lý Thư Bạch trong xe, cô đành rụt chân khỏi bàn đạp, chui vào xe ngựa, chiếu lệ ngồi xuống chiếc ghế thấp mọi khi.

Xe ngựa chạy thẳng về phía phường Vĩnh Gia.

Dọc đường Lý Thư Bạch chẳng buồn nhìn cô lấy nửa con mắt, chỉ dùng ngón tay miết nhẹ lên chiếc bình lưu ly đựng con cá kia, khiến con cá nhỏ trong bình liên tục xòe cái đuôi như sa mỏng đuổi theo ngón tay y.

“Ta đã nghe kết quả nghiệm thi rồi, còn gì chưa nói ra không?”

Hoàng Tử Hà ngồi trên ghế thấp, chống cằm ngắm nghía con cá nhỏ, đáp lời, “Quả là chết vì nhựa cây độc tiễn, thời gian tử vong vào tối qua, song khác với mấy tên ăn mày kia, cổ họng của cô ấy không sưng phù bằng bên ngoài, bởi thế chất độc gây ra cái chết không phải được cho vào thức ăn, mà hẳn là thấm qua vết thương bên ngoài - nếu Chu Tử Tần được phép giải phẫu thi thể, có lẽ sẽ khẳng định được chắc chắn hơn.”

“Nếu là vết thương bên ngoài, thì bị thương ở đâu?”

“Đây cũng là một điểm lạ lùng, tuy toàn thân sưng phù rữa nát, song không có dấu vết bị thương bởi vật sắc nhọn. Theo sự biến màu của da thịt, thì khả năng lớn nhất là chất độc lan từ tay phải ra khắp toàn thân.”

“Tay phải ư?” Lý Thư Bạch ngẫm nghĩ, “Nhựa cây độc tiễn dây phải da thịt liệu có ngấm vào làm chết người không?”

“Không thể, bởi thế người chết trúng độc thế nào, vẫn chưa giải thích được.”

Ánh mắt Lý Thư Bạch chuyển từ con cá nhỏ sang mặt cô, đột nhiên hỏi, “Trước đây, khi cha mẹ ngươi qua đời, ngươi cải trang nam nhi trốn khỏi đất Thục, dọc đường… không ai nghi ngờ ngươi là nữ ư?”

Hoàng Tử Hà đương chống cằm ngắm cá cũng ngạc nhiên, chẳng hiểu sao y lại nhắc tới chuyện này, “Không có, từ nhỏ tôi cũng thường mặc đồ nam theo cha ra ngoài tra án, đã gặp đủ hạng người, dọc đường chạy trốn tuy vất vả khổ sở, song không có gì nguy hiểm.”

Y không đáp lại vẻ nghi hoặc của Hoàng Tử Hà, chỉ chăm chú nhìn cô. Thiếu nữ vận y phục hoạn quan đỏ rực gập gối ngồi trên ghế thấp, tay phải chống má, đăm đăm nhìn y, đôi mắt trong veo như hạt sương sớm đọng trên nhụy phù dung. Xe ngựa không ngừng tròng trành khiến đôi mi cô thỉnh thoảng lại chớp khẽ, cặp mắt như sương mai thoáng lay động tựa đóa sen rung rinh trước gió, thoáng chốc đã thấy hào quang rợp rợp.

Khóe môi thường mím chặt của y bất giác hơi nhếch lên.

Hoàng Tử Hà ngơ ngác sờ mặt, còn đương nghi ngại thì y đã quay đi, chẳng buồn uốn nắn thế ngồi quá giống thiếu nữ của cô, chỉ hỏi, “Trừ điểm này ra, trên thi thể còn dấu vết gì không? Nói cách khác, cái xác đó có phải Vương Nhược không?”

Hoàng Tử Hà thoáng ngạc nhiên, “Vương gia chưa từng thấy thi thể mà cũng nghĩ vậy ư?”

“Ta tin rằng bất cứ điều gì cũng có nguyên nhân. Cố ý dùng nhựa độc tiễn khiến thi thể thành ra kinh khủng như thế, không thể nhận rõ dung mạo, nhất định là muốn giấu giếm chuyện gì đó.”

“Vương gia đoán không sai, cái xác đó không phải Vương Nhược, vì tuy da dẻ đã không phân biệt được nữa, song xương cốt không thể làm giả được, xương bàn tay người đó to hơn Vương Nhược nhiều.” Hoàng Tử Hà giơ tay phải ra, lật lòng bàn tay lên nhìn, “Còn một việc nữa tôi nghĩ không ra, là vết chai phân bổ trên tay người đó - trên đầu ba ngón giữa tay trái, ngón cái tay phải và dọc theo mép bàn tay phải, chỗ này này…”

Cô trỏ lên tay mình cho Lý Thư Bạch xem, “Mép bàn tay bên dưới ngón út có một lớp chai mỏng, tuy thường ngày có thể không nhìn thấy, nhưng da chỗ này hơi cứng hơn các chỗ khác.”

“Thường làm động tác sử dụng tới vị trí đó, thực là hiếm thấy.” Lý Thư Bạch xòe bàn tay thon dài trắng trẻo của mình ra, rồi nắm tay lại, làm ra vài tư thế, vẻ trầm ngâm.

Hoàng Tử Hà vội hỏi, “Vương gia có manh mối gì chăng?”

“Vừa rồi, dường như có một động tác thoáng qua trước mặt, song giữa lúc vội vàng không nhớ ra được.” Y cau mày đáp, rồi buông tay ra, “Điểm lớn nhất của vụ án này hiện giờ, có lẽ là hai chữ ‘ẩn hình’.”

Hoàng Tử Hà gật đầu tán thành, “Gã đàn ông đột nhiên xuất hiện rồi biến mất trong chùa Tiên Du, Vương Nhược mất tích ngay trước mắt chúng ta, giữa vòng vây của lớp hộ vệ, thậm chí vết thương không tồn tại trên tay cái xác kia, đều là thứ không thấy được, cũng là câu đố ẩn hình nan giải.”

“Thực ra có lúc mọi chuyện cũng như trò ảo thuật vậy, chỉ là ra tay từ góc độ người thường không nghĩ tới mà thôi, rõ ràng là một màn kịch giản đơn, song người xem vì đầu óc không lắt léo nên không sao đoán được chân tướng. Còn một khả năng nữa là…” Lý Thư Bạch nói, đoạn cầm chiếc bình lưu ly trên bàn lên, soi ra cửa sổ.

Trong ánh nắng rọi qua rèm, bình lưu ly trong vắt cùng làn nước chớp mắt đã biến mất, giữa lúc ngỡ ngàng, Hoàng Tử Hà chỉ thấy trên tay Lý Thư Bạch là con cá nhỏ đang nhởn nhơ bơi lượn giữa không trung, chẳng khác nào ảo ảnh.

“Một khả năng nữa, chính là cô ta đang sờ sờ ngay trước mắt chúng ta, chỉ vì góc độ và cảm giác khiến chúng ta mất đi sức phán đoán, ngỡ rằng cô ta không tồn tại.”

Hoàng Tử Hà ngắm nghía con cá nhỏ, thở dài lẩm bẩm, “Trong số những vụ án tôi từng gặp đến giờ, chưa có vụ nào nhiều manh mối, manh mối rối rắm và khó bắt tay vào như vụ này.”

“Nào chỉ có thế. Ngươi cứ tiếp tục tra đi, rồi sẽ phát hiện mạch nước ngầm đằng sau vụ án này còn đáng sợ hơn gấp bội.” Lý Thư Bạch đặt chiếc bình lưu ly trong tay xuống bàn, khóe môi lộ ra nụ cười như có như không, “Vụ này liên quan đến cả thế lực mạnh yếu của hoàng hậu tại hậu cung và trong triều đình, sự vinh nhục thịnh suy của nhà họ Vương Lang Gia, sự tồn vong của chi họ Ích vương, bè đảng tàn dư của phản tặc Bàng Huân, thậm chí…”

Nói đến đây, y ngừng lời, chăm chú nhìn con cá, nét mặt rõ ràng vẫn bình thản như mọi khi, song lại toát lên một áp lực vô hình khiến Hoàng Tử Hà thấy ngực mình nghẹn lại, hít thở cũng khó khăn.

Nhìn gương mặt nghiêng nghiêng của y, cô thầm nghĩ, thậm chí gì chứ? Còn có thứ gì vượt lên cả những thế gia đại tộc, hoàng thân quốc thích, phản tặc dư nghiệt mà y vừa liệt kê ư? Thứ cao không thể với ấy, rốt cuộc là gì?

Lại nhìn con cá nhỏ xíu tưởng chừng chỉ dùng hai ngón tay là đủ bóp chết kia, cô chợt nhớ đến lần đầu tiên gặp Lý Thư Bạch, những lời y nói khi cô bình luận về nó…

Ngươi có biết chuyện này ngay cả đương kim hoàng thượng cũng nói rõ không thể can thiệp, vậy mà ngươi dám ôm vào người, còn nói rằng mình giải quyết được ư?

Hoàng Tử Hà chăm chú nhìn con cá nhỏ vô tri. Sinh vật luôn được Lý Thư Bạch đem theo bên mình này, rốt cuộc có lai lịch gì, liên quan tới bí mật thế nào?

Ánh mặt trời rọi qua rèm xe, chiếu lên mặt Lý Thư Bạch. Nhìn nghiêng, gương mặt y nét nào ra nét ấy, lộ rõ hình khối, không hề bị nhạt nhòa dưới nắng như chiếc bình lưu ly kia. Y ở phía sau ánh dương, gương mặt thường ngày thanh nhã hào hoa lại rạng rỡ cuốn hút khác thường, khiến người ta lóa mắt.

Cô ngồi giữa cỗ xe lắc lư tròng trành, lặng lẽ nhìn Lý Thư Bạch, chợt thấy lòng hoang mang trước ý trời thâm sâu khó đoán.

Quỳ vương phủ.

Gác Ngữ Băng.

Một tờ giấy dài bảy thước rộng một thước tám, bên trên viết chi chít những con chữ nhỏ trải ra trước mặt hai người.

“Đây chắc là hầu hết các manh mối trong vụ án này.” Hoàng Tử Hà nói.

Lý Thư Bạch đứng trước bàn, xem lần lượt từng điều.

Thân phận của Vương Nhược: thiên kim thế gia, song lại do một cầm sư ở Vân Thiều Uyển hộ tống lên kinh, hơn nữa từ nhỏ còn theo người ở giáo phường học những khúc nhạc diễm tình.

Cái chết của Phùng Ức Nương: người bạn cũ của bà ta là ai, vì sao lại chết trong đám dân U Châu lưu lạc, Vương Nhược có biết không.

Lời tiên đoán ở chùa Tiên Du: gã đàn ông kia sao có thể tùy tiện đi lại giữa vòng vây hộ vệ trùng trùng, gã có thân phận gì, quá khứ của Vương Nhược không thể để người khác biết mà gã ám chỉ là gì, mũi tên bắn chết Bàng Huân tại sao lại xuất hiện.

Điện Ung Thuần: kẻ ngang nhiên hành thích Vương Nhược ngay trong hoàng cung là ai, Vương Nhược đã biến mất trước mắt mọi người như thế nào, lai lịch và dụng ý của nửa thoi bạc xuất hiện bên dưới ly trà.

Cái chết của đám ăn mày trong kinh: có liên quan đến vụ án này không? Vì sao họ lại chết cùng lúc, thậm chí trúng cùng một loại độc với thi thể cô gái xuất hiện trong điện Ung Thuần.

Cái xác giả mạo: thân phận thực sự của cô gái này, vết thương gây trúng độc và vết chai kỳ lạ trên bàn tay, cái xác làm thế nào xuất hiện tại đúng nơi Vương Nhược mất tích, ai muốn dùng nó để giả mạo thi thể Vương Nhược.

Lý Thư Bạch xem một lượt rồi bỏ tờ giấy vào lò hương đốt đi, sau đó mới quay lại ghế ngồi, “Thử lý giải những người có động cơ và bị tình nghi xem.”

Hoàng Tử Hà ngập ngừng nói, “Nếu nhìn vẻ ngoài mà suy thì người đầu tiên chính là Kỳ Lạc quận chúa. Cô ấy có động cơ, việc cô ấy đem lòng ngưỡng mộ gia cả kinh thành đều biết. Cô ấy cũng có thời gian nữa, hôm Vương Nhược mất tích, cô ấy đang ở trong cung.”

Lý Thư Bạch cười, vẻ không để tâm, “Còn ai nữa?”

“Người thứ hai là Ngạc vương gia. Người đến chợ Tây học lấy ngón ảo thuật không biết có phải Ngạc vương hay không, tuy động cơ thu nhận Trần Niệm Nương có thể giải thích được, song dường như có hơi trùng hợp quá.”

“Người khác?”

“Thứ ba, tàn dư của loạn đảng Bàng Huân, mượn cơ hội này ra tay báo thù vương gia.”

“Ai nữa?”

Hoàng Tử Hà do dự hồi lâu mới đáp, “Những người bất đồng chính kiến với gia trên triều hoặc có ý lấn lướt gia.”

“Nói vậy thì có cả một đống kẻ tình nghi.” Lý Thư Bạch lại lộ ra vẻ mặt như cười mà không phải cười, thong dong hỏi, “Không còn ai khác ư?”

“Còn mấy phán đoán nữa, nhưng khả năng rất thấp, ví như kẻ thù của Vương Nhược ở Lang Gia hoặc của Phùng Ức Nương ở Dương Châu chẳng hạn.”

“Nhưng trong vụ này, những dấu hiệu nhằm vào ta vẫn nhiều hơn, đúng không?”

“Phải.” Hoàng Tử Hà gật đầu, “Vậy mới nói khả năng những kẻ gây thù chuốc oán với họ trước đây đuổi theo đến tận kinh thành là rất thấp, càng không thể ra tay trong cung được.”

“Liên quan đến chân tướng vụ án này, còn một khả năng nữa mà ngươi chưa nhắc tới.” Lý Thư Bạch ngả người ra lưng ghế nhìn cô, khóe môi hơi cong lên.

Hoàng Tử Hà ngạc nhiên, thầm duyệt lại tình tiết vụ án một lượt rồi hỏi, “Chẳng biết… tôi bỏ sót điều gì?”

“Chính là điều mà tất cả người trong kinh đều nhất trí, đây là do ma quỷ gây ra.” Lý Thư Bạch khoanh tay dựa vào ghế, nụ cười lạnh lẽo càng lộ rõ, “Không phải sao, Bàng Huân bị ta bắn chết, nhất định muốn thực hiện lời nguyền trên lá bùa kia lên ta, bởi vậy trước tiên mới để lại đầu mũi tên trong chùa Tiên Du nhằm đe dọa, sau đó lại cướp vương phi tương lai của ta đi giữa trùng trùng hộ vệ, cuối cùng đưa di thể vương phi đã chết thảm trở về chỗ cũ.”

“Không sai, nếu giải thích như vậy thì động cơ, cách thức, quá trình đều đầy đủ.”

“Nếu ngươi quả thực không tìm ra được chân tướng, thì cứ để Hình bộ và Đại Lý Tự kết án như vậy đi.”

Hoàng Tử Hà khẽ lắc đầu, “Tôi nhất định sẽ tra rõ chân tướng. Tên hung thủ này không những giết hại Vương Nhược mà còn liên lụy đến cả Phùng Ức Nương và bốn người ăn mày vô tội. Dù là vì Trần Niệm Nương, hay vì đám ăn mày không được bất cứ ai quan tâm, tôi cũng nhất định phải bắt được hung thủ. Huống hồ…”

Lý Thư Bạch nhìn cô, thấy vẻ mặt cô rất kiên định, ánh mắt không mảy may do dự, cặp mắt sáng rực chiếu thẳng vào y, giọng nói khàn đi vì mệt mỏi song vẫn cương quyết như chém đinh chặt sắt.

“Nếu không thể giúp vương gia phá vụ án này thì làm sao tôi về Thục rửa oan cho người nhà được?”

Lý Thư Bạch đương nhiên nhớ giao hẹn của Hoàng Tử Hà với mình, nên chẳng nói gì thêm nữa. Y chăm chú nhìn người thiếu nữ, song ánh mắt cô lại hướng ra phía chân trời xa tắp ngoài cửa sổ kia.

Dường như vừa nhớ ra điều gì, cô bỗng quay lại hỏi y, “Phải rồi, là bùa của vương gia giờ thế nào?”

“Ngươi đoán xem?” Y đứng dậy đến chỗ chiếc tủ phía sau lấy ra một hộp vuông nhỏ.

Chiếc hộp hoàn toàn không có khóa ngoài, song trên nắp lại có chín chín tám mươi mốt ô vuông xếp thành tám mươi ô chữ, bên trên viết những con chữ tán loạn.

Hoàng Tử Hà biết đây là khóa cửu cung, phải xếp tám mươi chữ kia vào vị trí chính xác mới mở được hộp, bằng không chỉ còn cách phá hộp.

Cô bèn quay đầu đi, giữ ý không nhìn Lý Thư Bạch sắp chữ mở hộp. Đợi chiếc hộp mở ra, Lý Thư Bạch thò tay vào trong rút ra một vật tròn tròn nho nhỏ thuôn thuôn. Y đặt vật hình bán nguyệt đó lên bàn. Nửa trên quả cầu có những vết nứt nho nhỏ, như quả trứng tỉa thành hình hoa sen, phần dưới đáy tròn tròn, tổng cộng có ba vành khuyên, trên mỗi vòng đều có những mấu lồi be bé.

“Mỗi vòng trên chiếc khóa ba vòng này đều có hai mươi tư mấu lồi có thể xoay chuyển, chỉ khi nào xoay tất cả vào đúng vị trí chính xác mới mở được hộp ra, còn nếu cố tình cạy thì thứ bên trong sẽ nát vụn.” Lý Thư Bạch vừa điều chỉnh những mấu ngầm, vừa nói.

Xem ra, Lý Thư Bạch cất giữ lá bùa kia rất kỹ.

Ba vòng bên dưới xoay đến đúng vị trí, Lý Thư Bạch đặt chiếc hộp lên bàn, giơ tay ấn nhẹ vào nắp hộp, cơ quan bên trong chiếc hộp tròn như búp sen bắt đầu hoạt động, cả chiếc hộp rời ra từng mảnh như một đóa sen bằng gỗ chợt nở bừng trước mặt hai người.

Giữa lớp lớp cánh sen, lá bùa nằm ngay ngắn.

Tờ giấy làm bùa dày dặn, hơi ngả vàng, rộng hai tấc, dài tám tấc, trên nền hoa văn quỷ quái, ba chữ “côi”, “tàn”, “góa” vẫn tươi rói như vừa mới viết.

Vòng tròn màu máu quanh chữ “côi” vẫn đỏ rực, song khoanh tròn vốn đỏ thẫm quanh chữ “góa” đã mờ đi, chỉ còn vết hồng nhàn nhạt, giống như chữ “tàn” khi trước vậy.

Hoàng Tử Hà ngạc nhiên ngẩng lên nhìn Lý Thư Bạch.

Y khẽ phất hai tay, lập tức chiếc hộp tròn đang mở bung lại lần lượt cụp từng lớp cánh vào như lúc ban đầu, trở thành một hình bán nguyệt thuôn thuôn.

“Rõ quá còn gì, cuộc hôn nhân này đã bị hủy, hình như ta lại vừa thoát khỏi một kiếp nạn bị nguyền rủa.”

Lý Thư Bạch hờ hững đặt chiếc hộp thuôn thuôn vào bên trong chiếc hộp vuông, sắp loạn khóa cửu cung trên nắp hộp lên, rồi cất lại vào tủ, dáng vẻ vẫn ung dung điềm tĩnh.

Hoàng Tử Hà hỏi khẽ, “Lá bùa này xưa nay vẫn được cất kỹ ở đây ư?”

“Chẳng biết có kỹ chưa, ít ra ta cũng cực hiếm khi tiết lộ cho ai.” Y thong thả đưa mắt nhìn cô, “Có thể nói rằng, sau khi rời khỏi Từ Châu, trừ ta ra, ngươi là kẻ duy nhất trông thấy đấy.”

Lòng Hoàng Tử Hà bỗng dấy lên một con sóng lạ lùng. Ngẩng lên bắt gặp ánh mắt y, thăm thẳm mà sâu xa, như đang nhìn cô, lại như không phải nhìn cô. Y đang nhìn thứ gì đó xa xôi mà hư ảo, lại có lẽ, chỉ đang nhìn một thứ gần trong gang tấc mà xa ngoài tầm tay với.

Hoàng Tử Hà bất giác quay đi, né ánh mắt y, nhìn ra ngoài song như trốn tránh.

Trong gác Ngữ Băng chỉ nghe tiếng thở khe khẽ của hai người, vài tiếng ve rè rè lẫn vào tiếng chim kêu ngoài cửa sổ, khiến người ta chợt nhận ra xuân đã tàn mà hạ vừa mới chớm.

Hoàng Tử Hà đến phủ họ Chu ở phường Sùng Nhân. Ông già gác cửa nghe tiếng gõ vội mở ra ngay.

“Lão bá à, báo hộ với tiểu thiếu gia nhà các vị là có người đến tìm nhé, cứ bảo tôi họ Dương.”

Ông già mở cửa hối hả đi liền, mấy người khác bèn mời Hoàng Tử Hà ngồi rồi rót trà cho cô. Hoàng Tử Hà thản nhiên uống trà, nghe họ tán gẫu.

“Đồ đạc sắp xếp cả rồi chứ?”

“Rồi rồi, chỉ còn tháng nữa là đến ngày lão gia rời kinh, mọi thứ đều đã sắp xếp chu toàn cả.”

“Có điều gần đây hình như tiểu thiếu gia không được vui cho lắm.”

“Phải đó, lúc trước, khi được hoàng đế bổ nhiệm làm bổ đầu ở Xuyên Thục, chẳng phải tiểu thiếu gia vẫn hớn ha hớn hở, mừng rỡ ra mặt ư, sao thoáng cái đã rầu rĩ giam mình cả ngày trong phòng, chẳng buồn ra khỏi cửa nửa bước thế?”

Đương chuyện trò rôm rả thì tiểu thiếu gia Chu Tử Tần im hơi lặng tiếng bấy nay theo lời họ nhảy chân sáo đi ra, “Sùng Cổ đến rồi à!”

“Tiểu thiếu gia!” Đám canh cổng lũ lượt đứng dậy chào hỏi.

“Được rồi, đi hết đi.” Chu Tử Tần tùy ý xua tay, đoạn túm lấy Hoàng Tử Hà hỏi, “Có phải vụ án có tiến triển gì mới rồi không? Phải không phải không phải không?”

Hoàng Tử Hà lắc đầu, “Tìm công tử thảo luận chút thôi.”

“Vào đây vào đây.” Gã kéo tay cô xăm xăm đi vào trong, “Ta nghe nói trời đương nóng dần lên nên cái xác kia dù đặt trong hầm nước đá cũng không cầm cự nổi, bắt đầu rữa nát ra, vì thế hoàng hậu phải chính miệng bảo Quỳ vương, quyết định đợi tròn bảy ngày nữa, sau ba ngày sẽ phát tang ngay.”

“Ừm”. Hoàng Tử Hà theo gã vào phòng ngồi xuống xong xuôi mới nhỏ giọng bảo, “Bởi vậy tốt nhất là chúng ta phải tra ra chân tướng trong vòng ba ngày, chứ đợi thi thể được chôn cất thì việc điều tra càng phiền phức.”

“Nói vậy thì mấy người ăn mày bị ta hại chết kia vẫn chưa có manh mối gì ư…” Chu Tử Tần rầu rĩ, “Nhưng một vụ án rắc rối phức tạp thế này, sao có thể tra ra trong ba ngày chứ? Ngay cả Hoàng Tử Hà mà ta hết sức hâm mộ cũng chưa chắc làm được đâu…”

Khóe môi Hoàng Tử Hà giần giật mấy cái rất khẽ, gần như không thể thấy được, cô ho khan một tiếng rồi nói, “Quỳ vương dặn nếu trong ba ngày không thể tra ra được, thì trước hết đành tuyên bố rằng cái xác đó không phải Vương Nhược, miễn là chưa đậy nắp áo quan thì không thể kết luận, chúng ta vẫn có thể tranh thủ thời gian điều tra tiếp.”

“Điều tra ư! Tra thế nào đây, phải bắt tay từ chỗ nào, khởi nguồn manh mối ở đâu, ta chẳng biết gì cả…” Chu Tử Tần gãi gãi đầu, nhăn nhó nằm bò ra bàn, “Ôi, lúc này mà có Hoàng Tử Hà ở đây thì tốt, cô ấy nhất định sẽ tìm được manh mối có giá trị nhất rồi bắt tay vào…”

Hoàng Tử Hà cảm thấy khóe môi mình lại giần giật. Khó khăn lắm cô mới trấn tĩnh được, vỗ nhẹ vào góc bàn, “Được rồi, tôi và Quỳ vương đã xem xét vụ án này một lượt, hơn nữa còn đề xuất một hướng mà chúng ta cần phải điều tra ngay bây giờ.”

“Hướng nào?” Chu Tử Tần ngẩng lên.

“Cảnh Húc đã đến Từ Châu điều tra việc đầu mũi tên bắn Bàng Huân kia mất tích rồi, tới lúc đó nếu biết được vì sao mũi tên nọ lại xuất hiện trong chùa Tiên Du, có lẽ sẽ trở thành một manh mối quan trọng trong vụ án này.” Cô nói, đoạn rút ra nửa thoi bạc, đặt lên mặt bàn, “Còn thứ này, chính là manh mối mà chúng ta ở đây phải điều tra.”

“Bạc à? Còn là nửa thoi?” Chu Tử Tần cầm nửa thoi bạc lật qua lật lại xem xét chữ bên trên rồi hỏi, “Công công thiếu tiền à? Ta cho vay nhé!”

Hoàng Tử Hà nghẹn cả họng, đành trỏ nét chữ phía sau thoi bạc, “Xem đi.”

“Phó sử Lương Vi Đống… Nội khố sứ thần Trương Quân Ích, đúc bạc hai.” Gã đọc lên rồi thắc mắc, “Có vấn đề gì đâu?”

“Nhưng, trong những thoi bạc mà kho bạc đúc ra suốt bao năm nay, không hề có tên hai người này.”

“Thế là bạc tự đúc? Hoặc là đồ giả?”

“Nếu tự đúc đương nhiên sẽ ghi tên chủ nhân, cần gì phải mạo xưng là kho bạc? Cũng không phải đồ giả, rõ ràng là bạc ròng.” Hoàng Tử Hà nắm chặt thoi bạc, nghiêm mặt nhìn gã, “Quan trọng nhất là, nửa thoi bạc này được tôi và Quỳ vương phát hiện ở gác Đông lúc Vương Nhược mất tích. Bấy giờ nó được một chiếc chén úp lên, đặt trên bàn, Quỳ vương gia uống trà mới phát hiện ra.”

Chu Tử Tần mừng rỡ, “Quỳ vương gia quả không khác gì ta, ngồi ngay bên cạnh thi thể bê bết máu đen như thế mà vẫn có thể ung dung thưởng trà, đúng là người có cái nhìn toàn cục.”

Hoàng Tử Hà không nhịn được bèn nhắc nhở, “Bấy giờ cái xác còn chưa xuất hiện, Vương Nhược mới mất tích thôi.”

Chu Tử Tần chẳng buồn để ý mấy tình tiết đó, chỉ cầm thoi bạc lên hỏi, “Vậy theo công công sau đây chúng ta nên đi đâu?”

“Đương nhiên là đến bộ Lại tra danh sách các quan viên xưa nay, xem có tra ra hai người này không.”

Tri sự trực ban hôm nay ở bộ Lại cầm mẩu giấy Hoàng Tử Hà đưa, nhìn hai cái tên Lương Vi Đống, Trương Quân Ích trên đó, vẻ mặt khổ não như ngậm bồ hòn.

“Hai vị, ta đề nghị hai vị đừng đợi làm gì, mười ngày nửa tháng tra ra được đã là may lắm rồi.”

“Mười ngày nửa tháng á?” Chu Tử Tần trợn tròn mắt, “Lâu thế cơ à?”

Tri sự giơ tay trỏ căn nhà hai tầng bảy gian trước mặt, “Kia kìa, đó là hồ sơ lưu trữ về tất cả các quan viên từ khi bản triều khai quốc đến giờ, tuy cũng đã mất mát một ít, nhưng vẫn còn nhiều thế đấy. Đó mới chỉ là phòng đầu tiên thôi, vì không chứa hết được nên phía sau còn xây thêm ba căn như vậy nữa.”

“…” Hai người đứng đờ ra, cảm thấy làm thế này quả không phải là cách hay.

“Làm sao đây? Có cách nào để nhanh chóng tìm ra người chúng ta cần giữa bấy nhiêu tư liệu không?” Chu Tử Tần hỏi.

Hoàng Tử Hà nghĩ ngợi, rồi đột nhiên đi tới trước mặt viên tri sự kia đề nghị, “Phiền đại nhân giúp tôi tìm hồ sơ về các quan viên trong vòng mười năm nay ở Từ Châu.”

“Từ Châu à? Tư liệu về quan viên nơi này hình như không nhiều lắm.” Tri sự nói, đoạn gọi một tên tiểu lại tới, tiểu lại dắt họ tới gian thứ tư căn thứ hai, mở cửa nói, “Đây chính là hồ sơ quan viên Từ Châu từ xưa đến nay.”

Nhìn những giá sách đầy phè xếp thành hàng bên trong, không gian giữa các giá gần như không đủ để lách mình vào nữa, Chu Tử Tần trợn tròn mắt, lẩm bẩm, “Ta vẫn thấy… công trình này lớn quá đi mất…”

“Cảm ơn, tôi sẽ tìm thử xem.” Hoàng Tử Hà buông một câu, đoạn nhấc chân bước vào phòng.

Chu Tử Tần thấy cô đi thẳng về phía giá để hồ sơ của quan viên năm Hàm Thông thứ chín, bưng xuống một đống tư liệu về năm Đại Trung thứ nhất, lật nhanh đến phần những ngụy quan được Bàng Huân phong tước và bị triều đình xử lý sau này.

Trong phòng hơi tối, dưới ánh sáng từ ngoài song chênh chếch rọi vào, những hạt bụi dày đặc bay tản mác khắp nơi. Chu Tử Tần quay lại nhìn Hoàng Tử Hà, phấn vàng xoa trên mặt cô nhạt hẳn đi dưới ánh mặt trời, khiến làn da trắng muốt như ngọc ngời lên giữa lớp bụi bay mù mịt, hàng mi dài mà dày như đôi cánh bướm phủ lên cặp mắt tựa sương xuân.

Chu Tử Tần bỗng chốc ngây người, thầm nghĩ, chắc hẳn Dương Sùng Cổ đã tịnh thân từ khi còn rất nhỏ, bằng không làm sao có thể thuần khiết, dịu dàng uyển chuyển từ trong cốt cách đến thế kia. Bao nhiêu năm qua, gã từng gặp rất nhiều hoạn quan yểu điệu như thiếu nữ, song theo nghiên cứu của gã về xương cốt con người, thân thể Dương Sùng Cổ luông toát ra cảm giác gì đó khác lạ. Chu Tử Tần chăm chú ngắm chiếc cằm tròn đầy, cần cổ mảnh mai và đôi vai mềm mại, thầm nghĩ, nếu một ngày nào đó Dương Sùng Cổ chỉ còn bộ xương, nhất định mình sẽ lầm đó là xương phụ nữ.

Hèn chi trong kinh vẫn đồn rằng, Dương Sùng Cổ gần đây rất được Quỳ vương sủng ái, ra ngoài thì cùng xe, về phủ thì cùng phòng…

Nhưng ngay lập tức, gã vội kìm hãm tất cả liên tưởng về tiểu hoạn quan và Quỳ vương lại, lật đật bưng một chồng tư liệu về những năm Đại Trung lên lật xem.

Trong phòng bỗng chốc im phăng phắc, chỉ nghe tiếng giở sách loạt soạt. Giữa bầu không khí yên tĩnh ấy, Chu Tử Tần không kìm được lại quay sang nhìn Hoàng Tử Hà. Chỉ thấy ngón tay cô liên tục đưa sang phải, mỗi lần nhìn lướt được cả mười hàng, điểm qua tên tuổi và ghi chép về từng người, cuối cùng ngón tay cũng dừng lại ở một mục, cô xem kỹ trước sau rồi thở phào nhẹ nhõm, đẩy cuốn sách trong tay tới trước mặt gã, “Xem này.”

Chu Tử Tần chụm đầu lại xem, thì thấy bên trên viết:

Bàng Huân đặt kho bạc, phong ngụy quan. Nội khố chủ sử Trương Quân Ích, phó sử năm người, Lỗ Ngộ Hãn, Đặng Vận Hi, Lương Vi Đống, Tống Khoát, Nghê Sở Phát. Quỳ vương đều xóa bỏ, sung tất cả vàng bạc tự đúc vào kho bạc.

Hoàng Tử Hà ngẩng lên bảo gã, “Xem ra, thoi bạc này là do Bàng Huân cho đúc trong lúc định tự lập làm vương.”

Chu Tử Tần cầm cuốn sách kia đập bộp một cái làm bụi bay mù mịt, kêu ré lên vừa mừng rỡ vừa kinh ngạc, “Thì ra chuyện này là do đám tàn dư của Bàng Huân gây ra!”

“Dù là dư nghiệt của Bàng Huân, thì lấy cái gì chả được, sao phải để lại thoi bạc?”

“Lẽ nào chúng để lại tiền mua mạng ư?” Chu Tử Tần xoa cằm ngẫm nghĩ, “Nhưng đường đường vương phi sao chỉ đáng giá mười lạng được?”

Hoàng Tử Hà chẳng buồn để ý đến gã, chạy đi mượn giấy bút chép lại đoạn viết kia rồi nói, “Mặc kệ thế nào, dù sao cũng là một manh mối, về bẩm vương gia trước đã!”

Chu Tử Tần theo cô bước ra khỏi bộ Lại, bấy giờ đã gần đến giờ Ngọ, gã xoa bụng than thở, “Đói quá đi mất, ta mời công công đi ăn nhé!”

Hoàng Tử Hà ngần ngừ, “Tôi còn phải về bẩm lại với vương gia cho sớm…”

“Vương gia một mình kiêm mấy chức, ngày nào cũng bận bịu, giờ này nha môn chưa nghỉ, sao có thể về phủ đợi công công được?” Chu Tử Tần nói, đoạn khăng khăng kéo tay cô đi về phía chợ Tây, không để cô phân bua gì nữa, “Đi đi đi đi, ta biết một quán ngon cực, thịt bò chủ quán đó làm rất tuyệt! Công công có biết tại sao không? Vì hắn ta thái thịt ngang thớ, nên khi nấu ra mùi vị rất ngon! Lại nói đến thịt, ta thấy giết người cũng giống như giết gà giết lợn vậy, khi xuống dao phải rất chú ý, nếu cắt ngang thớ, làm đức cơ thịt thì vết thương vạch ra sẽ nở bung như hải đường trên cành, còn nếu cắt dọc thớ thì vết thương sẽ như mây trôi nước chảy, máu chảy ra cũng sẽ chảy dọc, chứ không bắn tung tóe khắp nơi…”

“Máu có bắn ra hay không, chủ yếu phải xem có cắt vào mạch máu không.” Hoàng Tử Hà ngắt lời gã, đoạn bồi thêm, “Nếu công tử còn nói thêm một câu về mấy chuyện máu thịt ấy nữa thì tôi không ăn đâu.”

“Vậy nội tạng thì sao?”

Hoàng Tử Hà lập tức quay ngoắt người đi thẳng, Chu Tử Tần vội nắm vai cô kéo lại nài nỉ, “Được rồi, được rồi, ta xin thề, nhất định không nói nữa!”
 

Cam Miên

đậu phụ của hòa thượng
Thành viên BQT
Mod - Sưu Tầm
Mod - Công Viên Xanh
Tham gia
13/4/19
Bài viết
1,457
Điểm cảm xúc
976
Điểm
113
Bánh canh thịt bò ở quán đó quả thực rất ngon, mỗi người đều ăn một bát to. Hôm nay trong tiệm không có khách khứa nào khác, ông bà chủ ngồi trong quán quan sát hai vị khách, một kẻ là công tử phong lưu còn kẻ kia là tiểu hoạn quan mày thanh mắt sáng, toát lên một vẻ đẹp khó phân rõ là nam hay nữ, vừa ăn vừa điềm nhiên nghe gã công tử kia huyên thuyên. Công tử nọ mặc bộ đồ sặc sỡ hoa lệ, đỏ rực phối với xanh biếc, trên người lại đeo mười bảy mười tám món trang sức, nào túi hương nào đá lửa nào dao găm nào ngọc bội nào kim bài nào mặt bạc, nhìn từ xa trông như một tên bán hàng rong.

Quả là một cặp đôi kỳ quái.

Ăn xong bữa, Hoàng Tử Hà bước ra khỏi quán, bên ngoài đang đông nghẹt người. Giữa đám đông, cô trông thấy một kẻ đang xăm xăm tiến bước, liền buột miệng kêu khẽ, “Trương Hàng Anh?”

Chu Tử Tần tò mò hỏi, “Ai vậy, công công quen ư?”

“Ừm… Gã từng giúp tôi, còn bị tôi làm liên lụy. “Cô thở dài nói, đoạn bất giác bám theo.

Chu Tử Tần chẳng hiểu mô tê gì, thấy cô lẳng lặng đi sau Trương Hàng Anh thì cũng không dám nhiều lời, hai người cứ thế từ từ theo đuôi Trương Hàng Anh giữa dòng người nhốn nháo.

Trương Hàng Anh xách một bao tải bê bết đất cát thong thả đi về phía phường Phổ Ninh. Hồi nhỏ Hoàng Tử Hà đã thông thạo hết đường sá trong kinh, còn nhớ trong phường Phổ Ninh có một cây hòe to đến một người ôm, nhà Trương Hàng Anh hình như ở gần đó.

Quả nhiên gốc hòe vẫn sum suê như trước, nhà Trương Hàng Anh nằm ngay bên cạnh. Giờ đang là đầu hạ, trên chiếc ghế đá dưới gốc cây có mấy người đàn bà vừa may vá vừa tán gẫu, nhìn đám nhỏ nhà mình nô đùa.

Hoàng Tử Hà đi chầm chậm về phía nhà Trương Hàng Anh, tuy tường nhà gã chỉ cao ngang thắt lưng cô, song bên trên lại cắm một bức rào cây cao đến đầu người, vừa khéo che khuất thân hình cô. Cô nhìn qua khe hở cành lá, thấy Trương Hàng Anh dốc ngược bao tải ra,bên trong là một nắm thảo dược mới hái, đem trải phơi trên phiến đá xanh trong sân.

Một bà lão cạnh đó trông thấy cô bèn hỏi, “Vị đại nhân này tìm ai vậy?” Bà ta không nhận ra trang phục hoạn quan, ngỡ rằng Hoàng Tử Hà là quan sai, liền tươi cười hỏi, song chỉ dám liếc qua Chu Tử Tần một lần rồi thôi, như sợ mù mắt vì những vàng ngọc châu báu đeo đầy người gã.

Hoàng Tử Hà vội đáp, “Tôi là bạn của Trương Nhị ca, tới thăm xem dạo này tình hình thế nào.”

“Ồ, Tiểu Nhị nhà họ Trương ấy à? Chẳng phải nó bị Quỳ vương phủ đuổi đi ư, giờ theo phụ việc cho cha nó ở Đoan Thụy Đường, gọi là học nghề, thực ra nghe nói là chạy vặt, có lúc thiếu dược liệu còn phải theo người ta vào núi hái thuốc cơ đấy.” Người già hay chuyện, chỉ một lát đã tông tốc kể ra hết, “Trước đây nghe nói ở vương phủ nó phạm lỗi, nên bị đánh ba trăm côn đuổi về, hai vị còn đến tìm làm gì...”

“Hai mươi côn.” Cô ngán ngẩm, lời đồn quả là khoa trương, chịu ba trăm côn thì sống sao nổi nữa?

“Ồ, tóm lại là bị đuổi về, nhất định là phạm lầm lỗi lớn rồi, có người còn bảo...” Bà lão hào hứng kể, rồi làm bộ thần bí hỏi dò, “Nghe nói có liên quan đến cái chết của Quỳ vương phi hả?”

Hoàng Tử Hà càng khó nói nên lời, “Đâu có, lúc gã đi thì còn chưa tuyển Quỳ vương phi mà.”

Bà lão bèn lắc đầu than thở, “Ôi chà, tiểu tử ngoan như thế, mặt mũi lại sáng sủa thân hình cao ráo, bằng không làm sao vào được đội nghi trượng của Quỳ vương? Là vì cao ráo nên mới được chọn vào đó! Lúc nó mới vào, mọi người đều ngưỡng mộ lắm, nào ngờ được mấy tháng đã bị đuổi về.”

Hoàng Tử Hà đứng ngẩn ra một lát rồi nói khẽ, “Cũng chẳng có chuyện gì to tát đâu, nói không chừng Quỳ vương phủ lại gọi về thôi.”

“Còn có chuyện đó ư? Nhưng mọi người đều nói Quỳ vương gia rất nghiêm, sao có thể để một kẻ từng mắc lỗi quay về chứ?” Nói đoạn, bà lão nhìn quanh, nói nhỏ với vẻ thóc mách, “Ôi chao các vị không biết chứ, láng giềng chúng tôi lúc trước có đến mười mấy nhà đều nhờ người mai mối muốn gả con gái cho nó, giờ thì hay rồi, cả mối đang bàn tính cũng lặn mất tăm. Đại nhân biết không, còn không bằng tiểu tử nhà tôi, đi theo Lưu sư phó học làm mộc, giờ đã sắp ra nghề rồi đó!”

Hoàng Tử Hà lặng thinh hồi lâu rồi quay người đi thẳng ra ngoài. Bà lão còn hỏi với theo, “Đại nhân không vào ư? Hôm nay nó ở nhà đó.”

“Không cần đâu, cảm ơn bà.” Hoàng Tử Hà đáp rồi bước đi, còn nghe bà lão sau lưng lẩm bẩm, “Người này đẹp thực, lại có phần nhang nhác con gái, y như một tiểu công công trong cung vậy.”

Chu Tử Tần không nhịn được bật cười khùng khục, nhưng Hoàng Tử Hà chẳng còn lòng dạ nào mà chấp gã nữa. Trừ phường Phổ Ninh, dọc đường họ diễu qua hết phố lớn ngõ nhỏ, mãi khi ra tới đường Chu Tước, cô mới định thần lại bảo Chu Tử Tần, “Hôm nay đa tạ công tử giúp tôi đến bộ Lại điều tra, tiếp theo nếu có manh mối nào, chúng ta lại tiếp tục nhé.”

Chu Tử Tần thấy cô rầu rĩ bèn vỗ vai an ủi, “Được rồi mà, người bạn kia của Sùng Cổ tên là gì... Trương Hàng Anh phải không? Đừng lo, ta sẽ giải quyết giúp cho.”

Hoàng Tử Hà ngạc nhiên ngẩng lên nhìn gã.

“Tốt xấu gì ta cũng ở kinh thành này mười mấy năm, chí ít cũng quen vài người trong sáu bộ. Gần đây, có một huynh đệ bảo ta rằng, mã đội ở ty Phòng vệ trong kinh đang muốn tuyển thêm người. Công công cũng biết đấy, trong các nha môn thì mã đội là oai nhất, mỗi ngày cưỡi ngựa tuần tra trên phố hai vòng, mặc đồng phục lại đeo đao, có cả đám đàn bà con gái tựa cửa nhìn lén, sợ gì chẳng tìm được vợ. Huống hồ lương tháng cũng khá, rõ ràng là một việc béo bở, bao nhiêu người đang vắt óc ra nghĩ cách đi cửa sau đấy, nếu không phải người bạn kia của công công anh tuấn đĩnh đạc, đường hoàng cao lớn thì ta đâu dám giới thiệu!”

“Thực không?” Hoàng Tử Hà mừng rỡ hỏi.

“Đương nhiên rồi, thủ lĩnh mã đội trong ty Phòng vệ ở kinh thành là bạn thân của ta, cứ để ta lo!” Chu Tử Tần vỗ ngực cam đoan, “Đợi phá xong vụ này, ta sẽ dẫn công công tới gặp đội trưởng Hứa Tùng Vân.”

“Đa tạ công tử nhé!” Hoàng Tử Hà vô cùng cảm động, ngẩng đầu bảo gã, “Nếu thành công thì muốn báo đáp thế nào cứ nói!”

“Ha ha, đến lúc đó cứ để ta được thoải mái huyên thuyên trong lúc ăn là được rồi.” Thấy Hoàng Tử Hà lộ vẻ ngượng nghịu, gã lại giơ tay vỗ vỗ lưng cô, cười nói, “Đùa thôi, thực ra chỉ là chút chuyện vặt, đáng kể gì đâu, dù sao công công cũng là người ta tôn kính thứ hai chỉ sau Hoàng Tử Hà, có chuyện cần làm cứ bảo ta là được!”

Hoàng Tử Hà bị gã vỗ cho suýt thì hộc máu, khóe môi giần giật mấy cái mới rặn ra được một nụ cười, “Đã vậy đợi vụ án này kết thúc, tôi sẽ đãi tiệc mời công tử trên Chuế Cẩm Lâu, đến chừng đó công tử nói gì tôi cũng rửa tai lắng nghe!”

“Cũng phải chờ công công có tiền đã chứ, nghe nói mới vào làm trong Quỳ vương phủ không lâu, đã được phát lương tháng rồi ư?” Gã hỏi, lại dùng ngón cái xỉa xỉa vào ngực mình, “Có điều tiểu gia ta trong nhà vừa khéo có hai bọc tiền, cần thì cứ tới tìm, ta có thể nuôi ngươi tha hồ ăn uống...”

“Người của Quỳ vương phủ cần ngươi nuôi từ lúc nào vậy?” Bên cạnh họ, có người thình lình xen vào. Áp lực vô hình toát ra từ giọng nói băng giá đó khiến Hoàng Tử Hà thấy da đầu tê dại cả đi, ngoảnh lại nhìn, quả nhiên là Lý Thư Bạch.

Xe ngựa của y đang đỗ ngay đầu phố, bản thân y vén rèm lên nhìn họ, vẻ mặt lạnh nhạt như thường, chẳng nhìn ra điều gì khác lạ, song Hoàng Tử Hà vẫn thấy ánh mắt y có vẻ không vui, đành cúi đầu, lặng lẽ nhích lại gần vị vương gia thâm sâu khó dò kia một chút.

Chu Tử Tần vô tâm vô tính nào có nhận ra, còn tươi cười gật đầu chào Lý Thư Bạch, “Khéo quá, vương gia cũng đi qua đây ư?”

“Ta tiễn sứ thần Đột Quyết đến dịch trạm nghỉ rồi quay về, vừa khéo gặp hai người.” Lý Thư Bạch tiện miệng đáp.

Dịch trạm cách đây rất xa, nhưng Chu Tử Tần nào có nhận thấy, lại trỏ Hoàng Tử Hà nói vói Lý Thư Bạch “Vương gia xem, tên Sùng Cổ này cười lên rất đẹp, cứ như gió xuân hây hẩy, đào mận rộ hoa, thế mà bình thường cứ xị cái mặt ra, nếu không phải vương gia ngẫu nhiên ngang qua chắc chẳng nhìn thấy được đâu. Về sau vương gia bảo Sùng Cổ cười nhiều vào nhé.”

Hoàng Tử Hà cảm thấy mặt mình sắp co rúm cả lại - rõ ràng là một nụ cười gượng gạo, rõ ràng Quỳ vương trông thấy thì sắc mặt liền tối sầm như mây đen vần vũ, vậy mà Chu Tử Tần vẫn không nhận ra, đúng là có mắt như mù.

“Vậy sao?” Lý Thư Bạch liếc Hoàng Tử Hà. “Có chuyện gì vui mà khiến kẻ cau có như Dương Sùng Cổ lại tự nhiên mỉm cười vậy?”

“Không có gì, chỉ là... Chu công tử vừa giúp tôi chút việc thôi.” Hoàng Tử Hà vội đáp.

Lý Thư Bạch thấy Chu Tử Tần gật đầu, cũng không tiện gặng hỏi thêm, chỉ sầm mặt nhìn Hoàng Tử Hà, “Hôm nay đến bộ Lại có thu được gì không?”

“Hôm nay chúng tôi có phát hiện lớn!” Chu Tử Tần hào hứng nói, kéo tay Lý Thư Bạch toan bàn luận chuyện vụ án ngay giữa đường. Hoàng Tử Hà thực hết cách, đành đằng hắng khẽ. Chu Tử Tần vẫn không hiểu, còn ngơ ngác quay lại nhìn cô.

Lý Thư Bạch trỏ quán rượu phía sau, bấy giờ Chu Tử Tần mới sực hiểu, “Không được không được, chúng ta không thể đứng giữa đường nói chuyện này được!”

Lý Thư Bạch xuống xe, ba người bước vào quán rượu, tìm một gian phòng yên tĩnh trên tầng hai.

Một bình trà xanh, bốn đĩa điểm tâm. Đợi những người khác lui xuống cả, Chu Tử Tần mới hạ giọng nói, “Vẫn là Sùng Cổ tinh tường, đoán được thoi bạc kia có liên quan tới Bàng Huân nên ngay từ đầu đã nhằm vào đám ngụy quan được Bàng Huân phong tước, quả nhiên một đòn trúng phắp, thoi bạc này đúng là xuất phát từ kho bạc được Bàng Huân cho đúc riêng ở Từ Châu.”

Lý Thư Bạch trầm ngâm nhìn tờ sao chép được Hoàng Tử Hà trình lên.

Còn Chu Tử Tần lại nhìn cô bằng ánh mắt ngưỡng mộ, “Sao Sùng Cổ đoán được thoi bạc này liên quan đến Bàng Huân?”

“Nhìn những vết đen trên thoi bạc, tôi nghĩ hẳn là mới được đúc mấy năm gần đây. Loại trừ khả năng bạc giả và người dân tự đúc, bên trên lại có chữ ‘nội khố’, vậy thì cũng có thể là do kẻ rắp tâm làm phản đúc nên. Mà gần đây trong đám phản tặc, có thể phát triển đến mức dựng kho đúc bạc, thì chỉ có mình Bàng Huân.”

“Nói đúng lắm! Sao ta chẳng nghĩ ra nhỉ?” Chu Tử Tần vỗ tay bồm bộp, luôn miệng than thở đã để lỡ mất thời cơ phá giải nghi vấn.

Hoàng Tử Hà lại nói, “Hiện giờ chỉ không rõ loại bạc này lúc trước đã được đúc bao nhiêu thỏi, tuồn ra ngoài bao nhiêu? Nếu quá nhiều, thì lại chẳng biết tra từ đâu nữa”

“Không nhiều đâu, Hơn nữa còn có số lượng cả rồi.” Lý Thư Bạch lạnh nhạt xen vào, “Lúc Bàng Huân dấy binh mưu phản, vì gấp gáp nên chưa kịp bắt tay xây dựng kho và phong ngụy quan. Mãi tới khi ta liên hợp với sáu đại tiết độ sứ bao vây Từ Châu, hắn mới ngang nhiên phong quan ban tước, hòng mua chuộc lòng người, đồng thời cũng cột chặt họ vào với mình để tránh lòng quân tán loạn. Bởi vậy kho bạc cũng chỉ thành lập chưa lâu, hơn nữa lại liên tiếp thất bại tháo lui nên chưa đúc được nhiều bạc. Sau khi Bàng Huân chết, ta tiến vào đóng quân ở Từ Châu, xem sổ sách thấy mới đúc được cả thảy năm ngàn sáu trăm nén bạc lớn nhỏ. Trong đó bạc hai mươi lạng tổng cộng có tám trăm thoi hoàn chỉnh, hầu như toàn bộ vẫn còn được cất trong phủ. Ta bèn sai người nấu chảy luôn bảy trăm chín mươi tư thoi ngay tại đó, chỉ để lại năm thoi làm vật chứng mà thôi. Tang vật đã bị tiêu hủy, không còn những thoi bạc khác nữa đâu.”

Hoàng Tử Hà nhạy bén nắm bắt ngay được vấn đề bên trong, liền hỏi, “Thoi bạc hai mươi lạng cuối cùng còn sót lại thì sao?”

“Nếu năm thoi bạc vật chứng mà bộ Hình cất giữ vẫn còn thì xem ra thoi cuối cùng chính là đây.” Y đặt nửa thoi bạc được phát hiện trong điện Ung Thuần sau khi Vương Nhược mất tích xuống bàn, thong thả nói, “Đây chính là thoi bạc hai mươi lạng duy nhất bị mất khi kiểm kê tội chứng của Bàng Huân.”

Chu Tử Tần gãi đầu, dường như còn bối rối hơn, “Thoi bạc duy nhất thất lạc trong đợt kiểm kê ở Từ Châu, sao lại xuất hiện trong điện Ung Thuần cung Đại Minh? Hơn nữa lại chỉ có nửa thoi là sao? Xem ra, sau khi lần ra lai lịch thoi bạc này, chúng ta lại càng rơi vào bí ẩn sâu xa hơn thì có.”

“Đúng vậy, vụ án này càng đi sâu dường như lại càng liên quan tới Bàng Huân - hoặc có kẻ tìm đủ mọi cách khiến chúng ta cảm thấy có liên quan tới Bàng Huân.” Hoàng Tử Hà nói.

Lý Thư Bạch không tán đồng cũng chẳng phản đối, chỉ đậy ly trà trước mặt lại rồi đứng dậy, “Hôm nay đến đây thôi, về nhà cái đã. Tử Tần, ngươi đến bộ Hình xem năm thoi bạc vật chứng kia còn đó không. Sùng Cổ lo sắp xếp lại xem còn manh mối nào có thể tra xét nữa không.”

“Được!” Chu Tử Tần là kẻ miệng nói tay làm, bất chấp giờ đã quá Ngọ, các nha môn đều đã nghỉ trưa, gã vẫn chuẩn bị chạy tới gõ cửa bộ Hình điều tra - dù sao gã cũng quen thuộc bên đó, còn đánh bạn với mọi người.

Hoàng Tử Hà theo Lý Thư Bạch lên xe về Quỳ vương phủ. Dọc đường Lý Thư Bạch chỉ nín lặng, không nói năng gì, cũng chẳng buồn nhìn cô. Hoàng Tử Hà thấy ngột ngạt kinh khủng, đành trơ mặt ngồi trên ghế, vắt óc đoán xem mình hay kẻ nào đã đắc tội với vị đại gia này. Nếu là người khác thì tại sao y lại bày ra bộ mặt này cho mình xem. Nếu là mình, thì vì nguyên nhân gì...

“Hả?” Hoàng Tử Hà thầm chột dạ, đương nhiên cô không dám nói là việc của Trương Hàng Anh, vội lấp liếm. “Là... chút việc cỏn con thôi, bởi thế tôi không dám phiền đại giá vương gia, đành bàn bạc vói Chu Tử Tần. Gã vừa có thể giúp tôi giải quyết, lại khỏi kinh động đến vưong gia.”

Lý Thư Bạch thấy cô không định kể thật vớỉ mình, bèn lạnh lùng chốt hạ, “Không sao, dù gì ta cũng chẳng hơi đâu quan tâm đến ngươi.”

Hoàng Tử Hà thở phào một hơi, song cảm nhận rõ rệt thái độ bực dọc của y, nên vẫn căng thẳng đợi y nói tiếp.

Nào ngờ suốt dọc đường y chẳng mở miệng thêm lần nào nữa, chỉ chăm chú giở đọc công văn. Y đọc rất nhanh, một lần nhìn được mười hàng, tiếng giở sách loạt soạt khe khẽ, quả thực chẳng buồn ngước mắt liếc cô lấy một cái.

Hoàng Tử Hà đương thở phào, chợt nhác thấy trên những công văn đó là văn tự dị tộc, nhìn ngoằn ngoèo rối rắm như sách trời, đoán chắc là tiếng Thổ Phồn, không khỏi phục y sát đất.

Suốt quãng đường nhấp nhổm như ngồi trên đống lửa, về đến vương phủ, bước xuống xe đã thấy cả đám Cảnh Hữu đứng đón trước cửa, đợi chủ nhân sai bảo.

“Gọi Cảnh Dục đến đây.” Lý Thư Bạch chỉ buông gọn lỏn một câu rồi đi thẳng về phía gác Ngữ Băng.

Hoàng Tử Hà khó khăn lắm mới dám thở ra một hơi, rón rén bước lùi, chuẩn bị về phòng mình, nào ngờ Lý Thư Bạch như có mắt sau lưng, chẳng buồn ngoảnh đầu, chỉ ném lại hai chữ, “Đi theo.”

Cô nhìn quanh, phát hiện y nói mình, đành siết chặt lòng bàn tay đầy mồ hôi, cun cút đi theo, thầm nhủ, Hoàng Tử Hà à Hoàng Tử Hà, ngươi đã chọn lấy người chủ khó hầu hạ này thì bất kể thế nào cũng phải theo y, lên núi đao xuống chảo dầu, hễ y ra lệnh, đều phải nghe theo!

Cảnh Hữu đã sắp xếp đâu vào đấy, trong gác Ngữ Băng đầy đủ cả trà nước điểm tâm, khói từ lò hương bảng lảng bốc lên, rèm cửa bằng trúc tơ buông rủ, che gần hết ánh nắng bên ngoài.

Thị nữ bưng chậu vàng đến cho Lý Thư Bạch rửa tay, sau đó lại dâng lên một chiếc khăn bông trắng muốt, y nhận lấy lau tay, cử chỉ ung dung, không hề để lộ mảy may tâm trạng. Hoàng Tử Hà đứng một bên, hầu Lý Thư Bach phê duyệt công văn.

Mất một lúc Cảnh Dục đến, Hoàng Tử Hà thở phào nhẹ nhõm, cảm thấy một mình mình quả khó mà gánh nổi áp lực nặng nề này.

“Dương Sùng Cổ đến đây bao lâu rồi?” Lý Thư Bạch hỏi thẳng vào đề.

Cảnh Dục đáp ngay, “Bẩm, tổng cộng ba mươi bảy ngày, hơn một tháng rồi.”

“Lương tháng vẫn chưa phát à?”

“Theo lệ, trong phủ phải đến rằm mới phát lương, lần trước lúc phát lương, vì hắn mói đến, nên chỉ phát hai lạng bạc chào mừng.”

Bạc chào mừng, đương nhiên Hoàng Tử Hà theo lệ phải đặt hai bàn rượu làm quen với mọi người trên dưới trong phủ, sớm đã tiêu sạch bách rồi. Quy củ đối nhân xử thế này cô đâu phải không biết, cũng không thể không biết. Hoàng Tử Hà bất lực oán thầm, làm tiểu hoạn quan trong vương phủ thực chẳng dễ dàng gì, tuy được nuôi ăn nuôi ở nuôi mặc, song từ khi trốn khỏi Thục, cô đã bán hết trâm vàng lấy tiền lên kinh, kết quả chút tiền còm còn lại rơi mất trong lúc bị y đá xuống hồ sen, bằng không cô đâu đến nỗi cứ ra khỏi cửa là phải ăn chực nằm chờ người khác? Nhiều nhất cô cũng chỉ mua được một bát bánh canh thôi!

Cảnh Dục lại nói, “Mấy hôm nay nô tài cũng định xin vương gia chỉ bảo, chẳng hay cấp bậc của Dương Sùng Cổ trong phủ phải sắp xếp thế nào?”

Đây rồi, nhắc đến việc đãi ngộ mình rồi! Hoàng Tử Hà bỗng thấy kích động hẳn lên. Từ nhỏ đến lớn cô chưa bao giờ thiếu tiền, dăm ngày ba bận cha mẹ lại cho tiền tiêu vặt, dành dụm dần cũng được một món rủng rỉnh. Cô vẫn luôn ngưỡng mộ huynh trưởng và đám sai dịch bổ khoái bổ đầu trong nha môn, bởi bấy giờ cô chỉ là một cô gái, dù giúp nha môn phá giải rất nhiều nghi án nhưng vẫn không thể trở thành một trong số họ, không thể đến giờ thì điểm danh, đến tháng thì lĩnh tiền, có một biên chế cố định trong cơ cấu tự vận hành. Song hiện giờ cô đã trở thành một... hoạn quan có nghề nghiệp ổn định, đời này chẳng cần dựa vào gia đình hay lang quân cũng vẫn nuôi sống được bản thân mình, có thể đến tháng lĩnh lương. Tuy hơi khó nghe nhưng, hoạn quan cũng coi là... quan đấy chứ?

Lý Thư Bạch ngẩng lên khỏi xấp công văn, liếc qua Hoàng Tử Hà, ánh mắt có vẻ hí hửng như muốn nói “đợi mãi cuối cùng cũng có cơ hội rồi”.

Ngay lập tức, Hoàng Tử Hà nghe lòng dấy lên một dự cảm không lành.

Lý Thư Bạch thủng thẳng nói, “Trên dưới vương phủ xưa nay đều coi trọng công bằng, nếu không điều luật còn tác dụng gì nữa?”

Cảnh Dục gật đầu, “Vương gia nói rất phải. Vậy Dương Sùng Cổ tạm thời xếp làm hoạn quan hạng bét, thức dùng hằng ngày đều được cấp phát như mọi người, đợi đến năm sau xét xem biểu hiện rồi mới thăng chức”

“Chuẩn y.” Lý Thư Bạch nói gọn lỏn, như thể bản thân hết sức nghiêm chỉnh, hoàn toàn chỉ tiếp thu ý kiến người khác vậy.

Hoàng Tử Hà cảm thấy bất an dữ dội, không nhịn được hỏi Cảnh Dục, “Xin hỏi Cảnh Dục công công, hoạn quan hạng bét trong phủ đãi ngộ thế nào?”

Cảnh Dục nhìn cô, tỏ vẻ thông cảm, song không nói năng gì.

Lý Thư Bạch đang phê duyệt công văn, chẳng buồn ngẩng lên, bình thản đáp, “Thứ nhất, hoạn quan hạng bét, khi chưa được người khác cho phép thì không được nói chen, lên tiếng hay hỏi han, vi phạm trừ lương một tháng. Thứ hai, đãi ngộ của hoạn quan hạng bét nằm ở điều thứ ba mươi mốt quyển thứ tư trong luật vương phủ, ngươi không biết chứng tỏ ta sai ngươi học luật vương phủ ngươi không làm được, không hoàn thành nhiệm vụ, phạt lương ba tháng. Thứ ba, hoạn quan hạng bét không được lén lút cho nhận đồ hay qua lại thăm nom người ngoài, vi phạm trừ lương một năm.”

Cảnh Dục nhìn cô bằng ánh mắt thông cảm, tỏ vẻ lực bất tòng tâm trước việc cô bị phạt mười sáu tháng lương chỉ vì một câu nói.

Hoàng Tử Hà trợn trừng mắt, há hốc miệng.

Lần đầu tiên, cô thấy dao động dữ dội về quyết tâm đặt cược mọi thứ để đi theo kẻ này! Làm chủ mà ỷ thế khinh người bụng dạ nhỏ mọn ngang ngược ngông cuồng, nhất định không phải một người chủ tử tế!

Bầu không khí trong gác Ngữ Băng càng thêm nặng nề.

Cảnh Dục tinh ý lập tức lui ra.

Hoàng Tử Hà chìa tay bảo Lý Thư Bạch, “Đưa nửa thoi bạc kia cho tôi.”

Lý Thư Bạch ngước lên nhìn cô. “Lại phát hiện manh mối gì ư?”

“Không có.” Cô cương quyết nói. “Tôi không xu dính túi, nghèo đến nỗi ra ngoài tra án không mua nổi một tô bánh canh, nếu lăn ra ngất xỉu trên phố e rằng không thể dốc sức cho vương gia nữa. Huống hồ tôi hễ đói là đầu óc rối cả lên, không thể điều tra đoán án được. Bởi thế, để vụ án chóng ngày phá được, tôi quyết định cầm vật chứng đi tiêu phứt cho rồi”

Lý Thư Bạch nhìn cô, khóe môi cong lên như cười mà không phải cười. Y thong thả mở tủ, rút ra một thẻ bài nhỏ, quăng lên bàn, “Cầm lấy cái này.”

Hoàng Tử Hà cầm lên, nhận ra đó là một kim bài nhỏ, chỉ to chừng nửa bàn tay. Mặt phải khắc đầy hoa văn quỳ long, còn rập nổi bốn chữ “Đại Đường Quỳ Vương”. Mặt trái là bốn chữ “Thừa lệnh đúc thành”, in cả con dấu của hoàng đế và mấy chữ “Nội Đình phụng lệnh ngự chế”.

Hoàng Tử Hà cầm nó bằng ba ngón tay, nghi hoặc nhìn Lý Thư Bạch.

Lý Thư Bạch lại tiếp tục cúi đầu xem công văn, điềm nhiên nói, “Lệnh tín này thiên hạ chỉ có một chiếc, có thể dùng ở tất cả nha môn châu phủ, giữ cẩn thận đấy, kẻo mất là phiền to.”

“Ồ?” Hoàng Tử Hà vẫn chần chừ, không hiểu ý y.

Thấy cô vẫn ngơ ngác, y bèn cao giọng, “Ngươi là người của ta, về sau gặp phải chuyện gì cũng không được nhờ kẻ khác giúp đỡ. Lẽ nào trên đời này còn việc gì ta không thể giải quyết cho ngươi ư?”

Hoàng Tử Hà nhìn gương mặt cúi xuống của y, chỉ thấy nét mặt hững hờ như mây trôi gió nhẹ, không bộc lộ mảy may tâm trạng. Giọng nói tựa băng va ngọc chạm ấy chẳng bợn chút tình cảm nào, phong thái hào hoa phong nhã cũng không hề rối loạn, rõ ràng là Quỳ vương Lý Thư Bạch mà cô vẫn biết. Song lúc này tại gác Ngữ Băng, giữa ánh mặt trời bị bức rèm trúc tương phi rây thành từng sợi chỉ vàng, trong tiếng ve kêu ra rả lúc xa lúc gần, khi đáy lòng cô đang râm ran cuộn lên từng luồng hơi nóng, y bỗng như rất khác.

Có lẽ thấy cô đứng đờ ra bất động quá lâu, cuối cùng y cũng ngẩng lên nhìn. Còn chưa kịp cất tiếng, tay cô đã lỏng ra, kim bài rơi xuống nền gạch xanh đánh keng một tiếng, phá tan bầu không khí yên lặng.

Cô cuống quýt ngồi thụp xuống nhặt, kín đáo hít một hơi thật sâu rồi mới run rẩy đứng lên.

Lý Thư Bạch nhìn cô, “Sao, không vừa ý à?”

“Không, không, tôi chỉ là... quá kinh hãi trước sự ưu đãi này đấy thôi.” Đôi má trắng như ngọc của cô ửng lên một lớp phấn hồng nhàn nhạt, như cách rèm ngắm hoa đào, chỉ thấy sắc thắm mơ màng lan tỏa.

Ánh mắt y dừng ở cô hồi lâu, cảm thấy tập công văn trong tay thực chán ngán vô vị, y bèn bỏ xấp giấy tờ ấy xuống, đứng dậy bước đến bên cửa sổ, ngắm nhìn trời xanh bên ngoài.

Trời cao lồng lộng, xanh ngắt một màu. Vài đám mây mỏng như lụa nhàn nhạt phết ngang không trung, thấp đến mức tưởng chừng giơ tay ra là chạm được.

Y bỗng bàng hoàng, cảm thấy đám mây ấy cũng đồng thời phết ngang qua cuộc đời quạnh hiu trống trải của mình. Giống như thiếu nữ thông minh trong sáng hệt bầu trời tháng Năm kia một ngày thình lình xen vào vận mệnh của y, làm y chẳng kịp đề phòng.

Từ nay về sau, đối đầu cũng được, gắn bó cũng xong, đời này của y đã định là cứ đi qua nhau, cứ lãng quên nhau là tốt nhất.

Y giơ tay lên, như thể bầu trời tháng Năm bên ngoài quá chói làm mắt y nhức nhối, rồi quay lại, đứng ở chỗ ngược sáng đó mà nhìn Hoàng Tử Hà, “Lệnh tín này tạm thời cho ngươi mượn, đợi vụ án kết thúc rồi tính.”

Hoàng Tử Hà gật đầu vâng dạ, đoạn nhăn nhó ngó kim bài trong tay, dè dặt hỏi, “Vương gia, tôi hỏi một chuyện được không?”

Y chỉ nhìn cô.

“Các quán rượu lớn bé, phu lao động và dân chúng bình thường trong kinh có nhận ra lệnh tín này của Quỳ vương không?”

Y hừ mũi hỏi lại, “Hửm?”

“Chính là... Ý tôi là...” Cô ngập ngừng, do dự một hồi, song cuối cùng vẫn hỏi thẳng, “Có thể dùng cái này... mua chịu ở các quán rượu tiệm bánh phản thịt quầy hàng rong không?”

Lời vừa thốt ra, đến một kẻ lạnh nhạt như Lý Thư Bạch cũng phải thấy khóe môi giần giật. Y trừng mắt nhìn cô, tỏ vẻ không muốn tiếp tục thảo luận chủ đề dung tục này nữa, quay người ngồi xuống chiếc sập thấp bên cạnh, đoạn trỏ chỗ đối diện.

Hoàng Tử Hà ngoan ngoãn quỳ xuống trước mặt y. Trước kẻ chỉ ba câu đã trừ phăng của cô mười sáu tháng lương, cô dám không ngoan ngoãn nghe lời ư?

Y tự rót một ly trà cho mình rồi thong thả nói, “Điều ta sắp nói rất nghiêm trọng, nên không thể nói trước mặt Chu Tử Tần. Nhưng ta nghĩ ngươi nhất định phải biết nếu muốn điều tra vụ này. Vì nó liên quan mật thiết với vụ án.”

Hoàng Tử Hà gật đầu, nín thở nhìn y.

Lý Thư Bạch dùng ba ngón tay thon dài trắng trẻo nâng ly trà men xanh ướt rượt, mát lạnh như ngọc giữa ba ngón tay.

“Thực ra nửa thoi bạc kia... Khi kiểm kê số bạc Bàng Huân tự đúc đã đủ tám trăm thoi bạc hai mươi lạng, cũng tức là, không có thoi bạc hai mươi lạng nào thất lạc cả. Có điều về sau thiếu một thoi là vì bị ta tiêu mất.”

Hoàng Tử Hà ngạc nhiên, bàn tay bưng ấm trà khựng lại giữa lưng chừng, miệng lẩm bẩm, “Không phải chứ, thì ra Quỳ vương gia cũng thiếu tiền ư?”

Lý Thư Bạch liếc Hoàng Tử Hà, rồi chẳng buồn để ý đến cô nữa, chỉ tiếp tục câu chuyện mình muốn kể, “Chuyện xảy ra khi tấn công vào phủ Bàng Huân. Chỉ hiềm trước đó khi trông thấy thoi bạc kia ta lại không liên tưởng tới việc này.”

Còn đương ngẫm nghĩ thì vị đại gia đang làm mặt lạnh kia cuối cùng cũng lên tiếng, “Giúp cái gì?”

Nghe y mào đầu, Hoàng Tử Hà biết có lẽ y sẽ kể tỉ mỉ, bèn rót cho mình một chén, lại đi đến trước bàn sách nhón một miếng điểm tâm nhẩn nha ăn.

Chuyện đã ba năm, song trí nhớ của Lý Thư Bạch cực tốt, vẫn có thể kể rõ ràng từng câu, không bỏ sót chi tiết nào.

Năm Hàm Thông thứ mười, sau khi Lý Thư Bạch bắn chết Bàng Huân, binh lính giữ thành cũng tan tác hết, lòng quân rệu rã, lũ lượt bỏ thành đầu hàng. Chưa đến nửa canh giờ, thành Từ Châu đã bị phá, quân triều đình tiến vào truy quét tàn binh. Trước đó Lý Thư Bạch đã hạ lệnh, kẻ nào mượn cớ truy quét cướp bóc tàn sát bách tính sẽ bị giết không tha, nên các binh sĩ tỏa đi khắp phố đều rất thần tốc, chưa đầy hai canh giờ, Lý Thư Bạch đã tiến vào phủ đệ Bàng Huân.

“Có lẽ vì quân triều đình đến quá nhanh, trong phủ vẫn còn mấy tên loạn đảng ấn nấp, hòng dựa vào địa thế phản kháng đến cùng, có điều chẳng mấy chốc đã bị quét sạch.”

Y kể rất qua loa, song Hoàng Tử Hà lại nghĩ thầm, còn chưa dẹp xong loạn đảng đã xông thẳng vào đại bản doanh địch, rốt cuộc là gia can đảm hơn người hay là hữu dũng vô mưu ham lập công mà sơ ý đây? Hoặc có lẽ... bấy giờ người này chẳng hề để tâm đến chuyện sống chết của mình?

Có điều cô chẳng đủ gan nói ra những lời này, chỉ im lặng nghe y kể tiếp.

Trên đường truy đuổi một tên loạn đảng trốn chạy, Lý Thư Bạch một mình xông vào mảnh sân có tường ngăn rất dày, chợt nghe thấy tiếng khóc xé ruột của phụ nữ.

Y đứng bên ngoài nhìn qua cửa sổ, chỉ thấy một tráng hán đang tóm lấy một thiếu nữ yếu đuối đầu tóc rũ rượi, nắm tóc cô lôi xềnh xệch ra ngoài, vừa lôi vừa mắng, “Lát nữa lên xe, lão tử sẽ đem ngươi cùng mấy rương vàng bạc này chạy đến nơi trời cao vua xa, tha hồ hưởng thụ một đời không hết.”

Nói đến đây, nhìn Hoàng Tử Hà đang ăn điểm tâm, Lý Thư Bạch bèn lược đi một mớ những lời khó nghe tiếp theo của kẻ kia, chỉ kể, “Tráng hán nọ cao lớn khác thường, mặt mũi hung tợn, thiếu nữ yếu đuối chỉ đứng đến ngực hắn ta, dù liều chết vùng vẫy cũng không sao thoát được, chỉ còn nước gào khóc thảm thiết, bị hắn lôi xềnh xệch ra cửa.”

Bấy giờ Lý Thư Bạch đứng ngoài cửa sổ chứng kiến sự việc, song thuộc hạ của y không tìm thấy cửa, tường lại quá dày quá cao không thể đột nhập, y đang nghĩ hẳn tên kia đã chuẩn bị xe ngựa, định quay về sai thuộc hạ chặn đường hắn thì trông thấy một bóng người loạng choạng lao ra, là một thiếu nữ dong dỏng cao. Cô này cũng đầu tóc rũ rượi, mặt đầy bùn đất, không nhìn ra nổi dung mạo ban đầu, hai tay giơ một thanh cời lò bằng sắt, đâm thẳng vào lưng tráng hán.

Tiếc rằng tên đó da dày thịt béo, thiếu nữ mới đến tay yếu, lại không biết là nên đâm vào chỗ hiểm, dù dùng hết sức cũng chẳng đâm sâu được, chỉ làm tên kia đau đớn chút xíu, không đủ để hắn buông thiếu nữ yếu đuối kia ra ngược lại còn bị hắn gầm lên tung một cước đá trúng ngực, cả người văng đập vào góc tường, hộc ra một búng máu.

Tên hung tợn còn chưa hả giận, xồng xộc chạy đến định đánh cô cao, cô yếu bèn cố sức níu hắn lại, song không sao giữ nổi, chỉ thấy hắn rảo bước đi về phía cô cao bấy giờ đã ngã lăn xuống đất, vung nắm đấm to bằng bát giấm đấm vào bụng cô ta.

Lý Thư Bạch lập tức giương cung lắp tên, thầm trách mình vừa rồi lơ đãng, có lẽ không kịp cứu thiếu nữ kia nữa.

Hoàng Tử Hà đã quên bẵng cả ăn uống, ngồi thẳng người lên, nhìn Lý Thư Bạch không chớp mắt, sốt sắng hỏi, “Sau đó thế nào?”

Lý Thư Bạch nãy giờ vẫn bưng ly trà, lúc này mới thong thả hớp một ngụm, kể tiếp, “Đúng lúc ta lắp tên xong, nhìn lại vào sân thì nghe thấy tiếng la thảm của tên kia.”

Thiếu nữ yếu đuối đang nắm chặt một thoi bạc, góc thoi còn dính máu, co rúm trong góc tường run lẩy bẩy. Thì ra, giữa lúc ngàn cân treo sợi tóc, cô ta đã vơ được một thoi bạc trong rương đập vào đầu tráng hán. Hắn ôm gáy nổi trận lôi đình, tát bốp vào mặt cô gái làm cô ta đập mạnh vào tường, vẫn giữ khư khư thoi bạc trước ngực

Tráng hán tóm lấy cổ áo cô ta, vung tay toan giáng thêm một bạt tai nữa, đúng lúc ấy, cô cao nãy giờ vẫn co quắp trong góc tường lại vung thanh cời lò lao đến,tên kia nghe thấy tiếng gió phía sau, vừa quay lại thì thanh sắt đã đâm ngay vào mắt phải. Cùng lúc, mũi tên trong tay Lý Thư Bạch cũng bắn trúng mắt trái hắn.

Trong tiếng la thảm của tráng hán, cô yếu cầm thoi bạc đập điên cuồng vào đầu hắn. Hắn giơ chân đạp cô lăn ra đất, bản thân hắn cũng huơ tay múa chân loạn xạ rồi ngã lăn ra, không dậy nổi. Cô cao tức thì lao đến dùng thanh cời đâm khắp người hắn từ mặt đến bụng chẳng biết đến mấy trăm nhát, khiến hắn co rúm lại rồi cuối cùng không động đậy gì nữa.

Hai thiếu nữ khắp người bê bết máu ném hết đồ vật trong tay xuống đất, run rẩy bò đến ôm chặt lấy nhau nhìn về phía cái xác. Bấy giờ họ mới phát hiện thì ra ở mắt trái hắn có một mũi tên.

Cả hai sợ hãi thở dốc rồi hớt hải nhìn quanh, cuối cùng trông thấy Lý Thư Bạch bên kia cửa sổ.

Lý Thư Bạch nói vọng vào, “Đừng lo, chúng ta tới tiêu diệt loạn đảng, các cô cứ đợi trong đó, ta sẽ vào xử lý.”

Cô cao hoảng loạn trỏ về bên phải Lý Thư Bạch, y tiến sang hơn mười bước thì thấy một cánh cửa ngách, cài móc khóa, liền rút kiếm cạy khóa, sau đó đá bật cửa ra xông vào.

Có lẽ hai người kia sợ hãi quá độ nên vẫn ôm chặt lấy nhau run lẩy bẩy.

Lý Thư Bạch tự nhìn lại trang phục mình, thấy bộ áo gấm mới lấm tấm vài vết máu, bộ dạng cũng không quá mức dữ tợn, song ánh mắt họ nhìn y lại đầy kinh sợ.

Lý Thư Bạch hiểu họ đã khiếp hãi quá độ, bèn bước đến ngồi xuống trước mặt hai người, nhìn thẳng vào họ hỏi, “Các cô là ai? Sao lại ở đây, còn bị hạng người này bắt giữ?”

Vẻ mặt y dịu dàng, đường đường là bậc tôn quý lại hạ mình ngồi xuống trước hai thiếu nữ lôi thôi nhếch nhác, dáng vẻ ôn hòa điềm đạm như dòng suối chảy giữa rừng sâu, dịu giọng an ủi họ.

Hai thiếu nữ kia hằng ngày đều thấy đám tàn quân hung ác, lúc nào cũng thấp thỏm chẳng biết mình sẽ bị hà hiếp thế nào, vừa rồi trải qua nạn giặc cướp, nay gặp thiếu niên áo gấm này, cảm giác chẳng khác nào nắng xuân rọi chiếu vạn vật, nhất thời cảm thấy những chuyện lúc trước như đã lùi xa lắm, cũng bớt phần cảnh giác hơn.

“Là... là công tử cứu chúng tôi ư?” Thiếu nữ cầm thoi bạc cất giọng khàn khàn hỏi, bờ môi run lên như lá khô trước gió, sắc mặt tái mét xám xịt.

Lý Thư Bạch rút một mũi tên sau lưng ra, so với mũi trên mắt trái gã kia. Vì y đã dùng hết những mũi tên có khắc danh hiệu, giờ phải dùng sang loại tên bình thường của binh lính, hai cô thấy hai mũi tên giống nhau, liền quỳ sụp xuống đất bái tạ Lý Thư Bạch. Cả hai nước mắt lã chã, nghẹn ngào nói không ra tiếng.

Thiếu nữ dong dỏng cao nãy giờ vẫn chằm chằm nhìn y không nói năng gì, thiếu nữ nhỏ nhắn hơn xem chừng lại khá bạo dạn, vội lên tiếng cảm tạ, “Đa tạ ân nhân cứu mạng, tiểu nữ họ Trình.” Lại trỏ người bên cạnh giới thiệu, “Đây là tỷ muội khác họ với tôi, tên gọi Tiểu Thi. Vì cha mẹ đều đã qua đời nên chúng tôi phải lặn lội từ Liễu Châu đến đây nương nhờ cô cô...”

“Sao các cô lại rơi vào tay loạn đảng?”

Cô gái họ Trình thổn thức đáp, “Do loạn Bàng Huân nên khi chúng tôi đến nơi thì cô cô đã chạy nạn tới nơi khác. Chúng tôi bất hạnh gặp phải loạn đảng, bị bắt đến đây giam lại cùng một tốp thiếu nữ khác. Mấy ngày trước nghe nói đại quân triều đình đã đến dưới thành, sắp tiêu diệt loạn đảng, nên chẳng kẻ nào đoái hoài đến chúng tôi nữa. Nào ngờ hôm nay chúng lại kéo tới tranh nhau vàng bạc, rồi giành giật các cô gái, còn nói... Nói cái gì mà trừ cái đó ra, nếu trên đường không có lương thực thì thịt thiếu nữ mười mấy tuổi coi như cũng mềm ngon...”

Kể đến đây, Lý Thư Bạch khẽ đặt ly trà trong tay xuống, vẻ trầm ngâm.

Hoàng Tử Hà đang nghe đến đoạn gay cấn, vội hỏi, “Sau đó thế nào? Những thiếu nữ bị bắt đi ấy?”

“Ta nghe kể cũng choáng váng, lập tức đứng dậy đi thẳng ra ngoài, toan dẫn người đuổi theo những cô gái bị bắt đi kia.”

Theo hướng cô gái họ Trình chỉ, Lý Thư Bạch chạy ra cổng, trông thấy một cỗ xe ngựa đậu gần đó. Y tháo ngay một thớt ngựa tung người nhảy lên, chợt ngoảnh lại, thấy cô ta đương ròng ròng nước mắt, lệ rơi đến đâu, làn da trắng nõn như ngọc lộ ra đến đó.

Tuy cặp mắt cô đã sưng húp lên như hai quả đào thối, gương mặt đầy kinh sợ, song nhìn hình dáng, rõ ràng là một đôi mắt phượng tuyệt đẹp. Tiểu Thi vẫn ôm chặt lấy cô, mặt mũi cũng thanh tú. Lý Thư Bạch thầm nghĩ, hẳn vì hai cô này là mỹ nữ nên mới bị bắt đến đây. Xinh xắn thế này ở một nơi hỗn loạn như Từ Châu, chẳng biết sẽ gặp phải bao nhiêu phiền phức nữa.

Có lòng muốn giúp bọn họ, song lại canh cánh về những thiếu nữ bị bắt đi, y đương do dự thì đúng lúc binh lính bên ngoài đã kéo đến, nhất loạt hành lễ với y, “Tướng quân.”

Hoàng Tử Hà ngạc nhiên, “Ô? Sao lại gọi gia là tướng quân?”

Lý Thư Bạch giải thích, “Vì bấy giờ ta được triều đình phong là Bình Nam tướng quân, đương nhiên binh lính sẽ gọi theo chức vụ trong quân doanh.”

Lý Thư Bạch sai các binh sĩ dỡ vàng bạc trên xe xuống kiểm kê. Lại lệnh cho một đội kỵ binh đi truy kích đám loạn đảng bỏ chạy. Đợi tốp kỵ binh đi khỏi, y mới hỏi hai cô gái, “Các cô định thế nào?”

“Chúng tôi định đến Dương Châu, cô cô có nhắn lại rằng đã đến đó.” cô gái họ Trình đáp.

Lý Thư Bạch liền hỏi họ có cần điều binh sĩ hộ tống không, nhưng cả hai cô đều lộ vẻ sợ hãi, lắc đầu quầy quậy, đáp rằng không muốn đi cùng với quan binh. Lý Thư Bạch nghĩ họ từng bị loạn đảng bắt bớ, sợ quân đội và binh lính lắm rồi nên cũng không ép, chỉ bảo họ nhặt thoi bạc và que cời dưới đất lên, “Đây là hung khí giết người, các cô nhớ phải dọn dẹp hiện trường đấy. Thoi bạc này có thể đem đổi thành lộ phí, cứ cầm lấy đi.”

Trên thoi bạc dính bê bết máu và não, chỗ đỏ chỗ trắng. Nghe Lý Thư Bạch nói vậy, Tiểu Thi chần chừ vươn tay toan cầm, song còn chưa chạm đến đã phục xuống nôn khan. Cuối cùng cô gái họ Trình đành xé một miếng vải từ cái xác làm lót tay, bọc lại mà cầm, song không dám nắm chặt.

Lý Thư Bạch vừa kéo cương, cỗ xe liền lao đi vun vút. Hai cô gái cứ nắm chặt lấy càng xe ngồi bất động, mặc cho cỗ xe tròng trành rung lắc.

Chạy một mạch đến ngoại thành Từ Châu, bạt ngàn đồng hoang um tùm cỏ dại, song trên đường cái quan vẫn tấp nập người qua lại. Đó đều là những kẻ phải trốn vào thôn làng trong núi, sợ bị Bàng Huân bắt lính, hiện giờ nghe nói Bàng Huân đã chết, liền mừng rỡ quay về.

Dọc đường xe ngựa tròng trành khiến hai thiếu nữ mềm nhũn cả chân, không xuống xe nổi nữa. Lý Thư Bạch bèn giơ tay đỡ họ xuống xe, còn dặn họ phải theo đường cái quan mà đi, không được rời khỏi đường lớn, để khỏi xảy ra chuyện.

“Có điều, hai cô đã có thể đi từ Liễu Châu đến Từ Châu, giờ lại cùng đến Dương Châu, chắc cũng không khó khăn gì?”

Cả hai đều nhìn y, lặng lẽ gật đầu.

Lý Thư Bạch cũng không hỏi han thêm nữa, thúc ngựa quay đầu đi thẳng.

Cỗ xe vừa lăn bánh, đột nhiên phía sau có người đuổi theo, nắm lấy dây cương, ngước lên nhìn Lý Thư Bạch.

Chính là thiếu nữ họ Trình, gương mặt bê bết bụi đất, cặp mắt trong veo nhìn thấu đáy, tựa hồ vẫn có phần e sợ. Lý Thư Bạch cúi xuống hỏi, “Có chuyện gì ư?”

Cô mím môi, lần tìm trong ngực áo hồi lâu rồi rút ra một cây trâm, liều lĩnh nhón chân giơ lên trước mặt Lý Thư Bạch.

“n công, đây là tín vật định tình năm xưa cha tôi tặng mẹ tôi, sau khi bị bắt, tôi chẳng còn gì hết, chỉ có mỗi cây trâm này là vật quan trọng nhất. Ngày sau, người có thể đem tới Dương Châu tìm tôi, tên của cô tôi là Lan Đại.”
 

Cam Miên

đậu phụ của hòa thượng
Thành viên BQT
Mod - Sưu Tầm
Mod - Công Viên Xanh
Tham gia
13/4/19
Bài viết
1,457
Điểm cảm xúc
976
Điểm
113
Lan Đại.

Nghe thấy cái tên này, Hoàng Tử Hà lập tức ngồi thẳng người dậy, lộ vẻ kinh ngạc.

Lý Thư Bạch nhìn cô, “Làm sao?”

“Cái tên này… Cái tên này là…” Hoàng Tử Hà kích động đến mức nói không nên lời.

Lý Thư Bạch nhận xét, “Lan Đại. Cái tên này khá đẹp, song lại có ý vị phong trần, đương nhiên là của một người con gái trong chốn yên hoa.”

Hoàng Tử Hà kích động đáp, “Nhưng… Nhưng đây là tên của một trong Vân Thiều Lục Nữ, xếp hạng thứ ba đó!”

Lý Thư Bạch nhướng mày, “Sao, lại liên quan tới Vân Thiều Uyển Dương Châu ư?”

“Vâng, gia kể tiếp đi, về sau thế nào?” Hoàng Tử Hà giục.

“Đương nhiên ta không đi tìm cô ta, càng không tới Dương Châu tìm một cô gái lầu xanh. Bởi thế, ta cúi đầu nhìn cô ta nói, ta chỉ tình cờ cứu cô mà thôi. Ngày sau ta sẽ không đi tìm cô, cũng không muốn nhận đồ của cô. Nếu cây trâm này rất quan trọng với cô, thì mau cất nó đi đi.

Song cô ta vẫn khăng khăng không chịu bỏ tay xuống, nhất định giơ cây trâm đó lên trước mặt ta, chĩa đầu nhọn về phía mình, quay đầu kia về phía ta. Đó là một cây trâm sương lá.”

Hoàng Tử Hà lại ồ lên hỏi, “Sương lá à? Trông thế nào?”

“Thân trâm dài chừng bốn tấc, đầu trâm là một khung lá có tơ bạc quấn quanh, các đường gân đều tinh xảo, ở giữa chạm rỗng, nhìn sống động như thật. Bên trên chiếc lá nọ còn khảm hai hạt trân châu nhỏ nhìn như hạt sương.”

“Bằng bạc ư?”

“Phải, ta nhớ không sai đâu.” Lý Thư Bạch đáp, đoạn hỏi, “Ta không hiểu nhiều về trang sức của phụ nữ, nhưng cảm thấy cây trâm bạc đó rất giống cây trâm vàng mà Vương Nhược để lại khi mất tích. Chẳng rõ loại trâm hình gân lá này có phải rất thịnh hành hay không?”

“Không hề, trâm cài bình thường, dù dùng vàng bạc chế thành hình lá, nhưng thường là cả chiếc lá chứ không chỉ có gân. Thiết kế cây trâm tinh xảo đặc biệt như thế, tôi cũng mới thấy lần đầu. Nếu theo lời gia kể, lại còn giống nhau như đúc, thì nhất định bên trong phải có liên quan.”

“Xem ra hai cô gái ta gặp năm xưa có dính dáng đến chuyện này.”

“Tôi cũng nghĩ thế.” Đoạn cô lại hỏi, “Vương gia nhận cây trâm ư?”

“Cây trâm bạc ấy hả?” Lý Thư Bạch bình thản kể, “Không hề. Cô ta thấy ta không đưa tay ra nhận, bèn ném luôn vào khoang xe, sau đó quay đầu bỏ chạy. Bấy giờ trời đã ngả chiều, ánh hoàng hôn chiếu vào cây trâm làm ta lóa cả mắt. Ta bèn giơ tay nhặt nó lên rồi tiện thể quăng xuống bên đường.”

Hoàng Tử Hà chống cằm nhìn y, không hề chớp mắt.

Y hờ hững liếc cô, “Sao hả?”

“Dù định vứt thì vào thành vứt cũng không muộn, vương gia vội gì chứ?”

“Vứt sớm vứt muộn, thế nào chẳng là vứt?” Giọng Lý Thư Bạch vẫn điềm nhiên, “Huống hồ bấy giờ ta thấy cô Tiểu Thi kia đang nhìn mình. Bởi thế khi ta ném trâm đi, nhất định cô ta sẽ nhặt lấy đem trả lại cô Trình.”

“Nếu là tôi, không bao giờ tôi kể với bạn mình rằng món đồ cô tặng người ta, chỉ chớp mắt đã bị người ta ném đi.” Hoàng Tử Hà nói, “Bằng không, cô ấy sẽ càng thê thảm đáng thương hơn.”

“Ta không có hứng nghiên cứu cách ứng xử giữa phụ nữ với nhau.” Lý Thư Bạch cười.

Hoàng Tử Hà chẳng muốn thảo luận vấn đề khó hiểu ấy với hạng người phũ phàng lạnh nhạt lại máu lạnh này nữa. Cô rút cây trâm trên đầu, họa hình cây trâm sương lá lên bàn.

Lý Thư Bạch nhìn chiếc mũ sa không còn trâm để cố định trên đầu cô, hỏi, “Không sợ rơi à?”

Hoàng Tử Hà liền đưa tay lên giữ, “Không sao.”

“May mà hiện giờ ngươi cải trang làm tiểu hoạn quan, lỡ cải trang làm Sa di trên chùa, còn cầm trâm vạch vẽ sao được nữa?”

“Có mõ còn gì.” Cô vội đáp, ánh mắt thẫn thờ nhìn một điểm trong không khí, chẳng rõ đương nghĩ gì, bàn tay vẫn vô thức cầm cây trâm vẽ loạn trên bàn, nhìn kỹ mới thấy đang vẽ hình nửa thoi bạc kia. Vừa vẽ, cô vừa lẩm bẩm, “Thoi bạc khi trước là do thiếu nữ kia cầm, về sau có phải vì họ có hai người, nên mới chia làm hai nửa không?”

“Thứ này từng được dùng làm hung khí, theo lẽ thường có khi họ đã đem đổi thành bạc vụn rồi.”

“Cũng có thể...” Nói đến đây, Hoàng Tử Hà lại nhìn y,“Vương gia còn nhớ hình dáng hai thiếu nữ ấy không?”

“Hai người bọn họ đều cố tình để đầu tóc rũ rượi, tro bụi đầy đầu, mặt bê bết bùn đất, cả người lại loang lổ vết máu, ta và họ chẳng qua chỉ gặp nhau một chốc một lát, không có ấn tượng gì cả. Huống hồ bấy giờ họ mới mười ba mười bốn tuổi, sau khi trưởng thành con gái sẽ thay đổi rất nhiều, đến giờ có khi họ đứng ngay trước mặt ta cũng không nhận ra đâu.”

“Ừm...” Hoàng Tử Hà gật đầu, nào ngờ chiếc mũ sa trên đầu vừa lay động đã rơi xuống.

Lý Thư Bạch nhanh tay nhanh mắt tóm lấy, đoạn cau mày ném vào tay cô, “Ta đã bảo hay là ngươi đóng giả hòa thượng đi mà?”

Cô lặng thinh giơ tay giữ tóc, chợt một lọn tóc rũ xuống trước mặt, cô vừa thẹn vừa giận bèn tóm lấy quấn hai vòng quanh búi tóc, rồi chỉnh lại mũ mãng.

Lý Thư Bạch khinh khỉnh nhìn cô, “Ta chưa từng thấy ai hễ nghĩ ngợi là phải vạch vẽ lung tung như thế cả.”

“Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời mà...” Cô đành lí nhí đáp.

Y cười khẩy, “Sao lại có người có thói quen đó chứ?”

“Biết làm sao được... Trước đây theo cha tôi ra ngoài tra án, có việc cần tính toán thường không tìm được giấy bút, bấy giờ còn mặc đồ con gái mà, luôn có một hai cây trâm trên đầu, bèn rút ra vạch lên mặt đất, thế là rõ cả vụ án. Về sau tôi không bỏ được thói quen ấy, luôn cảm thấy phải vạch vạch mấy cái mới nghĩ thông được.”

“Về sau thì sao?”

“Về sau cái gì?”

“Chính là cây trâm ngươi vạch lên nền đất đó.” Y rất để ý những chuyện nhỏ nhặt thế này.

Hoàng Tử Hà ngơ ngác nhìn y, “Thì rửa sạch lau khô cắm lại lên đầu là được mà.”

Lý Thư Bạch “ồ” một tiếng, thấy cô vẫn nhìn mình chờ câu trả lời, liền đáp, “Khi ta gặp Chu Tử Tần lần đầu tiên gã đang ôm một bao hạt thông và lạc ngào đường, vừa say sưa ngồi cạnh thi thể trong nghĩa trang xem ngỗ tác nghiệm thi, vừa lăng xăng lấy hộ cái này cái kia nữa.”

Hoàng Tử Hà hỏi, “Vương gia dùng từ say sưa để chỉ việc gã ăn hay nghiệm thi?”

Lý Thư Bạch liếc cô, “Ngươi thấy sao?”

“Tôi cảm giác được mà.” cô nói khẽ.

“Bấy giờ nghe nói con gái Hoàng Mẫn rất giỏi phá án, lại là thần tượng của Chu Tử Tần, cảnh tượng đầu tiên hiện lên trong tâm trí chính là một cô gái ngồi bên cạnh thi thể ăn hạt thông và lạc ngào đường.”

Hàng mi Hoàng Tử Hà bất giác nhướng lên, “Giờ thì sao?”

“Ta rất mừng, ngươi chẳng qua chỉ thích vạch vẽ lung tung, hơn nữa còn biết phải rửa sạch cây trâm sau khi vạch xuống đất.”

Hoàng Tử Hà rầu rĩ nói, “Đừng gộp chung tôi vào với Chu Tử Tần.”

Lý Thư Bạch điềm nhiên nói, “Nhưng dường như ngươi chính là mục tiêu gã theo đuổi.”

“Đó chẳng qua là ảo tưởng về một thứ chưa từng thấy thôi, giống như người ta luôn cảm thấy phong cảnh đằng xa đẹp hơn, giấc mộng hồi nhỏ mới là đẹp nhất. Thực ra nếu Chu Tử Tần biết tôi chính là Hoàng Tử Hà, nhất định sẽ vừa bực bội vừa khó chịu, không chừng cuối cùng mộng tưởng bấy lâu nay cũng sụp đổ.”

Nghe cô nói, khóe môi Lý Thư Bạch thoáng cong lên thành một nụ cười. Y gật đầu, “Có lẽ. Bởi thế ngươi cứ làm một tiểu hoạn quan trước mặt hắn thì tốt hơn.”

“Đúng vậy... Tốt nhất đừng phá vỡ mộng tưởng của Chu công tử.” Hoàng Tử Hà gật đầu, chợt cảm thấy một luồng sáng xói vào mắt mình, cô vội giơ tay che mắt, phát hiện ra là nắng đã xiên ngang.

Thì ra bàn bạc hồi lâu, đã gần đến hoàng hôn. Cô vội cáo lui, rời khỏi gác Ngữ Băng đi về phòng mình.

Hành lang quanh co, nhà cao cửa rộng. Hoàng Tử Hà buông thõng tay áo, bàn tay vô thức siết chặt tấm lệnh tín Đại Đường Quỳ Vương kia, ngẩng đầu trông thấy ráng chiều rơi rớt cuối trời, lòng bỗng trào lên một niềm thương cảm.

Cha mẹ người nhà đã chết được nửa năm mà hung thủ vẫn mịt mù tăm tích, vụ án trước mắt lại khó mà tra xét, muôn ngàn manh mối, chẳng biết ngày nào mới vén được bức màn bí mật

Lần đầu tiên, cô sinh lòng hoài nghi chính mình. Cô thầm nhủ, Hoàng Tử Hà, nếu cứ thế này thì cả đời ngươi có cơ hội cởi bỏ bộ đồ hoạn quan, khoác lên người xiêm y nữ nhi, kiêu hãnh nói với mọi người trên đời rằng, ta họ Hoàng, ta là một cô gái, ta chính là Hoàng Tử Hà nữa hay không?

Cả đêm trằn trọc suy diễn ra đủ loại khả năng song không cách nào giải thích được Vương Nhược biến đi đằng nào, cái xác thân phận không rõ ràng kia lại từ đâu xuất hiện.

Bởi thế hôm sau lúc trở dậy, Hoàng Tử Hà bước đi loạng choạng hẳn, chưa kể đầu đau như búa bổ, thắt lưng mỏi như dần. Cô ngồi xuống bàn soi gương, thấy sắc mặt mình tái nhợt, chẳng khác nào bóng ma.

Nhưng có sao, dù gì hiện giờ cũng đang là một tiểu hoạn quan, ai thèm để ý một tiểu hoạn quan có giống ma hay không chứ. Cô đành cam chịu, đi lấy nước rửa mặt chải đầu rồi xuống nhà bếp ngó nghiêng. Bà phụ bếp vừa nhác thấy cô liền tươi cười niềm nở, dúi cho cô mười bảy mười tám cái nem, “Dương công công, chúc mừng chúc mừng nghe nói cuối cùng vương gia cũng ban danh phận cho rồi phải không?”

“Phụt...” Hoàng Tử Hà đang nhai miếng nem trong miệng, tức thì phun ra, “Danh phận... gì cơ?”

“Sáng nay trong phủ đã bàn tán xôn xao, nói rằng hiện giờ công công đã được đưa vào biên chế vương phủ, trở thành một hoạn quan chính thức rồi nha.”

“Ồ...” Cô lặng lẽ cầm một chiếc nem nữa đưa lên miệng, lúng búng hỏi, “Là hoạn quan hạng bét hả?”

“Ô, sao lại gọi là hạng bét, phải gọi là sơ cấp, công công tiền đồ vô lượng mà!” Bà phụ bếp hớn hở nói, “Mấy năm trước Tùy Châu gặp nạn đói, rất nhiều người không còn đường sống, bèn tự thiến hòng làm hoạn quan mà không được đâu! Công công nhìn tôi này, ở nhà bếp hai chục năm nay, vẫn là chân chạy vặt tạm thời, không được vào danh sách gia nô. Vậy mà công công mới đến một hai tháng đã trở thành hoạn quan thuộc biên chế vương phủ rồi.”

Hoàng Tử Hà chẳng biết nói sao, thì ra làm một tên hoạn quan trong vương phủ cũng có nhiều người ghen tị đỏ cả mắt như vậy, nếu mình phí phạm chức danh quý báu này thì thực đáng tiếc quá.

Cô đang vừa đối đáp với bà phụ bếp vừa ăn sáng thì nghe bên ngoài có người gọi, “Dương Sùng Cổ, Dương Sùng Cổ đâu rồi?”

Cô húp vội một hớp bơ đặc rồi thưa, “Tôi ở đây!”

“Vương gia lệnh cho ngươi mau tới hiên Xuân Dư, có người đợi.”

Sáng sớm ngày ra, ai đã đến tìm cô nhỉ?

Hoàng Tử Hà hối hả chạy đến hiên Xuân Dư, nhận ra Trần Niệm Nương đang ôm đàn đứng đợi.

“Trần nương, sao lại đích thân tới tìm tôi thế này?” Cô ngạc nhiên bước đến nghênh đón, đỡ lấy cây đàn trong tay bà ta, đoạn giúp bà ta đặt lên kỷ đàn.

Trần Niệm Nương cười đáp, “Đương nhiên là do công công học đàn không chuyên tâm, hai ba hôm chẳng thấy đến lần nào, ta đành phải tới đây tìm.”

“Trần nương à, thực rất xin lỗi.” Rõ ràng biết bà ta nói đùa, song Hoàng Tử Hà vẫn xin lỗi rối rít, “Dạo nàytôi bận quá, cứ chìm đắm trong đủ việc thế tục, quên cả tiếng thanh tao rồi.”

Ta cũng có nghe nói Quỳ vương phi quả là phúc mỏng, vốn dĩ đang được muôn người ngưỡng mộ, nào ngờ chớp mắt lại chết thảm như thế, đồn rằng di thể tang thương đến không nỡ nhìn, thực khiến người ta đau xót mà.” Trần Niệm Nương vừa so lại dây đàn vừa than thở.

Hoàng Tử Hà thầm nghĩ, Trần nương, bà đâu biết thi thể Ức Nương của bà cũng thê thảm khôn xiết, khiến người ta xót xa nào kém cái xác vô danh kia.

Nhìn gương mặt cúi thấp của Trần Niệm Nương, cô chợt thấy thôi thúc muốn trao miếng ngọc dương chi lấy được trong mình Phùng Ức Nương ra, nói với bà ta rằng, Ức Nương đã chết rồi, bà đừng ở đây tìm kiếm chờ đợi nữa. Song nhìn tóc mai Trần Niệm Nương chỉ trong dăm ngày đã lốm đốm sợi bạc, cô lại không sao thốt nên lời.

Trần Niệm Nương cúi đầu, thuận tay gảy nửa khúc Bái tân nguyệt. Dường như cả không gian bên trong bên ngoài phòng đều thánh thót ngân lên theo tiếng đàn của bà ta, cảm giác như màn đêm tĩnh lặng theo về.

Hoàng Tử Hà cảm thán, “Tiếng đàn của Trần nương quả là thiên hạ vô song.”

“Sao có thể chứ!” Trần Niệm Nương đặt hờ đôi tay lên dây đàn, ngẩng đầu chậm rãi nói, “Nếu bàn về nghề đàn ta chẳng qua chỉ mới là chạm ngõ, bằng Cẩm Nô vậy thôi.”

Hoàng Tử Hà tiện miệng hỏi, “Trần nương gần đây có gặp Cẩm Nô chăng?”

“Không có, đây cũng là nguyên nhân hôm nay ta tới tìm công công.” Bà lo lắng nói, “Hôm qua ta đến Hữu giáo phường ở phường Quang Trạch tìm Cẩm Nô, thì nghe nói đã nhiều ngày nay cô ấy không đến giáo phường.”

“Ồ?” Hoàng Tử Hà ngạc nhiên, “Không tìm thấy Cẩm Nô ư?” Câu Cẩm Nô nói hôm trước cô vẫn canh cánh trong lòng, còn định mượn cớ tới tìm nàng dò hỏi nữa.

“Ừm. Đằng giáo phường rất nhiệt tình, cho mở cửa phòng cô ấy tìm kiếm. Nào ngờ mấy món quần áo trang sức mà cô ấy thích đều biến mất, cả cây tỳ bà do sư phụ tặng mà cô ấy trân trọng nhất cũng bị đem đi. Người trong giáo phường đành giậm chân bực bội, nói rằng có lẽ lại vừa mắt gã lông bông nào đó nên bỏ theo gã rồi. Nghe nói từ sau thời Huyền Tông, việc quản lý của giáo phường ngày càng lơi lỏng, những năm gần đây, chuyện thế này chẳng phải hiếm hoi gì.”

“Cô ấy cũng... mất tích rồi ư?” Hoàng Tử Hà không khỏi kinh ngạc, thêm cả Cẩm Nô thì đây đã là người thứ ba vô cớ biến mất rồi.

Trần Niệm Nương vội đáp, “Đúng thế, hôm qua ta đợi cô ấy mãi mà không được cũng đâm lo. Ta cảm thấy dù cô ấy bỏ theo ai thì tình hình cũng không như thế, cô ấy chỉ thân thiết với mỗi Chiêu vương mà thôi, ta đã khuyên ngăn mấy lần, song cô ấy không nghe...”

“Trần nương đừng cuống, bà kể tỉ mỉ cho tôi về chuyện Cẩm Nô đi, đặc biệt là động tĩnh của cô ấy mấy ngày trước khi mất tích ấy.” Hoàng Tử Hà vội bê một chiếc ghế lại ngồi xuống bên cạnh bà ta.

Trần Niệm Nương than thở, “Ta hỏi kỹ người ở giáo phường thì họ nói lần cuối cùng gặp Cẩm Nô là buổi tối ba hôm trước, sắp đến giờ giới nghiêm, cô ấy ngà ngà say trở về, nghe nói là đến Chuế Cẩm Lâu uống rượu.”

Hoàng Tử Hà gật đầu, “Hôm ấy tôi cũng ở đó, bấy giờ vì cô nương họ Vương ở trong cung xảy ra chuyện nên cả đám người mượn cớ bàn luận vụ án, kéo nhau đi ăn.Chẳng biết ai gọi Cẩm Nô đến, hình như cô ấy cũng thích náo nhiệt, tối hôm đó cô ấy rất hăng hái, còn giúp chúng tôi gói anh đào lại nữa - có điều đôi tay cô ấy giữ gìn hết sức cẩn thận, rõ ràng xưa nay không phải làm gì, bị cuống anh đào đâm phải mà cũng xuýt xoa trách móc.”

“A đầu này là thế đấy, khẩu xà tâm Phật, tính tình rất tốt song nói năng hơi khó nghe.” Trần Niệm Nương nói.

Hoàng Tử Hà lại hỏi, “Trần nương, lần trước bà bảo sẽ viết thư cho Lan Đại, giờ đã có hồi âm chưa?”

“Vội gì chứ, dù Lan Đại nhận được thư lập tức bảo Tuyết Sắc lên kinh ngay thì cũng phải mất mấy ngày, sao giờ đã đến được?”

Hoàng Tử Hà im lặng lắng nghe bà ta than thở, chợt xen vào một câu, “Tuyết Sắc hẳn phải gọi Lan Đại là cô cô nhỉ?”

“Đúng vậy, Lan Đại và Mai Vãn Trí là tỷ muội, đương nhiên là cô cô của Tuyết Sắc.” Trần Niệm Nương gật đầu, “Lan Đại xếp hàng thứ ba trong sáu người, đứng đầu về vũ điệu ở Dương Châu, mấy điệu Lục yêu, Hồi ba, Xuân oanh chuyển, nghe nói là thiên hạ vô song.”

Hoàng Tử Hà lại hỏi, “Chẳng rõ Trần nương còn nhớ không, năm xưa Tuyết Sắc một mình đến Dương Châu ư? Hẳn còn có một thiếu nữ đi cùng chứ?”

Trần Niệm Nương “à” lên một tiếng, “Nói mới nhớ, bấy giờ Tuyết Sắc đi cùng Tiểu Thi. Nghe nói cha mẹ Tiểu Thi đều chết trong chiến loạn, kết nghĩa tỷ muội với Tuyết Sắc ở Từ Châu, đôi bên thề sống chết có nhau, nên cùng tới Dương Châu.”

Hoàng Tử Hà lẳng lặng gật đầu, sau khi kiểm chứng được suy luận của mình, cô lại đâm ra bối rối, không biết suy luận ấy có giúp ích gì cho vụ án này hay không, chỉ lờ mờ cảm thấy, đó rõ ràng là một manh mối quan trọng mà mình chưa bao giờ dò ra được.

Một vụ án cũng như một gốc đại thụ, phần phía trên lớp đất mà người ta nhìn thấy được, vĩnh viễn chỉ là một bộ phận nhỏ, bên dưới bao giờ cũng có những đoạn rễ khổng lồ chằng chịt đan cài vào nhau, nếu không nhổ bật lên thì mãi mãi không biết đươc hình dạng thật sự chôn sâu dưới đất kia.

Nhắc đến Tuyết Sắc và Tiểu Thi, dường như Trần Niệm Nương lại nhớ ra chuyện gì đó, cứ thần thờ nhìn gốc cây lẻ loi ngoài cửa sổ hồi lâu, rồi bỗng ròng ròng nước mắt.

Hoàng Tử Hà vội vỗ nhẹ vai bà ta, nhỏ giọng an ủi, “Trần nương, bà đừng quá đau lòng.”

“Sao có thể không đau lòng kia chứ... Thực ra ta cũng biết, Ức Nương không trở về được nữa rồi” Trần Niệm Nương đờ đẫn nói mà nước mắt lăn dài, “Đêm qua ta lại mơ thấy Ức Nương, thân hình trong suốt như lưu ly lơ lửng trước mắt ta. Ức Nương nói: Niệm Nương, hoa thơm bao độ, cảnh đẹp dễ tàn, ngày sau chỉ còn một mình muội lênh đênh giữa cõi đời thôi... Ta giật mình tỉnh dậy, chỉ thấy gió đùa bóng trúc ngoài song, lời Ức Nương nói trong mơ vẫn văng vẳng bên tai. Ta biết Ức Nương đã không còn trên đời nữa rồi...”

Hoàng Tử Hà thấy lòng trống rỗng, cô rút trong tay áo ra một chiếc khăn lau nước mắt cho Trần Niệm Nương, nào ngờ một vật nho nhỏ bọc bằng giấy cũng lăn ra theo. Bao giấy nọ tựa như có mắt, lăn ngay đến trước mặt Trần Niệm Nương. Trần Niệm Nương nhận lấy chiếc khăn Hoàng Tử Hà đưa, cầm lên chặm nước mắt, khuỷu tay tỳ ngay lên bao giấy.

Đầu óc đang không tỉnh táo, bà ta cũng không cảm giác được cánh tay mình bị cấn.

Hoàng Tử Hà thoáng do dự, cảm thấy tiếp tục giấu giếm chuyện này cũng chẳng được tác dụng gì, bèn rút bao giấy nhỏ từ dưới khuỷu tay Trần Niệm Nương đưa cho bà ta, “Trần nương mở cái này ra đi.”

Trần Niệm Nương bưng mắt nghẹn ngào hỏi, “Cái gì vậy?”

Hoàng Tử Hà không đáp, chỉ nhìn bà ta.

Trần Niệm Nương chần chừ, rồi chậm chạp giơ tay mở tờ giấy trắng bọc bên ngoài.

Bên trong lộ ra một miếng ngọc trắng muốt, trong veo không tì vết, tuy chỉ bằng móng tay, song nhỏ như vậy lại càng thêm lung linh khả ái.

Tay Trần Niệm Nương run lên bần bật, bà ta vội giơ viên ngọc soi ra ánh sáng, trông thấy chữ “niệm” khắc trên đó.

Nắng từ cửa sổ rọi vào, khiến chữ “niệm” càng rạng ngời, lấp lóe ánh vàng, làm người ta chói cả mắt.

Trần Niệm Nương nhắm nghiền mắt lại, tựa hồ đã bị chữ “niệm” nhỏ bé kia làm lòa mắt, từ nay không thể thấy bất cứ thứ gì trên đời nữa.

Thật lâu, thật lâu. Bà mới run run hỏi, “Tìm, tìm được ở đâu vậy?”

“Trong đám dân lưu vong U Châu chết vì bệnh dịch có một thi thể chừng bốn mươi tuổi. Không như những người khác, bà ta trúng độc mà chết. Nhưng khi chúng tôi tìm đến, thi thể bà ấy đã được hỏa táng, chỉ còn lại viên ngọc này.” Cô không nói bọn họ tìm được nó trong bụng Phùng Ức Nương, sợ Trần Niệm Nương bị choáng váng quá độ.

“Hơn hai mươi năm trước, ta với Ức Nương vẫn còn là thiếu nữ, chưa có tên tuổi, tài nghệ cũng chưa có gì xuất chúng, phải dành dụm mãi mới mua được hai miếng ngọc dương chi, chia ra khắc lên hai chữ 'ức' và 'niệm', trao cho nhau. Bấy giờ còn nói, cả đời nương tựa, vĩnh viễn bạn bầu...” Trần Niệm Nương nắm chặt miếng ngọc, nói đến đây, đã khóc lặng đi.

Hoàng Tử Hà lặng lẽ ngồi cạnh bà, nhìn những tia nắng xuyên qua khe cửa rọi lên mặt Trần Niệm Nương, khiến những sợi bạc bên mai cùng mấy nếp nhăn nhỏ trên mặt càng hằn rõ, đâu còn là người phụ nữ xinh đẹp mặn mà cô gặp tháng trước.

“Là kẻ nào, kẻ nào đã giết Ức Nương?” Trần Niệm Nương chậm rãi hỏi.

Hoàng Tử Hà hít sâu một hơi, đoạn lắc đầu đáp, “Trước mắt vẫn chưa biết được. Nhưng tôi nghĩ việc này có liên quan đến vụ án cô nương họ Vương mất tích.”

“Cô nương họ Vương ư?”

“Chính là Quỳ vương phi mấy ngày nay người ta vẫn bàn tán xôn xao đấy.”

Trần Niệm Nương nắm chặt miếng ngọc trong tay, đờ đẫn gật đầu.

“Tôi đã tra được, con gái người bạn cũ mà Ức Nương hộ tống lên kinh chính là Vương Nhược, con gái nhà họ Vương. Thực ra tôi từng gặp Ức Nương ở chỗ Vương Nhược một lần, đã biết chuyện này từ lâu, có điều bấy giờ sợ bà đau lòng nên không dám nói ra.”

Trần Niệm Nương hoang mang, “Song hiện giờ, nghe nói Vương Nhược đã chết....”

“Đúng vậy, tôi nghi ngờ cái chết của Ức Nương có liên quan đến cái chết của Vương Nhược. Chân tướng vẫn chưa phơi bày, tôi cũng chưa có manh mối gì cả.”

“Có thể tra ra chân tướng sao?” Trần Niệm Nương ngẩn ngơ lẩm bẩm.

Hoàng Tử Hà đáp, “Ít nhất, tôi cũng sẽ dốc hết sức mình.”

Trần Niệm Nương rời vương phủ trong trạng thái thẫn thờ ngơ ngẩn. Bấy giờ đã sắp đến trưa, Hoàng Tử Hà tiễn bà về xong, vừa quay vào trong vừa mải ngẫm nghĩ vụ án nên bước hụt, suýt nữa ngã nhào, khó khăn lắm mới vịn được một gốc cây để trụ vững lại.

Mấy người canh cửa vội vã phủi ghế mời cô ngồi, còn rót cho cô một ly trà. Bên cạnh là mấy tên hoạn quan rảnh rỗi đang tán gẫu, cô cũng thấy miệng khô rang, bèn ngồi xuống cạnh họ, uống ừng ực hết ly trà, lại rót thêm chén nữa.

Lư Vân Trung, hoạn quan phụ trách quét dọn hiên Duyên Hi tuổi mới hai mươi, rất ưa những chuyện vụn vặt trong nhà ngoài ngõ, thấy Hoàng Tử Hà ngồi xuống bèn huých huých cô, háo hức hỏi, “Này này, Sùng Cổ nói xem, ngươi hay qua lại đằng nhà họ Vương nhất, có cảm thấy cái chết của Vương cô nương lần này là tổn thất lớn nhất của nhà họ trong mấy năm trở lại đây không?”

Hoàng Tử Hà ngẩn ra, còn chưa kịp hiểu tên này đang nói gì, “Hở?”

“Không phải à? Sau loạn Hầu Cảnh, nhân tài nhà họ Vương Lang Gia rơi rụng cả, nhất là mấy đời nay chẳng có gương mặt nào xuất chúng, tiếng nói trên triều không còn trọng lượng, cả nhà duy trì được uy thế chỉ nhờ vào hai vị hoàng hậu người trước kẻ sau, song nghe nói hiện giờ họ chẳng còn cô gái nào xuất sắc nữa đâu. Khó khăn lắm mới nảy ra một cô tàm tạm được chọn làm Quỳ vương phi, giờ lại chết mất. Đó, giờ không bấu víu vào Quỳ vương phủ nhà ta được nữa rồi, sau này chỉ dựa vào một mình Hình bộ thượng thư Vương Lân cáng đáng thôi.”

Bên cạnh có người chen vào, “Chẳng qua vì là nhà họ Vương nên mới bị nói sa sút, chứ người ta vẫn còn một hoàng hậu một thượng thư đương triều kia mà.”

“Đâu nào, từ khi triều ta mở nước đến giờ, nhà họ Thôi ở Bác Lăng đã có đến hơn ba mươi tể tướng, ngươi xem họ Vương Lang Gia phong quang vô hạn triều trước thì sao? Dù cộng thêm cả họ Vương ở Thái Nguyên, hiện giờ cũng chẳng bì được họ Thôi đâu.”

Hoàng Tử Hà làm thinh uống trà, bụng bảo dạ, thúc phụ của Thôi Thuần Trạm là Thôi Ngạn Chiêu cũng vang danh trong triều, phong thái rất xứng đứng đầu trăm quan. Nếu không có gì bất ngờ, hẳn nhà họ Thôi lại sắp có thêm một tể tướng nữa rồi.

“Vậy cũng đỡ rồi, ngươi coi họ Tạ ở Trần quận xem? Sau loạn Hầu Cảnh, bọn họ gần như bị diệt môn kia.” Lại có người xen vào.

Rồi có người khăng khăng phản đối, “Cũng không hẳn, nếu họ Vương sa sút đến thế thì vương gia đâu thể kết thân với họ? Phải nhớ rằng họ Vương vẫn còn đích tôn Vương Uẩn kia kìa, người này thực là văn nhã phong lưu, luận tướng mạo, luận khí chất, tuy không bì được Quỳ vương gia nhà ta song cũng là nhân vật cực kỳ xuất sắc. Huống hồ vương gia cũng khá thân thiết với y, thường cùng nhau ra ngoài, quả là nhật nguyệt cùng tỏa sáng, lần nào cũng khiến thiếu nữ kinh đô phải nhao hết ra đường, chen nhau xem mặt đấng trượng phu hoàn mỹ vào hàng nhất nhì thiên hạ.”

Nói cũng phải, nghe đồn Vương Uẩn có phong phạm đại gia, lại thêm văn võ song toàn, chưa hết, hai tháng trước y còn dẫn theo binh mã ty Phòng vệ trong kinh truy bắt thổ phỉ ở ngoại ô, giành được toàn thắng, tiêu diệt tất cả bọn chúng rồi quay về!”

“Ồ, chuyện này ta cũng biết.” Lư Vân Trung nói, đoạn ra hiệu cho mọi người chụm đầu lại gần, hạ giọng thật thấp, làm bộ thần bí kể, “Nghe nói đám thổ phỉ này có liên quan đến Bàng Huân! Là một toán tử sĩ dưới trướng hắn tụ lại, hòng lẻn vào kinh thành ám sát Quỳ vương gia!”

Quả nhiên tin này khiến tất cả đều kinh ngạc, “Ôi cha... Sao chúng ta chỉ nghe nói là thổ phỉ thôi mà?”

“Đương nhiên là triều đình cố ý bưng bít rồi! Thuộc hạ của Bàng Huân bị giết từ ba năm trước còn khơi lại đống tro tàn, chuyện này lộ ra há chẳng làm rối loạn lòng người ư? Bởi thế, hữu đô úy Vương Uẩn của ty Phòng vệ kinh thành vừa nghe nói là lập tức dẫn người mai phục ở ngoại ô, nửa đêm đón địch, trong nháy mắt đã giết sạch bọn chúng, bộ Binh cho chôn ngay tại chỗ, chỉ nói là giết một toán thổ phỉ thôi!”

“Ồ? Vậy sao ngươi biết được?”

“Ha ha, đại ca đây có người quen trong bộ Binh mà...” Lư Vân Trung dương dương tự đắc, “Đừng quên Tiền Đại ở đối diện nhà tiểu đệ của Tứ thẩm ta làm ở bộ Binh, chính là người phụ trách chôn cất thi thể lần đó đó!”

“Ai biết mà quên!” Tất cả cùng cười nhạo.

“Nếu Vương Uẩn thực sự lợi hại như thế, tại sao con gái nhà họ Hoàng đã hứa hôn từ nhỏ lại nhất quyết cự tuyệt y?”

“Ồ... chuyện này thì...”

“Phải đấy, nghe nói vì không muốn về với Vương Uẩn, cô ta đã hạ độc giết chết cả nhà! Gả cho Vương Uẩn đáng sợ đến thế à?”

“Cái đó... có thể là cô ta bị điên!”

“Bất kể cô ta có điên hay không, ta chỉ biết về sau Vương Uẩn chắc sẽ khó lấy vợ.”

“Sợ gì chứ, cùng lắm thì chọn một nhà gia thế kém hơn chút thôi! Đổi lại là ngươi, cao lớn hoành tráng như thế, đã lấy được vợ chưa hả?”

Giữa tiếng cười ha hả của mọi người, Hoàng Tử Hà đành cười hùa theo. Đợi họ cười chán, chuyển sang câu chuyện ngồi lê đôi mách tiếp theo, cô mới bưng ly trà trong tay lên nhìn chằm chằm hoa văn men đen trên đó, hồi lâu chẳng hề cử động.

Những chuyện cô vẫn nén chặt trong lòng, qua lời đàm tiếu vô ý của người khác, chẳng khác nào nước ao tù bị khuấy động, nổi lên toàn những vẩn đen.

Cha mẹ qua đời đã hơn nửa năm, vụ án kéo dài càng lâu thì càng khó phá giải, hy vọng lật ngược bản án cũng càng xa xôi.

Mà điều duy nhất cô có thể làm bây giờ chỉ là nỗ lực tháo gỡ vụ án hiện tại, có vậy mới đủ tư cách để được Lý Thư Bạch hỗ trợ, giành lấy cơ hội lật lại bản án gia đình, rửa sạch oan khuất cho mình.

Thấy cô lặng thinh, Lư Vân Trung bèn xích lại bắt chuyện, “Sùng Cổ, lúc cô nương họ Vương kia mất tích, ngươi cũng ở đó hả?”

Hoàng Tử Hà gật đầu.

Lư Vân Trung hỏi ngay, “Nghe nói ngay trước mắt một ngàn tám trăm binh sĩ, Quỳ vương phi đột nhiên tỏa ra một làn khói xanh rồi biến thành tro bụi bay mất phải không?”

Hoàng Tử Hà toát cả mồ hôi, lời đồn hình như quá phóng đại rồi thì phải?

“Rõ là nhảm nhí.” Cô đành đáp.

“Đúng thế, ta đã bảo không thể nào mà.” Bên cạnh có người chen vào, “Nghe nói đã phát hiện di thể rồi, cả người nghi ngút khói đen, trong vòng ba trượng xung quanh, ai hít phải đều chết cả! Sao có thể biến thành tro bụi bay mất được?”

Hoàng Tử Hà càng không còn lời nào để nói. Cô đành đáp, “Hình bộ và Đại Lý Tự đang điều tra, trước khi quan phủ kết án, tất cả phán đoán đều là đoán bừa, mong mọi người đừng tin vào lời đồn nhảm, kẻo lại nghe sai đồn bậy.”

Dù cô nói vậy cũng chẳng ai buồn để tâm, chỉ hỉ hả lục vấn, “Nghe nói sau khi Vương cô nương qua đời, Triệu thái phi lại muốn hứa gả Kỳ Lạc quận chúa cho Quỳ vương gia, có thật không?”

Hoàng Tử Hà không nhịn nổi nữa, đành chắp tay bảo mọi người, “Xin lỗi các vị, vụ án này còn đương trong vòng thẩm tra, tất cả đều phải đợi chân tướng rõ ràng mới công bố được.” Sau đó lại đem bộ Hình và luật vương phủ ra răn đe, bảo những người không can dự đều không được suy luận bừa bãi, để tránh tung tin đồn nhảm ảnh hưởng đến người vô tội. Người của vương phủ càng phải giữ mồm giữ miệng, cẩn thận thị phi.

Mọi người đều vào làm trước Hoàng Tử Hà, đa số còn giữ chức cao hơn cô, song cô đương là tâm phúc của vương gia, lại được tham dự điều tra vụ này, bởi thế ai nấy đều vâng dạ nghe lời, không dám phản bác.

Hoàng Tử Hà lại nhất loạt rót trà cho tất cả để cảm tạ, nức nở khen loại trà này thơm mát đã khát, sau đó lấy cớ bận việc đi trước.

Cô ra khỏi vương phủ, đứng trước cổng ngẩng đầu lên trời cao, lại tẩn mẩn nghĩ đến vụ án phức tạp. Còn đương mải suy tư, chợt nghe tiếng chuông leng keng rồi một cỗ xe ngựa từ trên phố lừ đừ chạy đến, dừng ngay trước mặt.

Cô ngoảnh ra nhìn, thấy người trên xe đã bước xuống chào hỏi, “Dương công công.”

Quả là không phải oan gia không gặp mặt, chẳng mấy khi cô đứng ở cổng, nay vừa đứng thì kẻ tới thăm lại chính là Vương Uẩn.

Vì đang cư tang Vương Nhược nên hôm nay y ăn vận rất giản dị, chỉ khoác một chiếc áo đơn trắng bằng tơ mỏng rất hợp thời tiết, cổ và tay áo điểm xuyết hoa văn kỷ hà xanh biếc, đơn sơ mà thanh nhã. Miếng ngọc bội trắng đeo bên mình được buộc bằng dây tơ màu lục, tay cầm một chiếc quạt gấp nan ngọc xanh, bên trên họa một nhánh trúc thanh tao, càng tỏ rõ cốt cách cao quý được hun đúc nhờ vọng tộc đã có cả trăm năm lịch sử.

Hoàng Tử Hà vốn vẫn xốn mắt mấy bộ quần áo xanh đỏ lòe loẹt của Chu Tử Tần, nay nhìn phục sức của Vương Uẩn thì không khỏi than thầm, cùng là thế gia công tử, sao giữa người với người lại khác nhau trời vực?

Thấy chóp mũi Hoàng Tử Hà lấm tấm mồ hôi, Vương Uẩn tiện tay trao cây quạt cho cô, “Ta định tìm vuơng gia thông báo việc ma chay của Vương Nhược. Vừa hay lại gặp Dương công công, vậy phiền công công dẫn ta vào tham kiến vương gia.”

Hoàng Tử Hà thấy cây quạt của y cứ chìa ra trước mặt, bản thân quả thực cũng hơi nóng liền nhận lấy, vừa quạt vừa gật đầu, “Mời vào.”

Lúc hai người bước vào, đám canh cổng đã thôi huyên thuyên, có điều trông thấy nhân vật trong câu chuyện ngồi lê đôi mách của mình xuất hiện ngay trước mặt, ai nấy đều chột dạ, vội vã đứng dậy hành lễ.

Vương Uẩn chẳng biết nội tình, chỉ đưa mắt nhìn thoáng qua bọn họ rồi tươi cười theo Hoàng Tử Hà đi về phía hiên Tịnh Dữu.

Cảnh Dục và Cảnh Hữu đang đợi sẵn ở tiền sảnh, vừa uống trà vừa nói chuyện tầm phơ. Thấy Vương Uẩn đến, Cảnh Hữu vội mời ngồi, còn Cảnh Dục đứng dậy băng qua sân đi bẩm với Quỳ vương.

Chẳng bao lâu sau, Lý Thư Bạch đích thân ra đón, mời y vào phòng.

Hoàng Tử Hà đang ngần ngừ, không biết có cần theo vào không thì thấy Lý Thư Bạch đi đến giữa sân chợt ngoảnh lại liếc mình, cô đành lúc cúc chạy theo.

Hai người ngồi xuống trước song Tây, Cảnh Hữu mang lò đun trà ra sân, Hoàng Tử Hà tự giác bày mấy ly trà sạch sẽ lên rồi lui ra giúp Cảnh Hữu thêm cành thông vào lò.

Ở bên khung cửa, Vương Uẩn nói, “Gần đây tiết trời bắt đầu nóng nực, vương gia cũng biết đấy, thi thể A Nhược lại không được dễ coi gì, bởi vậy hôm qua người trong họ đã họp lại bàn bạc, cho rằng ba hôm nữa là nhất tuần, chúng tôi chuẩn bị đậy nắp quan tài đưa về quê, để sớm ngày an táng. Tuy rằng gấp gáp nhưng cũng chẳng còn cách nào khác, hiện giờ đành xử lý như thế mà thôi.”

Lý Thư Bạch thoáng trầm ngâm, “Đã chọn được chỗ chôn chưa?”

Vương Uẩn lộ vẻ cảm thương, “A Nhược còn trẻ, lấy đâu ra đất chôn? Trước mắt mới bàn rằng lấy tạm mảnh đất sắp sẵn năm ngoái cho bà cô của muội ấy trong nghĩa địa gia tộc. Còn như bia mộ, đã sai người về quê thuê khắc gấp rồi.”

Lý Thư Bạch nói, “Tiểu muội ngươi dẫu sao cũng đã nhận sính lễ của Quỳ vương phủ, ba ngày nữa ta sẽ đích thân tới bái tế.”

“Đa tạ vương gia.” Vương Uẩn cảm kích.

Nhà họ Vương đang gấp rút lo tang ma, công việc bộn bề nên Vương Uẩn chỉ uống xong ly trà đã phải vội vã cáo từ.

Thấy bóng áo trắng thanh khiết của Vương Uẩn băng qua bụi ngọc trâm trước sân, Hoàng Tử Hà vội cầm cây quạt đuổi theo, “Vương công tử, quạt của công tử đây.”

Y quay lại mỉm cười với cô, “Không dùng quạt lò ư?”

“Không có không có.” Cô vội xòe ra cho y xem, “Công tử nhìn này, tôi sợ lấm tro bếp nên vẫn nhét trong ngực áo.”

“Mùa này còn phải đun trà, thảo nào công công đầm đìa mồ hôi.” Vương Uẩn không giơ tay ra nhận, chỉ cúi đầu nhìn cô, “Công công cứ cầm lấy mà dùng.”

“...” Hoàng Tử Hà vẫn khăng khăng chìa cây quạt cho Vương Uẩn, song y đã quay lưng bỏ đi, chỉ xua tay nói, “Công công giữ lấy, lần sau trả ta cũng được.”

Hoàng Tử Hà đứng giữa mảnh sân đầy ngọc trâm, vô thức giơ chiếc quạt đã mở sẵn ra quạt quạt mấy cái, tự dưng càng thấy nóng nực hơn.
 
Trạng thái
Không mở trả lời sau này.

Bạn nên xem

Top