[Thơ] [Thơ Dịch] Cổ Thi: Bản Sắc Thi Ca
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
Tảo
Tác giả: Hồ Chí Minh
***



太陽每早從牆上,
照著龍門門未開。
籠裡現時還黑暗,
光明卻已面前來。

早起人人爭獵虱,
八鐘響了早餐開。
勸君且吃一個飽,
否極之時必泰來。

Tảo

Thái dương mỗi tảo tòng tường thướng,
Chiếu trước lung môn môn vị khai.
Lung lý hiện thời hoàn hắc ám,
Quang minh khước dĩ diện tiền lai.

Tảo khởi nhân nhân tranh liệp sắt,
Bát chung hưởng liễu tảo xan khai.
Khuyến quân thả ngật nhất cá bão,
Bĩ cực chi thì tất thái lai.

Dịch nghĩa
Mỗi sớm, mặt trời vượt lên khỏi đầu tường,
Chiếu tới cửa nhà lao, cửa chưa mở;
Giờ đây trong lao còn đen tối,
Nhưng ánh sáng đã bừng lên phía trước mặt.

Sớm dậy, mọi người đua nhau bắt rận,
Chuông điểm tám giờ, bữa cơm sáng bắt đầu;
Khuyên anh hãy cứ ăn no,
Khổ đến tột cùng, vui ắt tới.

Bản dịch: Buổi Sớm

Mỗi sớm trời lên khỏi ngọn tường
Chiếu vào lao ngục, cửa chưa giương
Khắc này nơi đây còn u tối
Ánh sáng ngoài kia đã tỏ tường.

Sớm dậy mọi người đua bắt rận
Tám giờ chuông điểm, bữa tinh sương
Khuyên anh lấp đầy cơn bụng đói
Khổ cực qua rồi, sướng vui hơn...

Lạc Mỹ Xuyên Thu
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
Nguyên Tiêu
Tác giả: Hồ Chí Minh
***

元宵
今夜元宵月正圓,
春江春水接春天。
煙波深處談軍事,
夜半歸來月滿船。

Nguyên tiêu

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên.
Yên ba thâm xứ đàm quân sự,
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

Dịch nghĩa
Đêm nay, rằm tháng giêng, trăng vừa tròn,
Nước sông xuân tiếp liền với màu trời xuân.
Giữa nơi khói sóng thăm thẳm, bàn bạc việc quân,
Nửa đêm trở về, thuyền chở đầy ánh trăng.


Bản dịch: Rằm Tháng Giêng

Ngày rằm trăng sáng dịp tháng giêng
Trời xanh, nước thẳm tiết xuân viên
Người trong sương khói bàn quân vụ
Đêm về kịp lúc trăng đầy thuyền.

Lạc Mỹ Xuyên Thu

***
(Tháng 2 năm 1948.)

Nguồn:
1. Hồ Chí Minh - Thơ, NXB Văn học, Hà Nội, 1975
2. Hồ Chí Minh toàn tập (tập 5), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
Tẩu Lộ
Tác giả: Hồ Chí Minh
***

走路


走路才知走路難,
重山之外又重山。
重山登到高峰後,
萬里與圖顧盼間。

Tẩu lộ

Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan
Trùng san chi ngoại hựu trùng san
Trùng san đăng đáo cao phong hậu
Vạn lý dư đồ cố miện gian.

Dịch nghĩa
Có đi đường mới biết đường đi khó,
Hết lớp núi này lại tiếp đến lớp núi khác;
Khi đã vượt các lớp núi lên đến đỉnh cao chót,
Thì muôn dặm nước non thu cả vào tầm mắt.

Bản dịch: Đi Đường

Khổ dặm đi đường biết gian lao
Bao phen trùng điệp lớp núi cao
Núi cao truân đến nơi cùng tận,
Ngàn muôn non nước, mắt thu vào.

Lạc Mỹ Xuyên Thu


Bản dịch: (sưu tầm)

Đi đường mới biết gian lao
Núi cao rồi lại núi cao chập trùng
Núi cao lên đến tận cùng
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.

Nam Trân

____
Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
Dạ Lãnh
Tác giả: Hồ Chí Minh
***

夜冷


秋深無褥亦無氈,
縮脛弓腰不可眠。
月照庭蕉增冷氣,
窺窗北斗已橫天。

Dạ lãnh

Thu thâm vô nhục diệc vô chiên,
Súc hĩnh cung yêu bất khả miên.
Nguyệt chiếu đình tiêu tăng lãnh khí,
Khuy song Bắc Đẩu dĩ hoành thiên.

Dịch nghĩa

Đêm cuối thu không đệm cũng không chăn,
Nằm co cẳng cong lưng vẫn không ngủ được;
Trăng soi khóm chuối trước sân càng tăng thêm khí lạnh,
Nhòm qua cửa sổ, sao Bắc Đẩu đã ngang trời.

Bản dịch: Đêm Lạnh

Đêm thu không đệm cũng không chăn
Dáng co, lưng gập, giấc chẳng hoàn
Trăng soi khóm chuối sân thêm lạnh
Cửa sổ trông vời, Bắc Đẩu ngang.

Lạc Mỹ Xuyên Thu

____

Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
Nạn hữu xuy địch 難友吹笛
Tác giả: Hồ Chí Minh
***

難友吹笛

獄中忽聽思鄉曲,
聲轉淒涼調轉愁。
千里關河無限感,
閨人更上一層樓。

Nạn hữu xuy địch

Ngục trung hốt thính tư hương khúc,
Thanh chuyển thê lương điệu chuyển sầu.
Thiên lý quan hà vô hạn cảm,
Khuê nhân cánh thượng nhất tằng lâu.

Dịch nghĩa

Trong tù bỗng nghe khúc nhạc nhớ quê hương,
Âm thanh trở nên thê lương, tình điệu trở nên sầu muộn.
Nước non xa cách nghìn trùng, cảm thương vô hạn,
Người chốn phòng khuê lại bước lên một tầng lầu.

Bản dịch: Bạn Tù Thổi Sáo

Trong tù nghe khúc tư hương
Âm vang sầu não, thê lương ngậm ngùi
Quan hà cách biệt phương trời
Phòng khuê, lầu các, một đời nhớ thương.

Lạc Mỹ Xuyên Thu

======
Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
Dạ túc Long Tuyền 夜宿龍泉
Tác giả: Hồ Chí Minh
***

夜宿龍泉


白天雙馬不停蹄,
夜晚嘗嘗五味雞。
虱冷乘機來夾擊,
隔鄰欣聽曉鶯啼。

Dạ túc Long Tuyền

Bạch thiên "song mã" bất đình đề,
Dạ vãn thường thường "ngũ vị kê".
Sắt lãnh thừa cơ lai giáp kích,
Cách lân hân thính hiểu oanh đề.

Dịch nghĩa

Suốt ngày "đôi ngựa" không ngừng vó,
Đêm đến, lại từng nếm món "gà năm vị".
Rệp và rét thừa cơ xông vào tập kích,
Mừng nghe xóm bên, chim oanh hót báo sáng.

Bản dịch: Đêm ngủ ở Long Tuyền

"Đôi ngựa" đi hoài chẳng nghỉ chân
Gà thêm ngũ vị, tối thường ăn
Rệp, rét thừa cơ xông vào đánh
Mừng sáng, oanh ca, khắp xóm làng.

Lạc Mỹ Xuyên Thu


___________
Chú thích:
Long Tuyền là một huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, nằm giữa Thiên Bảo và Điền Đông. Tác giả chơi chữ: "song mã" là cỗ xe ngựa cho người quyền quý thời xưa, ngụ ý chỉ đôi chân tác giả; "ngũ vị kê" là một món ăn ngon nổi tiếng của Trung Quốc, ngụ ý chỉ đôi chân tác giả bị xiềng tréo giống như chân gà.

Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
Tỳ bà hành 琵琶行
Tác giả: Bạch Cư Dị
***




琵琶行

潯陽江頭夜送客,
楓葉荻花秋瑟瑟。
主人下馬客在船,
舉酒欲飲無管弦。
醉不成歡慘將別,
別時茫茫江浸月。
忽聞水上琵琶聲,
主人忘歸客不發。
尋聲暗問彈者誰,
琵琶聲停欲語遲。
移船相近邀相見,
添酒回燈重開宴。
千呼萬喚始出來,
猶抱琵琶半遮面。
轉軸撥弦三兩聲,
未成曲調先有情。
弦弦掩抑聲聲思,
似訴生平不得志。
低眉信手續續彈,
說盡心中無限事。
輕攏慢撚抹復挑,
初為霓裳後六么。
大弦嘈嘈如急雨,
小弦切切如私語。
嘈嘈切切錯雜彈,
大珠小珠落玉盤。
閒關鶯語花底滑,
幽咽流景水下灘。
水泉冷澀弦凝絕,
凝絕不通聲漸歇。
別有幽愁暗恨生,
此時無聲勝有聲。
銀瓶乍破水漿迸,
鐵騎突出刀鎗鳴。
曲終收撥當心畫,
四弦一聲如裂帛。
東船西舫悄無言,
惟見江心秋月白。
沈吟放撥插弦中,
整頓衣裳起斂容。
自言本是京城女,
家在蝦蟆陵下住。
十三學得琵琶成,
名屬教坊第一部。
曲罷曾教善才服,
妝成每被秋娘妒。
五陵年少爭纏頭,
一曲紅綃不知數。
鈿頭銀篦擊節碎,
血色羅裙翻酒污。
今年歡笑復明年,
秋月春風等閒度。
弟走從軍阿姨死,
暮去朝來顏色故。
門前冷落車馬稀,
老大嫁作商人婦。
商人重利輕別離,
前月浮梁買茶去。
去來江口守空船,
繞船明月江水寒。
夜深忽夢少年事,
夢啼妝淚紅闌干。
我聞琵琶已歎息,
又聞此語重唧唧。
同是天涯淪落人,
相逢何必曾相識。
我從去年辭帝京,
謫居臥病潯陽城。
潯陽地僻無音樂,
終歲不聞絲竹聲。
往近湓城地底濕,
黃蘆苦竹繞宅生。
其間旦暮聞何物,
杜鵑啼血猿哀鳴。
春江花朝秋月夜,
往往取酒還獨傾。
豈無山歌與村笛,
嘔啞嘲哳難為聽。
今夜聞君琵琶語,
如聽仙樂耳暫明。
莫辭更坐彈一曲,
為君翻作琵琶行。
感我此言良久立,
卻坐促弦弦轉急。
淒淒不似向前聲,
滿座重聞皆掩泣。
座中泣下誰最多,
江州司馬青衫濕。

Tỳ Bà Hành


Tầm Dương giang đầu dạ tống khách
Phong diệp địch hoa thu sắt sắt
Chủ nhân há mã khách tại thuyền
Cử tửu dục ẩm vô quản huyền
Tuý bất thành hoan thảm tương biệt
Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt
Hốt văn thuỷ thượng tỳ bà thanh
Chủ nhân vong quy khách bất phát
Tầm thanh âm vấn đàn giả thuỳ
Tỳ bà thanh đình dục ngữ trì
Di thuyền tương cận yêu tương kiến
Thiêm tửu hồi đăng trùng khai yến
Thiên hô vạn hoán thuỷ xuất lai
Do bão tỳ bà bán già diện
Chuyển trục bát huyền tam lưỡng thanh
Vị thành khúc điệu tiên hữu tình
Huyền huyền yểm ức thanh thanh tứ
Tự tố bình sinh bất đắc chí
Đê mi tín thủ tực tực đàn
Thuyết tận tâm trung vô hạn sự
Khinh lung mạn nhiên mạt phục khiêu
Sơ vi Nghê thường hậu Lục yêu
Đại huyền tào tào như cấp vũ
Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ
Tào tào thiết thiết thác tạp đàn
Đại châu tiểu châu lạc ngọc bàn
Gian quan oanh ngữ hoa để hoạt
U yết lưu cảnh thuỷ hạ than
Thuỷ tuyền lãnh sáp huyền ngưng tuyệt
Ngưng tuyệt bất thông thanh tiệm yết
Biệt hữu u sầu ám hận sinh
Thử thời vô thanh thắng hữu thanh
Ngân bình sạ phá thuỷ tương bính
Thiết kỵ đột xuất đao thương minh
Khúc chung thu bát đương tâm hoạch
Tứ huyền nhất thanh như liệt bạch
Đông thuyền tây phảng tiễu vô ngôn
Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch
Trầm ngâm phóng bát sáp huyền trung
Chỉnh đốn y thường khởi liễm dung
Tự ngôn bản thị kinh thành nữ
Gia tại Hà Mô lăng hạ trú
Thập tam học đắc tỳ bà thành
Danh thuộc giáo phường đệ nhất bộ
Khúc bãi tằng giao thiện tài phục
Trang thành mỗi bị Thu Nương đố
Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu
Nhất khúc hồng tiêu bất tri số
Điền đầu ngân tì kích tiết toái
Huyết sắc la quần phiên tửu ố
Kim niên hoan tiếu phục minh niên
Thu nguyệt xuân phong đẳng nhàn độ
Đệ tẩu tòng quân a di tử
Mộ khứ triêu lai nhan sắc cố
Môn tiền lãnh lạc xa mã hy
Lão đại giá tác thương nhân phụ
Thương nhân trọng lợi khinh biệt ly
Tiền nguyệt Phù Lương mãi trà khứ
Khứ lai giang khẩu thủ không thuyền
Nhiễu thuyền nguyệt minh giang thuỷ hàn
Dạ thâm hốt mộng thiếu niên sự
Mộng đề trang lệ hồng lan can
Ngã văn tỳ bà dĩ thán tức
Hựu văn thử ngữ trùng tức tức
Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân
Tương phùng hà tất tằng tương thức
Ngã tòng khứ niên từ đế kinh
Trích cư ngoạ bệnh Tầm Dương thành
Tầm Dương địa tích vô âm nhạc
Chung tuế bất văn ty trúc thanh
Trú cận Bồn giang địa thế thấp
Hoàng lô khổ trúc nhiễu trạch sinh
Kỳ gian đán mộ văn hà vật
Đỗ quyên đề huyết viên ai minh
Xuân giang hoa triêu thu nguyệt dạ
Vãng vãng thủ tửu hoàn độc khuynh
Khởi vô sơn ca dữ thôn địch
Âu á triều triết nan vi thính
Kim dạ văn quân tỳ bà ngữ
Như thính tiên nhạc nhĩ tạm minh
Mạc từ cánh toạ đàn nhất khúc
Vị quân phiên tác Tỳ bà hành
Cảm ngã thử ngôn lương cửu lập
Khước toạ xúc huyền huyền chuyển cấp
Thê thê bất tự hướng tiền thanh
Mãn toạ trùng văn giai yểm khấp
Toạ trung khấp hạ thuỳ tối đa
Giang Châu tư mã thanh sam thấp.

Dịch nghĩa

Ban đêm đưa tiễn khách ở đầu sông Tầm Dương
Gió thu thổi vào lá phong, hoa lau hiu hắt
Chủ nhân xuống ngựa, khách trong thuyền
Nâng chén rượu muốn uông (mà) không có đàn sáo
Say mà không vui vẻ gì (vì) biệt ly sầu thảm
Lúc chia tay lòng mang mang, sông đượm bóng trăng
Chợt nghe có tiếng tỳ bà trên mặt nước
Chủ nhân quyên về, khách cũng không khởi hành
Tìm theo tiếng để hỏi người đàn là ai
Tiếng tỳ bà im bặt, muốn nói mà còn (ngại ngùng) trì hoãn
Bèn dời thuyền lại xin được gặp mặt
Rót thêm rượu, khêu đèn lên, trùng tân tiệc rượu
Gọi đến ngàn lần vạn lần mới bước ra
Tay ôm tỳ bà che khuất nửa gương mặt
Vặn trục gảy dây hai ba tiếng (để thử)
Chưa có khúc điệu gì mà nghe đã hữu tình
Dây nào cũng nghẹn ngào, tiếng nào cũng có ý
Bày tỏ nỗi bất đắc chí trong cuộc đời
Hạ thấp lông mày cứ gảy cứ gảy mãi
Giãi bày hết tâm sự vô cùng hạn
Nhẹ nắn, chậm vuốt, rồi lại gảy tiếp
Thoạt đầu là khúc Nghê thường, sau đó là khúc Lục yêu
Dây lớn ào ào như mưa rào
Dây nhỏ nỉ non như tỉ tê chuyện riêng
(Rồi tiếp đến) tiếng rào rào lẫn tiếng nỉ non
(Nghe như) hạt châu lớn hạt châu nhỏ rắc vào trong mân ngọc
(Nghe như) tiếng chim oanh giọng (líu lo) qua lại trong hoa
Nhịp suối ngập ngừng, nước chảy xuống bãi
Suối nước bỗng lạnh đông, dây đàn ngưng bặt
Tiếng đàn ngưng bặt, không thuận, bấy giờ bỗng yên lặng
Tự có mối sầu u uất riêng, nỗi hận âm thầm phát sinh
Lúc này không có âm thanh mà nghe con hay hơn có
(Bỗng dưng nghe như) tiếng nước bắn tung ra khỏi thành bình bạc vị phá vỡ
(Nghe như) đoàn quân thiết kỵ ào ào đến, đao thương sáng ngời
Nàng dạo tay vào giữa bốn dây (và) chấm dứt ca khúc
Bốn dây vang lên một âm thanh như lụa xé
Thuyền mảng đông tây lặng im, không một tiếng nói
Chỉ thấy vầng trăng thu rọi sáng giữa sông
Nàng trầm ngâm gỡ phím, cài vào giữa các dây đàn
Sửa gọn xiêm áo lại, đứng dậy chỉnh vẻ mặt
Tâm sự rằng, nàng nguyên là con gái chốn kinh thành
Nhà ở lăng Hà Mô
Mười ba tuổi học được ngón đàn tỳ bà
Tên thuộc bộ thứ nhất của giáo phường
Mỗi gảy hết khúc đàn, từng khiến các nhà dạy đàn phục
Mỗi trang điểm xong là đến nàng Thu Nương cũng đố kỵ
Những chàng trai trẻ ở Ngũ Lăng tranh nhau tặng biếu
Một bài ca, thưởng không biết bao là tấm lụa đào
Vành lược bạc, cành trâm vàng đánh nhịp vỡ tan
Quần lụa màu huyết dụ để rượu đổ ra hoen ố
Năm này vui cười, năm sau cũng như vậy
Trăng thu gió xuân, trải một đời nhàn hạ
Em trai đi lính, rồi dì chết
Chiều qua, sớm lại, nhan sắc cũng lão đi
Trước cổng dần vắng tanh, thưa thớt đi ngựa xe
Cũng có tuổi rồi mới làm vợ người lái buôn
Người lái buôn chỉ tham lợi, coi thường biệt ly
Tháng trước đi Phù Lương mua trà
Từ đó đến giờ ở đầu sông một mình với con thuyền không
Quanh thuyền trăng sáng, nước sông lạnh lẽo
Đến khuya bỗng mộng thấy lại thời trẻ trung
Trong mộng thấy khóc nhoè má hồng phấn son
Tôi nghe tiếng tỳ bà đã thán tức
Giờ nghe thêm những lời tâm sự lại càng bùi ngùi
Cùng là kẻ luân lạc ở chốn chân trời
Gặp gỡ nhau đây hà tất đã từng quen biết
Năm ngoái tôi từ biệt kinh vua
Bị biếm đến thành Tầm Dương cho đến nay nằm bệnh
Tầm Dương xứ hẻo lánh không có âm nhạc
Cả năm chưa nghe được tiếng đàn sáo
Tôi ở gần sông Bồn, chỗ thấp và ẩm ướt
Lau vàng, trúc võ mọc quanh nhà
Ở nơi đây sáng chiều nghe được những gì
Có tiếng quốc khóc ra máu và tiếng vượn hú bi ai
Mùa xuân sáng hoa nở, mùa thu ban đêm có ánh trăng
Tôi thường thường đem rượu ra uống một mình
Có phải không có sơn ca thôn địch đâu
Khốn nỗi líu lo, líu liết, thật khó nghe
Đêm nay nghe được tiếng tỳ bà của nàng
Như nghe được tiếng nhạc tiên, tai tạm nghe rõ ràng
Xin ngồi lại đàn một khúc
Tôi sẽ vì nàng làm bài Tỳ Bà hành
Cảm động vì lời tôi nói, nàng đứng một lúc lâu
Rồi ngồi xuống gảy đàn, tiếng bỗng chuyển thành cấp xúc
Buồn thảm không giống như tiếng đàn vừa rồi
Hết những người trong tiệc nghe lại đều che mặt khóc
Trong những người ấy ai là người khóc nhiều nhất
Tư mã Giang Châu ướt đẫm vạt áo xanh.



Dịch Thơ:

Tầm Dương tiễn khách đêm thâu
Lá phong hiu hắt, hoa lau êm đềm
Người xuống ngựa, khách trong thuyền
Rượu nâng chưa cạn mà quên sáo đàn
Say rồi cất tiếng buồn than
Trăng tà rọi bóng, hợp tan trĩu lòng
Tỳ Bà bỗng cất trên sông
Người đà quay gót, kẻ không khởi hành
Lần tìm xin hỏi tính danh
Tỳ bà im tiếng chẳng đành đổi trao
Cập thuyền mong được gặp nhau
Khêu đèn, rượu rót, tiệc vào bày qua
Gọi ngàn lần mới bước ra
Tỳ bà che nửa dung hoa thẹn thùng
Thử đàn, vang tiếng mông lung
Khúc còn chưa gảy mà rung động người
Dây thổn thức, tiếng như lời
Giãy bày cay đắng cuộc đời truân chuyên
Rũ mày đàn gảy triền miên
Vô vàng tâm sự, sầu riêng mấy điều
Nhẹ dừng, chậm vuốt, lại khêu
"Nghê Thường" vừa dứt, "Lục Yêu" dây vào
Lớn thì như tiếng mưa rào
Nhỏ đà tựa lúc thì thào nỉ non
Rì rào lẫn tiếng con con
Hòn hòn mân ngọc rót mòn hạt châu
Trong hoa oanh hót thêm vào
Suốt triền, nước chảy nơi đâu ngập ngừng
Giá lòng đàn cũng chợt ngưng
Lắng trong dạ khách lân lân nỗi niềm
Hận lòng một mối sầu riêng
Đàn không còn tiếng mà điên đảo người
Nước đà tựa phá bình rơi
Lại như thiết kỵ sáng ngời đao loan
Dạo tay giữa bốn dây đàn
Kết rồi một khúc âm vang cõi trần
Trên thuyền chẳng tiếng ai nâng
Sông thu rọi bóng trăng ngần gió lay
Trầm ngâm gỡ phím, cài dây
Áo xiêm khép nép cùng ai giải lời:
Nàng thời con gái kinh đô
Xưa làng ở tận Hà Mô quê nhà
Rành đàn lúc tuổi mười ba
Cầm kỳ hạng nhất trong hoa giáo phường
Khúc đàn bao khách cảm thương
Điểm tô xuân sắc, Thu Nương chẳng bằng
Những chàng trai ở Ngũ Lăng
Tranh mua một khúc, lụa dâng gấm hàng
Vành lược bạc, trâm gãy đàn
Quần hồng rượu đổ tràn lan lụa đào
Năm này chẳng khác năm sau
Xuân thu trăng gió, đời bao hạ nhàn
Em tòng quân, khóc dì tang
Chiều qua, sớm lại, sắc nhan luống già
Cổng dần thanh vắng ngựa qua
Xuân nay đà lỡ vào nhà lái buôn
Doanh tham chia biệt xem thường
Tháng rồi từ giã, Phù Lương mua trà
Thuyền đơn lẻ bóng mình ta
Trăng soi dưới bóng trăng tà lạnh căm
Khuya về mộng thấy thời xuân
Khóc nhòe hương phấn, má son chẳng màn."
Tỳ bà vang tiếng thở than
Này thêm tâm sự hồng nhan bùi ngùi
Cùng thân luân lạc chân trời
Gặp nhau như ngỡ một đời đẩy đưa
Năm rồi từ biệt kinh vua
Tầm Dương mang bệnh vẫn chưa khỏi lành
Đất này hẻo lánh âm thanh
Một năm vắng tiếng đua tranh sáo đàn
Sông Bồn ẩm thấp thanh nhàn
Lau vàng, võ trúc mọc quanh hiên nhà
Sáng chiều những tiếng nghe qua
Quốc kêu tuôn máu, vượn hòa bi ai
Ngày xuân hoa, tối trăng vầy
Đêm thu nâng chén rượu say một mình
Sơn ca cũng hót tâm tình
Nhưng ấm ríu rít chẳng gìn tâm can
Nàng dâng một khúc bên đàn
Như vang tiên nhạc rõ ràng bên tai
Ngồi đàn một khúc đêm nay
Tỳ Bà hành khúc vì ai viết lời
Tần ngần cảm xúc lời tôi
Bèn ngồi xuống gảy, chuyển dời kép dây
Thảm thương hơn khúc vừa đây
Một phen tiệc rượu khóc thay cho nàng
Người mang nức nở rõ ràng
Giang Châu Tư mã ướt làn áo xanh.

Lời tự:
Nguyên Hoà thập niên, dư tả thiên Cửu Giang quận Tư mã. Minh niên thu, tống khách Bồn phố khẩu, văn thuyền trung dạ đàn tỳ bà giả, thính kỳ âm, tranh tranh nhiên hữu kinh đô thanh; vấn kỳ nhân, bản Trường An xướng nữ, thường học tỳ bà ư Mục, Tào nhị thiện tài. Niên trưởng sắc suy, uỷ thân vi cổ nhân phụ. Toại mệnh tửu, sử khoái đàn sổ khúc, khúc bãi mẫn nhiên. Tự tự thiếu tiểu thời hoan lạc sự, kim phiêu luân tiều tuỵ, chuyển tỷ ư giang hồ gian. Dư xuất quan nhị niên điềm nhiên tự an, cảm tư nhân ngôn, thị tịch, thuỷ giác hữu thiên trích ý, nhân vi trường cú ca dĩ tặng chi, phàm lục bách nhất thập lục ngôn, mệnh viết Tỳ bà hành.

元和十年,予左遷九江郡司馬。明年秋,送客湓浦口,聞船中夜彈琵琶者,聽其音,錚錚然有京都聲;問其人,本長安倡女,嘗學琵琶於穆曹二善才。年長色衰,委身為賈人婦。遂命酒,使快彈數曲,曲罷憫然。自敘少小時歡樂事,今漂淪憔悴,轉徙於江湖間。予出官二年 恬然自安,感斯人言,是夕,始覺有遷謫意,因為長句歌以贈之,凡六百一十六言,命曰琵琶行。

(Năm Nguyên Hoà thứ 10, ta về giữ chức Tư Mã ở quận Cửu Giang. Qua mùa thu năm sau, đêm ra tiễn khách bên bến sông Bồn, chợt nghe thuyền ai có tiếng đàn tỳ bà vọng lại. Nghe trong tiến đàn thánh thót, âm vang điệu nhạc ở kinh đô. Bèn hỏi gốc gác. Người đàn bà trả lời rằng "Tôi vốn là con hát, quê ở Trường An, học đàn tỳ bà với hai danh sư Mục và Tào. Nay tuổi đã cao, nhan sắc tàn tạ, lấy chồng làm con buôn (thường theo thuyền buôn đi đây đi đó)". Nghe vậy, cho dọn rượu ra đãi, xin nàng đàn lại cho nghe. Đàn xong cảm xúc vô vàn, nàng bèn kể lại cuộc đời mình từ lúc còn trẻ, vui sướng, cho tới lúc lưu lạc giang hồ khổ nhọc. Ta về đây làm quan đã được hai năm thanh thản yên ổn. Hôm nay nghe nàng nầy nói chuyện, cảm thương cho số phận lưu đầy! Bèn làm một bài thơ dài tặng nàng ta, gồm 616 lời, gọi là Tỳ bà hành.)
Bài thơ này được sử dụng làm bài đọc thêm trong chương trình SGK Văn học 10 giai đoạn 1990-2006.


Đôi lời: Lần đầu tiên dịch thơ mà phải dùng đến thẻ spoiler, dịch xong bài thơ này tôi cũng không biết sao mình có thể kiên trì như thế. Sắp tới có thời gian sẽ xem xét dịch luôn Trường Hận Ca, thơ của Bạch Cư Dị... đúng là không phải người thường.​
 

Bạn nên xem

Top