[Thơ] [Thơ Dịch] Cổ Thi: Bản Sắc Thi Ca
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
Cầm đài 琴臺
Tác giả: Đỗ Phủ
***



琴臺

茂陵多病後,
尚愛卓文君,
野肆人間世,
琴臺日暮雲,
野花留寶靨,
芳草見羅裙,
歸鳳求凰意,
寥寥不可聞。


Cầm đài
Mậu Lăng đa bệnh hậu,
Thượng ái Trác Văn Quân.
Tửu tứ nhân gian thế,
Cầm đài nhật mộ vân.
Dã hoa lưu bảo yếm,
Mạn thảo kiến la quần.
Quy phụng cầu hoàng ý,
Liêu liêu bất phục văn.

Dịch nghĩa
Sau buổi lắm bệnh ở Mậu Lăng,
Càng thêm yêu Trác Văn Quân.
Quán rượu trong cõi nhân gian,
Cầm đài dưới bóng mây chiều.
Hoa dại nằm trong chén quý,
Cỏ hoang vương gấu quần là.
Ý phượng cầu hoàng xưa,
Nay không còn được nghe lại nữa.

(Tư liệu: thivien.net)


Bản dịch: Cầm Đài*

Bỏ chốn Mậu Lăng* đào hoa quấn
Quay về vui cuộc Trác Văn Quân
Quán rượu nhân gian tường khắp cõi
Cầm đài mây phủ bóng giai nhân
Hoa dại say mờ trong chén tửu
Cỏ vấn thơm hương dưới áo quần
Phong tình bỏ lại cầu phượng ý
Vọng tiếng đàn xa biết bao lần.

Lạc Mỹ Xuyên Thu


Chú thích:
*Cầm Đài: đài gảy đàn - Cầm đài là nơi xưa Tư Mã Tương Như thường lên gảy đàn.
*Mậu Lăng: Tên vùng đất có lăng của Hán Vũ Đế năm xưa. Khi đó Tương Như vốn rất phong tình, say mê một người con gái ở Mậu Lăng, có ý muốn cưới nàng làm thiếp. Văn Quân ghen, làm khúcBạch đầu ngâm, Trường Khanh bèn thôi.
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
Bát Nguyệt Thập Ngũ Dạ Nguyệt
Tác giả: Đỗ Phủ
***



八月十五夜月其一

滿目飛明鏡,
歸心折大刀。
轉蓬行地遠,
攀桂仰天高。
水路疑霜雪,
林棲見羽毛。
此時瞻白兔,
直欲數秋毫。

Bát nguyệt thập ngũ dạ nguyệt
Mãn mục phi minh kính,
Quy tâm chiết đại đao*.
Chuyển bồng hành địa viễn,
Phan quế ngưỡng thiên cao.
Thuỷ lộ nghi sương tuyết,
Lâm thê kiến vũ mao.
Thử thì đam bạch thố,
Trực dục sổ thu hào.

Dịch nghĩa
Thấy rõ tấm gương sáng bay,
Lòng mong về quê cũ khiến gãy con dao lớn.
Như cỏ bồng đi nơi đất xa,
Vin cây quế để thấy trời cao.
Đường sông tưởng sương với tuyết,
Ở rừng thấy lông lá.
Lúc này ngắm thỏ trắng,
Muốn có ngay vài sợi tơ mùa thu.
(Tư liệu: thivien.net)

Bản dịch:
Đêm Trăng Rằm Tháng Tám


Ngẩng thấy gương treo cách mấy đào
Lòng thương khách cũ đoạn phân đao
Tiễn cỏ bồng bay về đất hứa
Nương cành hương quế vọng trời cao
Đường về khách ngỡ sông sương tuyết
Lối dạo rừng sâu lẫn chim mào
Cung Quảng nơi nào trông thỏ trắng.
Thu về kéo sợi đến ngàn sao.

Lạc Mỹ Xuyên Thu



Chú thích:
*chiết đại đao: Ngô Cương 呉剛, một ông tiên bị phạt giam trong mặt trăng, buộc phải chặt đứt cây quế. Lòng mong về quê cũ của Đỗ Phủ giống cố gắng cùa Ngô Cương, gãy dao rồi mà vẫn chưa có kết quả.
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
Đăng Nhạc Dương Lâu
Tác giả: Đỗ Phủ
***


(Ảnh: Nhạc Dương lâu)

登岳陽樓

昔聞洞庭水,
今上岳陽樓。
吳楚東南坼,
乾坤日夜浮。
親朋無一字,
老病有孤舟。
戎馬關山北,
憑軒涕泗流。


Đăng Nhạc Dương* lâu

Tích văn Động Đình thuỷ,
Kim thướng Nhạc Dương lâu.
Ngô Sở đông nam sách,
Càn khôn nhật dạ phù.
Thân bằng vô nhất tự,
Lão bệnh hữu cô chu.
Nhung mã quan san bắc,
Bằng hiên thế tứ lưu.

Dịch nghĩa

Xưa nghe nói nước hồ Động Đình,
Nay được lên lầu Nhạc Dương.
Đất Ngô, đất Sở chia tách ở hai phía đông nam,
Trời đất suốt ngày đêm dập dềnh nổi.
Bà con bạn hữu không có một chữ (thư từ qua lại)!
Thân già yếu lênh đênh trong chiếc thuyền côi quạnh.
Quan san phía bắc đang nhộn binh đao,
Tựa hiên, ròng ròng nước mắt, nước mũi!

(Tư liệu: thivien.net)

Dịch Thơ: Lên Lầu Nhạc Dương

Trước hồ Động Đình thường nghe đến
Nay lầu Nhạc Dương lại được lên
Đông Nam hai phía chia Ngô Sở
Trời đất ngày đêm nổi dập dềnh
Thư tín hữu** hàng*** nay chẳng thấy
Thân già một chiếc thuyền lênh đênh
Phương Bắc xa xôi còn chinh chiến
Ngậm ngùi rơi lệ tựa bên hiên.

Lạc Mỹ Xuyên Thu


Bản Dịch chữ Nôm (Sưu tầm): Tú Xương

Mấy cảnh Tiêu Tương vẫn tiếng đồn
Lầu đây hồ đấy trải bao còn
Chia ra Ngô Sở chiều ngang dọc
Chốt lại càn khôn thỏa nước non
Một chữ thân bằng tin nhạn vắng
Nghìn trùng quan tái chiếc thuyền con
Xa xa cõi bắc lầm phong hỏa
Thăm thẳm Trường An mắt đã mòn.



Chú Thích:
*Nhạc Dương: Nhạc Dương lâu là lầu ở cửa Tây thành Nhạc Dương, một trong Giang Nam tam đại danh lâu (hai lầu còn lại là Đằng Vương các và Hoàng Hạc lâu).
**Hữu: Bằng hữu, bạn bè
***Hàng: Họ hàng
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
Xuân Nhật Ức Lý Bạch
Tác giả: Đỗ Phủ
***

Đôi nét về tác phẩm:
(Năm 746) Đỗ Phủ và Lý Bạch quen nhau ở Lạc Dương. Ít lâu sau Lý Bạch đi Giang Đông, Đỗ Phủ về Trường An. Về sau hai người không còn gặp lại nhau nữa. Đỗ Phủ làm bài này khi về Trường An.


春日憶李白
白也詩無敵,
飄然思不群。
清新庾開府,
俊逸鮑參軍。
渭北春天樹,
江東日暮雲。
何時一樽酒,
重與細論文?



Xuân nhật ức Lý Bạch

Bạch dã thi vô địch,
Phiêu nhiên tứ bất quần.
Thanh tân Dữu khai phủ,*
Tuấn dật Bão tham quân.**
Vị bắc*** xuân thiên thụ,
Giang Đông**** nhật mộ vân.
Hà thì nhất tôn tửu,
Trùng dữ tế luân văn?



Dịch nghĩa

Thơ Lý Bạch không có ai là địch thủ,
Tứ thơ phơi phới, nhẹ nhàng không ai bằng được.
Trong sáng, mới mẻ, giống như thơ của Dữu khai phủ,
Hào hùng phiêu dật, giống như thơ của Bão tham quân.
Lúc này tôi đang ngắm hàng cây dưới trời xuân tại Vị Bắc,
Thì bạn đang ở trong bóng mây chiều ở Giang Ðông.
Biết bao giờ được cùng nhau uống một chén rượu,
Và bàn kỹ về thơ văn?

(Tư liệu: thivien.net)

Dịch Thơ: Ngày Xuân Nhớ Lý Bạch

Lý Bạch thi ca ai danh phạm
Tài tứ phiêu nhiên khí bất phàm
Thanh tân như tựa khai phủ Dữu
Phiêu dật hào hùng Bão quân tham
Vị Bắc xuân xanh còn phủ lá
Giang Đông lấp bóng chốn mây ngàn
Đợi ngày nâng chén say rồi tỉnh
Thơ ngày cố hữu lại cùng ngâm.

Lạc Mỹ Xuyên Thu

_______

Chú thích:
*Dữu khai phủ: Tức Dữu Tín 庾信, nhà thơ đời Nam Bắc triều, làm chức khai phủ, có tài văn chương, là tác giả bài Ai Giang Nam phú nổi tiếng.
**Bão tham quân: Tức Bão Chiếu 鮑照, cũng là một nhà thơ đời Nam Bắc triều, làm chức tham quân, nổi tiếng có thi tài.
***Vị Bắc: Lúc này Đỗ Phủ đang ở Hàm Dương, phía bắc sông Vị.
****Giang Đông: Nơi Lý Bạch đang ở lúc này, nay là miền nam tỉnh Giang Tô và miền bắc tỉnh Chiết Giang.
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
Vô Đề 無題
Tác giả: Gia Các Lượng 諸葛亮
***

Giới thiệu tác giả:
Gia Cát Lượng 諸葛亮 (181-234) tự Khổng Minh 孔明, người Dương Đô, Lang Gia (nay là huyện Nghi Nam, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc), từng làm thừa tướng cho Lưu Bị đời Tam quốc, là nhà chính trị, quân sự, phát minh, đồng thời cũng là tản văn gia trứ danh trong lịch sử Trung Quốc. Ông là một đại biểu cho lòng trung thành và của văn hoá truyền thống Trung Quốc. Thời trẻ ông còn có ngoại hiệu là Ngoạ Long 臥龍, hoặc Phục Long 伏龍.


無題
大夢誰先覺,
平生我自知。
草堂春睡足,
窗外日遲遲。

Vô đề *
Đại mộng thuỳ tiên giác,
Bình sinh ngã tự tri.
Thảo đường xuân thuỵ túc,
Song ngoại nhật trì trì.

Dịch nghĩa
Trong giấc mộng lớn, ai là người tỉnh trước?
Trong cuộc đời này ta tự biết ta.
Đang yên giấc ngủ xuân trong ngôi nhà tranh,
Bên ngoài cửa sổ mặt trời (ngày tháng) cứ chậm rãi trôi qua.


Dịch thơ: Không Đề

Giấc mộng lớn lao ai người tỉnh?
Cuộc đời bé nhỏ ta biết ta
Lều tranh yên giấc trong nhà
Mặt trời chậm rãi trôi qua ánh chiều.

Lạc Mỹ Xuyên Thu

Bản dịch: Sưu Tầm
Mộng lớn nào hay ai tỉnh sớm
Bình sinh ta tự biết tài ta
Ngày xuân no giấc nơi lều cỏ
Bóng nắng ngoài song đã xế tà.

Trương Việt Linh

Chú thích:
*Vô Đề: Khi Lưu bị đến thảo lư mời Khổng minh ra làm quân sư cho mình lần thứ ba (Tam cố thảo lư). Khổng minh sau khi ngủ dậy (không biết ngủ thật hay cố ý giả vờ ngủ) xuất khẩu thành bài thơ này.
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
Phong Kiều Dạ Bạc 楓橋夜泊
Tác giả: Trương Kế
***

Đôi nét về tác giả:

Trương Kế 張繼 (?-779) tự Ý Tôn 懿孫, người Tương Châu 襄州, đỗ tiến sĩ năm Thiên Bảo thứ 12 (754), là một nhà thơ có tiếng thời Trung Đường. Thơ của ông trong Toàn Đường thi có chép thành một quyển, nhưng chỉ một bài Phong Kiều dạ bạc 楓橋夜泊 đã giúp ông lưu danh thiên cổ.



楓橋夜泊


月落烏啼霜滿天,
江楓漁火對愁眠。
姑蘇城外寒山寺,
夜半鐘聲到客船。

Phong Kiều dạ bạc*


Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hoả đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự, **
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.


Dịch nghĩa


Trăng lặn, quạ kêu, sương phủ đầy trời.
Hàng phong bên sông, ngọn đèn thuyền chài ở trước người đang ngủ buồn.
Ngoài thành Cô Tô là chùa Hàn San,
Tiếng chuông lúc nửa đêm vẳng đến thuyền khách.


Bản Dịch: Nửa Đêm Đậu Bến Phong Kiều

Bản 1
Trăng lặn, quạ kêu, sương phủ lối
Lửa chày thiêu giấc bãi phong trôi
Cô Tô thành phủ Hàn San tự
Canh tàn chuông gọi khách thuyền côi.

Bản 2
Trăng tàn tiếng quạ phủ trời sương
Hàng phong đèn thắp giấc mộng thường
Cô Tô bến vắng thuyền côi lẻ
Hàn San chuông gọi khách sầu vương.

Lạc Mỹ Xuyên Thu

Bản dịch: Tản Đà

Trăng tà, tiếng quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

(Tư liệu: thivien.net)

Chú thích:
* Đôi nét về bối cảnh: Trong bối cảnh thành Trường An chìm trong cơn tao loạn thì nhà thơ Trương Kế, một đại quan tiến sĩ Ngự Sử đài, chẳng kịp theo đoàn hộ giá vương tôn lánh nạn mà đành lưu lạc xuống tận miền Giang Nam trên chiếc thuyền phiêu bạt. Một đêm ghé bến Phong Kiều, động mối u hoài chất chứa, gợi cảm cùng ngoại cảnh thê lương, bức xúc viết nên bài thơ tuyệt diệu, vượt qua cả không gian và thời gian, lưu truyền hậu thế.
Bài thơ gây khá nhiều tranh cãi về bối cảnh không theo lẽ thường của tác giả, có ý kiến cho rằng nhà thơ chỉ đang ghép vần nên mới có những đoạn văn không theo lẽ thường kia...
Tìm hiểu thêm

** Hàn San Tự: Ngôi chùa nằm ở phía tây trấn Phong Kiều, Tô Châu, được xây vào năm Thiên Giám (502-519) đời Lương Vũ Đế, đến năm Trinh Quán (627-649) đời Đường Thái Tông được gọi là Hàn San tự để tưởng nhớ nhà sư Hàn San cuồng sĩ đã tu ở đây. Trong chùa có tranh tượng hai nhà sư nổi tiếng Hàn San, Thập Đắc.

_____
Đôi lời: Sở dĩ có hai bản dịch là vì có một số ý kiến cho rằng những bản dịch trước của vài dịch giả vì đi theo ý của bài thơ mà đảo lộn trật tự của bản Hán Việt nên Thu đã dựa vào bản Hán Việt để dịch bản 1, tuy nhiên để dễ hiểu và lột tả được ý nghĩa của bài thơ thì Thu cho rằng như bản 2 sẽ phù hợp hơn.
Cuối cùng, ấn tượng của Thu về bài thơ này khá sâu, trước đây Thu từng hạnh ngộ với một vị cố nhân và may mắn được nghe nói về bài thơ này, vì cách nhiều năm nên Thu chỉ nhớ được khoảng đầu và tên của tác giả, cho đến vài hôm trước đột nhiên bắt gặp nên đã quyết định dịch lại bài thơ này, xem như tưởng nhớ người cố nhân kia, trước kia chẳng hiểu vì sao khi nhớ đến người nọ thì trong đầu lại bật ra hai chữ Kế Phong, đến hiện tại mới dần hiểu, đơn giản là nó gắn liền với bài thơ trên, Kế trong Trương Kế, Phong trong Phong Kiều dạ bạc...

 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
Họa Khang ngũ Đình Chi
"Vọng nguyệt hữu hoài"

Tác Giả: Đỗ Thẩm Ngôn
***


Giới thiệu tác giả:
Đỗ Thẩm Ngôn 杜審言 (645-708) tự Tất Giản 必簡, thi nhân Sơ Đường. Đỗ Thẩm Ngôn chính là ông nội của Đỗ Phủ đời Thịnh Đường.



和康五庭芝望月有懷

明月高秋迥,
愁人獨夜看。
暫將弓並曲,
翻與扇俱團。
霧濯清輝苦,
風飄素影寒。
羅衣一此鑒,
頓使別离難。

Hoạ Khang ngũ Đình Chi "Vọng nguyệt hữu hoài"

Minh nguyệt cao thu huýnh,
Sầu nhân độc dạ khan.
Tạm tương cung tịnh khúc,
Phiên dữ phiến câu đoàn.
Vụ trạc thanh huy khổ,
Phong phiêu tố ảnh hàn.
La y nhất thử giám,
Đốn sứ biệt ly nan.

Dịch nghĩa


Trăng thu sáng cao xa,
Ban đêm người buồn một mình coi.
Mới đây cong như cánh cung,
Nay đã tròn như cái quạt.
Sương xuống làm ánh sáng bớt trong,
Gió thổi làm bóng trắng thêm lạnh.
Thoáng thấy như tà áo lụa,
Chợt cảm khó mà rời xa được.

Sưu tầm: thivien.net

Bản dịch: Hoạ bài "Ngắm trăng nghĩ ngợi" của bác năm Khang Đình Chi

Trăng sáng đêm thu cao vời vợi
Dáng người cô quạnh đứng chơi vơi
Vừa mới cong vành như cung tỏa
Nay lại thoắt tròn tựa quạt thoi
Sương xuống phủ mờ trăng sáng tỏ
Gió lùa thêm lạnh bóng trắng trong
Ngoảnh thấy phất phiêu tà áo lụa
Lòng chợt vấn vương chẳng nỡ rời.

Lạc Mỹ Xuyên Thu


*** Không có tư liệu giới thiệu về Khang Đình Chi, tuy nhiên có một bài "Vọng Nguyệt Hữu Hoài" của Lý Bạch sẽ được cập nhật trong phần thơ của ông.
 

Bạn nên xem

Top