[Thơ] [Thơ Dịch] Cổ Thi: Bản Sắc Thi Ca

Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93


Cổ Thi: Bản Sắc Thi Ca

Sưu tập và biên soạn:
Lạc Mỹ Xuyên Thu











Sơ Lược Về Thi Văn

Thi là chí, Văn là đời.

Đó là cội nguồn của văn chương mà các nhà phê bình văn học thường nói.

Văn nhân - Thi sĩ mượn chữ viết để nói lên cái chí của mình, để tả lại cái sự đời. Nhưng để có được một áng văn tuyệt tác, một bài thơ bất hủ họ đã phải dành phần lớn cuộc đời mình để trải nghiệm rồi chiêm nghiệm, suy tư cấu tứ. Ấy chỉ mới là Sức mà thôi, ai ai cũng có thể làm được, nếu muốn. Phần quan trọng hơn đó chính là Tài, mỗi người một vẻ. Thế mới có "chiếu trên" dành cho các bậc Văn hào 文豪 - Thi hào 詩豪!

Khoảng giữa của Văn (tản văn) và Thơ (vận văn) lại tồn tại một thể loại đặc biệt là Phú đại diện cho thể Biền văn, tức kết hợp giữa tản văn và vận văn. Thể loại Phú ngày nay không mấy ai dùng nhưng xưa kia thịnh hành trong một thời gian dài ở Trung Hoa cũng như ở nước ta.
Về cơ cấu và quá trình phát triển cổ thi văn Trung Hoa xin tóm tắt như sau:
Cơ cấu Thi-Phú:

  • Thi kinh > Cổ Phong thi > Đường Luật thi: thi ca thuần tuý, dùng để ngâm vịnh.
  • Sở từ > Phú (lưu thuỷ, đường phú): ngợi ca hay thán oán.
  • Hán Nhạc Phủ > Tống Từ > Nguyên Khúc: làm ca từ cho nhạc kịch.
Cơ cấu Tản Văn:

  • Luận: Luận thuyết (đại thuyết), Nghị luận
  • Ký: Sử ký, Bút ký, Hồi Ký
  • Truyện: Truyền thuyết, Tiểu thuyết
  • Tán: Tự, Bạt; Tế (điếu), Minh
(Trích Cổ Hán Văn của Lỗ Bình Sơn)


Tóm Lược Về Nội Dung

Văn sinh thi, thi hữu văn.

Ngày xưa, thi ca cốt chủ yếu trong những cuộc thi văn nhân, một phần cũng vì nó dễ tóm gọn nội dung hơn là phải viết những câu văn dài dòng lý thuyết.

Bên cạnh đó, cái hay ở thi ca chính là việc đánh giá con người qua việc nhìn cái Chí (志) để đánh giá cái Nhân (人).

"Cổ Thi: Bản Sắc Thi Ca" sẽ giới thiệu một số những tác phẩm thi ca cổ bao gồm thơ cổ Việt Nam và Trung Hoa (Phần lớn là thơ đường). Ngoài những bản tự dịch, Thu sẽ tóm lược vài nét về tác giả, tác phẩm (Bao gồm chữ Hán) cũng như sẽ sưu tầm thêm vài bản dịch của các nhà thơ khác.


Đây là bản dịch dựa vào phần Hán tự và bản Hán Việt nên có phần giống với những bản dịch khác. Nếu có ý kiến về bản quyền, liên hệ người dịch để biết thêm chi tiết, xin cảm ơn.

(Mọi bản dịch sưu tầm thêm sẽ được chú thích)



Danh Sách Tác Giả & Tác Phẩm (Cập nhật)

☆☆☆


Mọi người nếu có những bản dịch khác vẫn có thể tham gia và gửi ngay phía dưới topic.

Nghiêm cấp Spam với mọi hình thức, nếu cần góp ý mời vào topic thảo luận hoặc Wall của mình, nếu không sẽ xóa không báo trước.

 
Sửa lần cuối:
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93
Bồ Tát Man 菩薩蠻
Tác giả: Thẩm Đoan Tiết
***

Sơ lược tác giả:

Thẩm Đoan Tiết 沈端節 người Ngô Hưng, sống tại Đàm Dương, năm sinh và mất không rõ, sống khoảng trước sau niên hiện Càn Đạo đời Tống Hiếu Tông, làm các chức quan Vu Hồ lệnh (Huyện lệnh Vu Hồ), Tri Hành châu (Tri Phủ Hành Châu).

菩薩蠻

千里供行色,
客愁濃似春山碧。
幸自不思歸,
子規心上啼。

芳意隨人老,
綠盡江南草。
窈窕可人花,
路長何處家。

Bồ Tát Man

Xuân sơn thiên lý cung hành sắc,
Khách sầu nùng tự xuân sơn bích.
Hạnh tự bất tư quy,
Tử quy tâm thượng đề.

Phương ý tuỳ nhân lão,
Lục tận Giang Nam thảo.
Yểu điệu khả nhân hoa,
Lộ trường hà xứ gia.

(Tư liệu: Thivien.net)

Bản dịch:

Núi xuân nghìn dặm một vẻ tròn
Khách buồn khắc khoải trước núi non
Hạnh phúc khi không về chốn cũ
Con về than khóc lòng sắc son.

Cảnh sắc theo người qua bao tuổi
Xanh tận Giang Nam cỏ vẫn còn
Dáng hoa như ngỡ người trong mộng
Đường xa chẳng thấy bóng nhà con.

-Lạc Mỹ Xuyên Thu-


 
Sửa lần cuối:
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93
Lục Hồn Sơn Trang
陸渾山莊

Tác giả: Tống Chi Vấn
***

Sơ lược về tác giả:

Tống Chi Vấn 宋之問 (khoảng 656-710), còn có tên là Thiếu Liên 少連, tự Diên Thanh 延清, quê quán ở Hà Nam. Tuy không có tài liệu nào cho biết rõ năm sinh nhưng ông mất năm 710, và do đó được xếp vào những nhà thơ của Sơ Ðường. Không rõ cuộc đời sĩ tử của ông ra sao nhưng hoạn lộ của ông bắt đầu rất sớm. Mới hai mươi tuổi đã được Võ Tắc Thiên vời ra làm quan tại Tập hiền quán, sau đó không lâu lại được thăng làm Khảo công viên ngoại lang, rồi Thượng phương giám thừa.

[Tìm hiểu thêm về tác giả]


陸渾山莊

歸來物外情,
負杖閱岩耕。
源水看花入,
幽林採藥行。
野人相問姓,
山鳥自呼名。
去去獨吾樂,
無然愧此生。

Lục Hồn Sơn Trang

Quy lai vật ngoại tình,
Phụ trượng duyệt nham canh.
Nguyên thuỷ khán hoa nhập,
U lâm thái dược hành.
Dã nhân tương vấn tính,
Sơn điểu tự hô danh.
Khứ khứ độc ngô lạc,
Vô nhiên quý thử sinh.


Bản Dịch: Lạc Mỹ Xuyên Thu

Về nơi chốn cũ lòng bỏ lại
Chống gậy bên non ngóng ruộng cày
Nơi đầu nguồn thẳm thơm hoa mới
Chốn cuối rừng sâu thuốc sẵn bày
Người lạ hỏi tên tường danh tính
Chim rừng cất tiếng tự cho hay
Đi lại mình ta cùng khoái lạc
Không tài tự thấy thẹn lòng thay.


Bản Dịch Của Trần Trọng Kim

Nghỉ về gác bỏ chuyện đời,
Thung dung chống gậy coi chơi ruộng cồn.
Xem hoa vào tận trong nguồn,
Có khi hái thuốc đi luôn vào rừng.
Người quê hỏi họ lăng nhăng,
Chim kêu trên núi tự xưng tên mình.
Đi đi cho thỏa tâm tình,
Vụng về ngẫm lại sinh bình tủi thay.

(Bản dịch của Trần Trọng Kim
Sưu tầm: thivien.net)


 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93
Vãn thứ Nhạc Hương huyện
晚次樂鄉縣

Tác giả: Trần Tử Ngang
***

Sơ lược về Tác Giả

Trần Tử Ngang 陳子昂 (661-702) tự là Bá Ngọc 伯玉, người đất Xạ Hồng, Tử Châu (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc). Lúc thiếu thời ông chỉ mải vui chơi săn bắn, đánh bạc. Đến 18 tuổi còn chưa biết đến sách. Sau đi học lại rất chịu khó và đậu tiến sĩ. Ra làm quan tới chức Hữu thập di rồi xin từ quan trở về quê. Ông bị chết trong tù năm 42 tuổi. Có để lại tập thơ nhan đề là Trần Bá Ngọc tập.


晚次樂鄉縣

故鄉杳無際,
日暮且孤征。
川原迷舊國,
道路入邊城。
野戍荒煙斷,
深山古木平。
如何此時恨,
噭噭夜猿鳴。

(Tư liệu: thivien.net)


Vãn thứ Nhạc Hương huyện

Cố hương yểu vô tế,
Nhật mộ thả cô chinh.
Xuyên nguyên mê cựu quốc,
Đạo lộ nhập biên thành.
Dã thú hoang yên đoạn,
Thâm sơn cổ mộc bình.
Như hà thử thì hận,
Khiếu khiếu dạ viên minh.


Bản dịch:
Chiều đến huyện Nhạc Hương


Quê xưa khuất bóng giữa trời xa
Cất bước đơn côi dưới xế tà
Sông núi ngỡ đâu về nước cũ
Lối nào như dẫn đến thành ca
Khói hiệu biên cương dần tắt lại
Bão giăng rừng thẳm hẳn vừa qua
Thấy cảnh đau lòng người xa xứ
Chợt nghe vượn hú thoảng đời ta.

Lạc Mỹ Xuyên Thu

 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93
Tòng Quân Hành
從軍行

Tác giả: Dương Quýnh
***


Sơ Lược về Tác Giả
Dương Quýnh 楊炯 (650-692) sống vào khoảng đời vua Đường Cao Tông 唐高宗, người huyện Hoa Âm 華陰, một trong Sơ Đường tứ kiệt. Trong Toàn Đường thi 全唐詩 có chép 33 bài của ông.


從軍行

烽火照西京,
心中自不平。
牙璋辭鳳闕,
鐵騎繞龍城。
雪暗凋旗畫,
風多雜鼓聲。
寧為百夫長,
勝作一書生。

Tòng Quân Hành

Phong hỏa chiếu Tây kinh,
Tâm trung tự bất bình.
Nha chương từ phụng khuyết,
Thiết kỵ nhiễu Long thành.
Tuyết ám điêu kỳ hoạ,
Phong đa tạp cổ thanh.
Ninh vi bách phu trưởng,
Thắng tác nhất thư sinh.

(Tư liệu: thivien.net)

Bản Dịch: Khúc Ca Tòng Quân

Giăng mờ lửa hiệu phủ Tây Kinh*
Oán giận trong tâm nỗi bất bình
Giữ ấn* trong tay rời gác phượng
Lên yên giáp ngựa đảo Long Thành*
Sương che tuyết phủ trên cờ chiến
Gió lẫn đan xen tiếng trống kình
Thà đứng cầm đầu trăm kẻ lính
Còn hơn học đòi gã thư sinh.

Lạc Mỹ Xuyên Thu



Chú thích:
*Tây Kinh: hay còn gọi là thành Trường An
*Ấn (Ấn ngà): Binh phù
*Long Thành: Kinh thành của tù trưởng Hung Nô
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93
Đổ Phủ 杜甫
***



Phần Một: Cuộc Đời Và
Sự Nghiệp Sáng Tác


☆ Cuộc Đời:
Đỗ Phủ 杜甫 (712-770) tự Tử Mỹ 子美, hiệu Thảo đường 草堂, Thiếu Lăng dã lão 少陵野老, người đời sau gọi là Đỗ Thiếu Lăng, Đỗ Lăng tẩu, Đỗ công bộ hay còn gọi là Lão Đỗ để phân biệt với Tiểu Đỗ là Đỗ Mục. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quan lại lâu đời ở huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ Đường. Cha là Đỗ Nhàn, có làm quan.


Thời niên thiếu tính từ năm 712 khi ông mới chào đời cho đến năm 746 kết thúc đợt ngao du lần thứ ba, với khoảng thời gian 35 năm, Đỗ Phủ sống giữa thời kỳ phồn vinh của xã hội phong kiến thời Đường. Công việc chính của ông lúc này là làm thơ, ngao du sơn thuỷ. Với trí thông minh hơn người, Đỗ Phủ bắt đầu sáng tác thơ ca vào lúc bẩy tuổi. Tài cộng với sự cần cù nhẫn nại: "Đọc sách vỡ muôn quyển, Hạ bút như có thần" (Phụng tặng Vi tả thừa trượng nhị thập nhị vận) khiến ông đến năm mười bốn tuổi đã trở thành nhà thơ trẻ được các bậc đàn anh mến phục.

Ông còn được các nhà tinh thông âm luật như Lý Phạm, Thôi Điều, danh ca Lý Quy Niên,... mến chuộng. Điều đó chứng tỏ ông còn là một nhà thẩm âm thành thạo.

Năm hai mươi tuổi, đúng vào thời kỳ cực thịnh của thời Đường, "Đi xa không phải chọn ngày tốt", Đỗ Phủ bắt đầu đi ngao du trước sau ba lần với khoảng thời gian trên dưới mười năm.

Lần thứ nhất ông đi suốt cả vùng Ngô Việt, Kim Lăng, Tường Châu, Tô Châu, Sơn Âm, Tiền Đường. Năm hai mươi bốn tuổi, ông trở về Lạc Dương thi tiến sĩ. Tuy thi hỏng nhưng ông rất bình thản, tiếp tục cuộc sống ngao du.

Lần thứ hai ông đến vùng Tề Triệu, một dải Hà Nam, Sơn Đông, Hà Bắc, ngao du và săn bắt là việc làm chính của ông trong thời kỳ này. Năm 744, ông gặp Lý Bạch tại Lạc Dương. Đại thi hào Lý Bạch hơn ông mười một tuổi lúc này mới từ Trường An trở về vì sự dèm pha của Cao Lực Sĩ.

Lần thứ ba Đỗ Phủ cùng Lý Bạch, Cao Thích rủ nhau đi săn bắn, uống rượu ngâm thơ, thăm hỏi kẻ ẩn sĩ gần xa. Mùa thu năm sau (745) hai người chia tay tại quận Lỗ (Duyện Châu, Sơn Đông). Từ đó hai người không gặp nhau lần nào nữa, nhưng tình bạn thì gắn bó suốt đời...

Những năm ngao du sơn thuỷ này đã bồi dưỡng tinh thần lạc quan yêu đời và lòng dũng cảm, góp phần làm phong phú nội dung và phong cách thơ ca của Đỗ Phủ. Những bài thơ của Đỗ Phủ sáng tác trong thời kỳ này được truyền lại không nhiều nhưng những bài như: Hoạ ưng, Vọng nhạc, Tráng du, Phòng binh tào hồ mã,... cho thấy phần nào tài năng xuất chúng của nhà thơ từ những ngày còn trẻ.

Năm 746, sau khi chia tay Lý Bạch, Đỗ Phủ trở về Trường An, kết thúc quãng đời ngao du đó đây. Lần này ông trở về không ngoài mục đích thực hiện hoài bão từ lâu ấp ủ trong lòng: "Trí quân Nghiêu Thuấn thượng, Tái sử phong tục thuần" (Phụng tặng Vi tả thừa trượng nhị thập nhị vận). Đó chính là ước mơ và lý tưởng chính trị của ông. Theo ông thì đó là con đường duy nhất để thực hiện lý tưởng đó là phải thi đỗ và làm quan. Nhưng tiếc thay, đến đâu ông cũng vấp phải trở ngại. Lúc này Đường Huyền Tông bỏ bê triều chính, giao phó mọi việc cho hai tên gian thần là Lý Lâm Phủ và Dương Quốc Trung. Tuy Đường Huyền Tông hạ chiếu ai có tài thì đi dự thi, nhưng trong khoá thi này Tể tướng Lý Lâm Phủ đánh hỏng hết tất cả các thí sinh để khoe rằng trong những khoá thi trước y sáng suốt lựa chọn hết nhân tài, nên bây giờ chẳng còn một ai và đây cũng là dịp để Lý Lâm Phủ chặn đường tiến cử hiền tài, nhằm củng cố thế lực của phe cánh y. Đỗ Phủ cũng như những thí sinh khác trong đó có Nguyên Kết, một nhà thơ nổi tiếng thời Đường bị đánh hỏng. Từ đây Đỗ Phủ nhận thức đầy đủ hơn bộ mặt chính trị nhà Đường do bọn gian quan nịnh thần khống chế. Để tìm lối thoát, nhiều lần ông gặp gỡ, dâng thư cho các bậc quyền quý mong được tiến cử, nhưng không có kết quả mà cuộc sống thì ngày càng nghèo khốn.

Năm 751, nhân Đường Huyền Tông cử hành đại lễ, Đỗ Phủ dâng lên "Tam đại lễ phú", được Đường Huyền tông khen ngợi cho ghi tên vào Tập hiền viện, chờ bổ dụng nhưng vì bị Lý Lâm Phủ cản trở nên Đỗ Phủ chờ mãi vẫn không có tin gì. Mãi đến năm 755, Đỗ Phủ được bổ làm Hà Tây huyện uý. Mặc dù bao năm sống khổ cực ở đất Trường An nhưng Đỗ Phủ quyết không nhậm chức vì chức huyện uý này buộc ông phải cúi đầu vâng lệnh quan trên, đánh đập kẻ dưới. Bị ông cự tuyệt giai cấp thống trị nhà Đường giao cho ông chức quản lý kho quân giới. Thật mỉa mai thay, một con người nuôi hy vọng giúp vua vượt Nghiêu Thuấn giờ đây chỉ làm anh quản lý kho! Đỗ Phủ nhận chức, ông xin phép về huyện Phụng Tiên thuộc tỉnh Thiểm Tây thăm gia đình. Có ngờ đâu khi vừa về đến nhà thì đứa con trai đã chết đói.

Từ năm 746 đến năm 755, vì thất ý trên con đường công danh, lại thêm cuộc sống gian nan cực khổ, Đỗ Phủ đã sáng tác hàng loạt bài thơ giàu tính hiện thực xúc động lòng người. Lệ nhân hành, Binh xa hành, Xuất tái, Vịnh hoài ngũ bách tự,... đánh dấu khởi điểm mới trong sáng tác của nhà thơ, một bước phát triển mới trong phong cách sáng tác hiện thực phê phán.

Trong số những bài thơ sáng tác thời kỳ này có thể kể bài "Tự kinh phó Phụng Tiên vịnh hoài ngũ bách tự" là bài thơ tổng kết mười năm khốn khổ trên đất Trường An của ông.

Cùng lúc Đỗ Phủ ra làm quan thì thời cuộc cũng có những biến đổi lớn lao. Tháng 11 năm 755, An Lộc Sơn nổi loạn ở Phạm Dương và nhanh chống đánh xuống Lạc Dương, Đồng Quan, Trường An. Tháng 8 năm 756, nghe tin Lý Hanh con của Đường Minh Hoàng lên ngôi ở Linh vũ lấy hiệu Đường Túc Tông, Đỗ Phủ tìm Túc Tông. Giữa đường ông bị giặc bắt giải về Trường An. Nửa năm trời sống trong vùng địch tận mắt thấy cảnh đất nước bị dày xéo, ông viết khá nhiều bài thơ lâm ly, thống thiết như: Bi Trần Đào, Bi Thanh Bản, Xuân vọng, Ai giang đầu,...

Tháng giêng năm Chí Đức thứ nhất (756), không chịu hợp tác với giặc, Đỗ Phủ không quản nguy hiểm tìm đường chốn khỏi Trường An tìm về Phụng Tường, nơi chính quyền mới đóng. Đỗ Phủ được giữ chức Tả thập di. Tháng 9 năm 757, quân nhà Đường lấy lại được Trường An, Đỗ Phủ bèn đưa gia quyến về Trường An.

Ở Trường An không được bao lâu, vì dâng sớ cứu Phùng Quán thua trận Trần Đào, nên Đỗ Phủ bị gian thần hãm hại. Tháng 6 năm 758, ông bị biếm ra làm Tư công tham quân, một chức quan coi việc tế tự nghi lễ ở Hoa Châu. Mùa xuân năm 759, trên đường từ Lạc Dương đi Hoa Châu, nhìn thấy cảnh đau thương vô hạn của nhân dân ông viết sáu bài thơ nổi tiếng "Tam biệt" và "Tam lại" được người đời truyền tụng.

Tháng 7 năm 759, Đỗ Phủ xin từ quan đưa gia đình từ Hoa Châu đến Đồng Cốc. Tại đây, ông phải đi lượm hạt dẻ, đào hoàng tinh bao phen trở về tay không, con cái đói meo kêu khóc. Ông làm bảy bài "Càn Nguyên Đồng Cốc huyện tác ca" than thở cảnh khốn cùng lưu lạc, xa cách anh em. Chưa đầy hai tháng, ông lại từ Đồng Cốc đến Thành Đô - Tứ Xuyên. Mùa xuân năm 760, nhờ sự giúp đỡ của bạn bè ông dựng mái nhà tranh bên suối Hoãn Hoa, đặt tên là Thảo Đường. Ông gửi thư đi các nơi xin đào, lý, mai, cúc,... các thứ cỏ hoa về trồng. Thảo Đường ở phía tây, quay lưng vào quách Thành Đô, ngoài là đường Thạch Tuân, phường Bích Khê, phía bắc đầm Bách Hoa, phía tây cầu Vạn Lý, suối Hoãn Hoa, gần sông Cẩm, phía tây bắc trông ra núi Tây Lĩnh quanh năm tuyết phủ. Phong cảnh hữu tình, ngôi nhà nhỏ càng đượm màu thanh nhã...

Lúc này Thành Đô chưa có nạn binh đao. Ông được sống những ngày thư thái, đánh cờ với vợ, câu cá cùng con, uống rượu với người trong xóm. Ông sinh sống bằng chính mảnh đất của mình, trồng cây thuốc cây ngô. Thế là trong sáng tác xuất hiện một khoảng trời nghệ thuật mới với vẻ đẹp đẹp hoà bình, êm ả của thiên nhiên, xoa dịu những vất vả đắng cay trong cơn loạn lạc. Sáng tác thời kỳ này của ông chủ yếu là thể loại tuyệt cú, tả cảnh điền viên sơn thuỷ và gửi gắm ước mơ trở về cố hương...

Tuy nhiên cảnh yên bình ấy không kéo dài được lâu. Mùa thu năm ấy, một cơn gió lốc lật mất mái tranh Thảo Đường, ông làm bài thơ nổi tiếng "Mao ốc vi thu phong sở phá ca", mơ ước "Có ngôi nhà lớn muôn gian để che chở cho kẻ nghèo khắp thiên hạ. Bao giờ nhà lớn sừng sững hiện ra, riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được". Đầu năm Bảo Ứng (762) vì loạn ông đưa gia đình chạy loạn khắp nơi, gần hai năm sau mới trở về lại mái nhà tranh ở Thành Đô. Được Nghiêm Vũ tiến cử, Đỗ Phủ nhận chức Kiểm hiệu công bộ viên ngoại lang. Nghiêm Vũ mất, ông cũng thôi việc. Lúc này bao bạn thân của ông như Lý Bạch, Cao Thích lần lượt từ giã cõi đời, để lại cho ông nỗi buồn vô hạn. Ông lại phiêu bạt tới vùng Quỳ Châu.

Qua bao nhiêu năm lưu lạc gian nan, giờ đây sức yếu, tuổi già, ông thường xuyên bị bệnh. Quỳ Châu là nơi có nhiều di tích nổi tiếng như thành Bạch Đế, Bát trận đồ của Gia Cát Võ Hầu, nhà Tống Ngọc, Dữu Tín,... nên ông làm năm bài "Chư tướng", năm bài "Vịnh hoài cổ tích", tám bài "Thu hứng" nổi tiếng. Trong hai năm ở Quỳ Châu ông sáng tác 437 bài thơ, chiếm ba phần mười toàn bộ thơ ca của ông, thơ luật chiếm đa số. Chất hiện thực trong thơ ông không thay đổi, vẫn dạt dào tình cảm yêu nước, yêu dân, tuy âm điệu có phần bi thương hơn trước. Ông bỏ công làm thơ luật nhiều hơn trước và đã đẽo gọt, đưa thơ luật lên đến đỉnh cao của nó.

Năm Đại Lịch thứ 3 (768), Đỗ Phủ rời Quỳ Châu, lênh đênh trôi dạt khắp nơi đến Giang Lăng, Công An (Hồ Bắc), Nhạc Châu (Nhạc Dương, Hồ Bắc), rồi theo sông Tương ra Đàm Châu (Tương Đàm, Hồ Nam). Ở đây ông gặp lại danh ca Lý Quy Niên và làm bài tuyệt cú "Giang Nam phùng Lý Quy Niên" nổi tiếng. Đàm Châu có loạn, Đỗ Phủ lại cùng vợ con xuống thuyền đi Hành Châu (Hành Dương, Hồ Nam), dự định theo sông Hán về Trường An. Cuộc sống đói rét, bệnh tật, phiêu bạt cứ dày vò nhà thơ mãi. Mùa đông năm 770, bệnh tật nằm trên thuyền nghe gió thổi, Đỗ Phủ làm bài thơ ba mươi sáu vần "Phong tật chu trung phục chẩm thư hoài". Đó cũng là thiên tuyệt bút của nhà thơ, vì chẳng bao lâu sau, mùa đông năm Đại Lịch thứ năm (770), Đỗ Phủ nhắm mắt lìa đời trong chiếc thuyền rách nát lênh đênh trên sông Tương. Những bước thăng trầm mà trầm nhiều hơn thăng của cuộc đời nhà thơ kết thúc.

Các nhà thơ Đường hiếm có ai nghèo khổ, lao đao và chịu ảnh hưởng của chiến tranh và loạn lạc nhiều như ông. Sau khi Đỗ Phủ tạ thế, gia nhân vì nghèo túng quá, đành phải tạm đặt linh cữu thi sĩ tại Nhạc Châu (Nhạc Dương, Hoài Nam). Đến đời cháu là Đỗ Tự Nghiệp, mới đến Nhạc Châu, đem linh thần về táng tại chân núi Thủ Dương, ở Lạc Dương (Hà Nam), gần mộ Đỗ Dự và Đỗ Thẩm Ngôn.

Khi Đỗ Tự Nghiệp đưa linh thân Đỗ Phủ qua Kinh Châu, có gặp thi sĩ Nguyên Chẩn trên đường đi. Nguyên Chẩn viết một bài minh đề trên mộ Đỗ Phủ, nói rằng: "Từ khi có thi nhân đến giờ, không có ai vĩ đại bằng Tử Mỹ!". Đúng thế, Đỗ Phủ chẳng những vĩ đại đối với Trung Quốc mà còn vĩ đại đối với cả nhân loại nữa...

☆☆ Sự Nghiệp Sáng Tác:

Thơ Đỗ Phủ tập trung biểu hiện ba khía cạnh chủ yếu: tinh thần phản kháng cường quyền, lòng yêu thương nhân dân và nhiệt tình yêu nước thiết tha. Thường trong nhiều bài, ba nội dung ấy gắn bó với nhau, hỗ trợ cho nhau tạo nên giá trị hiện thực của thơ ca Đỗ Phủ. Tất cả đều xoay quanh một trục thống nhất là bản thân ông. Từ chính những khổ đau của bản thân mình, ông hoà chung nỗi đau của riêng mình với nỗi đau của nhân dân, của đất nước. Thơ ca của Đỗ Phủ chính là những thiên ký sự về đời ông, một cuộc đời thăng trầm mà trầm nhiều hơn thăng.

Tuy chưa thoát khỏi thế giới quan của tư tưởng Nho gia hẹp hòi, nhưng đó là những hạn chế có tính chất thời đại, thơ ca của Đỗ Phủ không vì thế mà giảm đi giá trị của nó. Nhà thơ vẫn hoàn thành sứ mệnh nghệ thuật của mình một cách vẻ vang.

Đỗ Phủ kiêm gồm nhiều thể thơ từ ngũ ngôn đến thất ngôn, cổ thể đến cận thể mà qua tay ông đều trở nên xuất sắc, nhuần nhuyễn. Thơ ông được dụng công gọt dũa rất công phu: "Làm người tính thích câu thơ đẹp, Đọc chẳng kinh người chết chẳng thôi" (Hí vi lục tuyệt cú). Ông sở trường về thơ ngũ ngôn, vốn là thể khó làm hay vì câu thơ ngắn, nhịp điệu đơn giản. Nhưng ông vẫn khéo truyền nỗi lòng chân thật, tha thiết vào thơ, nên những bài thơ ngũ ngôn của ông dù rất dài như "Vịnh hoài bách ngũ tự", "Tráng du", "Thuật hoài",... vẫn đầy sức gợi cảm. Thơ thất ngôn đến tay ông mới thật sự đạt đến đỉnh cao, đặc biệt là thơ luật, được ông chăm sóc, đẽo gọt tỉ mỉ mà vẫn trôi chảy tự nhiên, ít ai bì kịp. Đỗ Phủ làm thơ rất dụng công, đúng như ông đã nói "Ngữ bất kinh nhân tử bất hưu" (Lời lẽ chưa kinh động lòng người thì chết chẳng yên). Hơn nữa, Đỗ Phủ nắm rất vững thanh vận trong ngôn ngữ Trung Quốc và sử dụng nó để phát huy được sức thể hiện và truyền cảm của thơ. Có những bài thơ dài hàng chục đến trăm câu, ông chỉ dùng độc vận, hoặc cũng có thể trong một bài ngắn ông lại đổi vần. Dùng vần trắc hay vần bằng ông đều có chủ định. Đỗ Phủ còn sáng tạo những hình ảnh thi vị, mới mẻ, giàu sức truyền cảm, sáng tạo những ý cảnh, khí phách rộng lớn. Ông thật xứng với danh xưng "Thi thánh" mà người đời sau tôn tặng.

Đỗ Phủ tiếp thu có chọn lọc, kế thừa có phát huy những thành quả văn học quá khứ rồi hun đúc thành cái của mình, sáng tạo và mới mẻ. Nguyên Chẩn đời sau đánh giá: "Đỗ Tử Mỹ, trên thì làm mờ cả Phong Tao (Thi kinh, Sở từ), dưới thì kiêm cả Thẩm-Tống (Thẩm Thuyên Kỳ, Tống Chi Vấn), lời thơ vượt cả Tô-Lý (Tô Vũ, Lý Lăng), khí thơ nuốt cả Tào-Lưu (Tào Thực, Lưu Côn), che khuất đỉnh cao Nhan-Tạ (Nhan Diên, Tạ Linh Vận), nhuộm cả dòng thắm Dữu-Từ (Dữu Tín, Từ Lăng), có được tất cả thể chế của cổ kim, và hết thảy cái đặc sắc của từng thi sĩ. Người làm thơ xưa nay chưa từng có ai như Đỗ Tử Mỹ" (Đường cố kiểm hiệu Công bộ viên ngoại lang Đỗ quân mộ hệ minh).

Đỗ Phủ để lại cho đời hơn 1400 bài thơ, phân thành hai loại lớn: cổ thể thi và cận thể thi. Cổ thể thi là loại thơ tự do, cận thể thi là loại thơ cách luật.
- Cổ thể thi: 416 bài trong đó ngũ ngôn cổ thể 271 bài, thất ngôn cổ thể 145 bài.
- Cận thể thi: 1037 bài trong đó luật thi có 772 bài, bài luật có 127 bài, tuyệt cú có 138 bài (31 bài ngũ ngôn, 107 bài thất ngôn).

Các tác phẩm thơ của Đỗ Phủ được dịch và in thành sách ở Việt Nam:
- Thơ Đỗ Phủ (NXB Văn học, 1962)
- Thơ Đỗ Phủ (Nhượng Tống dịch, NXB Văn học, 1996)
- Đỗ Phủ, nhà thơ thánh với hơn một nghìn bài thơ (Phan Ngọc dịch, NXB Văn hoá - Thông tin, 2001)
- Thơ Đỗ Phủ, Nhiều người dịch (NXB Thanh niên, 2004)

☆☆☆Tìm Hiểu Thêm:
Tư Tưởng Và Tác Phẩm


Lịch sử

Từ thời nhà Tống thơ Đỗ Phủ đã được gọi là "thi sử" (詩史). Vấn đề lịch sử được đề cập trực tiếp trong thơ ông là sự bình luận các sách lược quân sự, các thắng bại của triều đình hay những ý kiến ông muốn đề đạt trực tiếp tới hoàng đế. Một cách gián tiếp, ông viết về ảnh hưởng của thời đại đối với đời sống chính mình cũng như người dân thường Trung Quốc.

Những phản ánh chính trị của Đỗ Phủ dựa trên cảm xúc chứ không dựa trên tính toán. Ông ước ao mọi người bớt ích kỷ và làm tròn bổn phận của mình. Tuy nhiên, do người ta không thể không đồng ý với các quan điểm của ông nên các sự thật được biểu đạt đầy sức thuyết phục trong thơ ông đã khiến ông trở thành một nhân vật trung tâm trong thi sử Trung Quốc.

Đạo đức
Một danh hiệu thứ hai mà các nhà phê bình Trung Quốc đặt cho Đỗ Phủ là "thi thánh" (詩聖), ngang hàng với Khổng Tử, vị thánh về triết học. Trong một bài thơ ở thời kỳ đầu tiên của ông, Binh xa hành(兵車行) (khoảng năm 750), đã nói lên nỗi thống khổ của một người bị bắt đi lính trong quân đội triều đình, thậm chí trước khi xảy ra loạn An Lộc Sơn; bài thơ này nói lên sự xung đột giữa việc chấp nhận và hoàn thành nghĩa vụ, và sự ý thức rõ ràng về những đau khổ có thể nảy sinh. Chủ đề này liên tiếp được nhấn mạnh trong những bài thơ về cuộc đời của dân chúng và binh sĩ mà Đỗ Phủ sáng tác trong cả cuộc đời mình.

Tuy việc Đỗ Phủ hay nhắc đến sự thống khổ của riêng mình có thể đem lại một ấn tượng về chủ nghĩa duy ngã. Nhưng thực tế hình ảnh ông trong đó luôn được quan sát dưới góc độ khách quan và hầu như chỉ được đưa ra sau chót để tự cảm thán. Vì thế, ông khiến bức tranh xã hội trong thơ mang tính khái quát cao hơn khi so sánh nó với một cá nhân tầm thường là chính mình.

Tình thương của Đỗ Phủ đối với chính mình và với người khác chỉ là một phần trong các chủ đề của thơ ông: ông còn sáng tác nhiều bài về những chủ đề mà trước đó bị coi là không thích hợp để thể hiện trong thơ. Zhang Jie đã viết rằng đối với Đỗ Phủ, "mọi thứ trên thế giới này đều là thơ" (Chou p. 67), các chủ đề trong thơ ông rất bao quát, như cuộc sống hàng ngày, thư họa, hội họa, thú vật và các chủ đề khác.

Kỹ thuật

Trước tác của Đỗ Phủ đặc biệt nổi tiếng nhất vì tầm vóc của nó. Các nhà phê bình Trung Quốc thường dùng từ Tập đại thành 集大成, theo lời ca ngợi của Mạnh Tử dành cho Khổng Tử. Yuan Zhen là người đầu tiên lưu ý tới mức độ to lớn của các tác phẩm của Đỗ Phủ, năm 813 ông đã viết, (Đỗ Phủ) "đã thống nhất trong tác phẩm của mình những nét tiêu biểu mà người trước mới chỉ đề cập riêng lẻ". Ông là nhà thơ tài nghệ trong mọi phong cách thơ Trung Quốc. Ở bất cứ hình thức nào ông đều mang lại những tiến bộ vượt bậc hay đóng góp những ví dụ mẫu mực. Hơn nữa, thơ ông có phạm vi sử dụng từ vựng rộng lớn, từ cách nói trực tiếp và thông tục cho đến cách nói bóng và ngôn ngữ văn chương. Nội dung chính trong thơ đã thay đổi khi ông phát triển phong cách của mình để thích hợp với hoàn cảnh xung quanh. Những bài thơ đầu tiên theo phong cách trang nhã nhưng về sau này khi trải qua những cơ cực của chiến tranh thơ ông đã trở lại với phong cách đích thực của mình. Những bài thơ sáng tác trong giai đoạn ở Tần Châu đơn giản đến tàn nhẫn, phản ánh quang cảnh hoang tàn. Những bài thơ giai đoạn ở Thành Đô nhẹ nhàng và đẹp đẽ, trong khi ở cuối giai đoạn Quỳ Châu đậm chi tiết và có tính dự báo.

Dù sáng tác ở mọi thể loại thơ, Đỗ Phủ nổi tiếng nhất ở cận thể thi, một kiểu thơ có nhiều ràng buộc về hình thức và số lượng từ trong câu. Khoảng hai phần ba trong 1.500 tác phẩm hiện còn của ông là ở thể này, và nói chung ông được coi là nhà thơ tiêu biểu cho thể loại này. Những bài thơ đạt nhất của ông trong thể loại dùng phép đối song song để thêm nội dung biểu đạt thay vì chỉ là một quy định kỹ thuật thông thường.

Ảnh Hưởng
Sinh thời và ngay sau khi mất, Đỗ Phủ đã không được đánh giá cao, phần vì những đổi mới trong phong cách và hình thức thơ ông. Một số bị coi là quá táo bạo và kỳ cục đối với giới phê bình văn học Trung Quốc. Chỉ một số ít tác giả đương thời có nhắc tới ông và miêu tả ông với tính chất tình cảm cá nhân, chứ không phải như một nhà thơ xuất chúng hay lý tưởng đạo đức. Thơ Đỗ Phủ cũng ít xuất hiện trong những hợp tuyển văn học thời kỳ đó.

Tuy nhiên, ảnh hưởng của ông đối với thi ca Trung Quốc ngày càng mạnh mẽ, và tới thế kỷ thứ 9 ông đã trở nên rất nổi tiếng. Những lời ngợi ca đầu tiên dành cho Đỗ Phủ là của Bạch Cư Dị, người đã ca ngợi những tình cảm đạo đức trong một số tác phẩm của Đỗ Phủ. Hàn Vũ đã viết bài bênh vực mỹ học trong thơ Đỗ Phủ và Lý Bạchtrước những lời chỉ trích nhằm vào họ. Tới đầu thế kỷ thứ 10, Wei Zhuang đã cho dựng lại bản sao đầu tiên ngôi nhà tranh của ông ở Tứ Xuyên.

Tới thế kỷ 11, trong giai đoạn Bắc Tống, danh tiếng Đỗ Phủ lên tới cực điểm. Trong thời gian này các nhà thơ trước đó đã được đánh giá lại một cách toàn diện, theo đó Vương Duy, Lý Bạch và Đỗ Phủ lần lượt được coi là đại diện cho xu hướng Phật giáo, Đạo giáo và Khổng giáo trong văn hóa Trung Quốc. Cùng lúc ấy, sự phát triển của Tân Khổng giáo đã đặt Đỗ Phủ lên vị trí cao nhất, vì trong cả cuộc đời, ông đã không vì đói nghèo cùng khổ mà quên đi quân vương của mình. Ảnh hưởng của ông càng tăng do khả năng hòa hợp những mặt đối lập: phe bảo thủ chính trị bị thu hút bởi sự trung thành của ông với hệ thống tôn ti trật tự sẵn có, còn phe cải cách nắm lấy mối quan tâm của ông đối với đời sống dân nghèo. Từ khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập, sự trung thành với quốc gia và những quan tâm của ông tới người nghèo đã được giải thích sự phôi thai của chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa xã hội, và ông được tán dương vì ông đã sử dụng ngôn ngữ giản dị "của nhân dân".

Sự nổi tiếng của Đỗ Phủ lớn tới mức có thể đo được, như trường hợp của Shakespeare ở Anh. Mỗi nhà thơ Trung Quốc đều khó có thể không bị ảnh hưởng từ ông. Không bao giờ có một Đỗ Phủ thứ hai, các nhà thơ sau này tiếp nối truyền thống trong từng khía cạnh cụ thể của thơ ông. Mối quan tâm của Bạch Cư Dị tới dân nghèo, lòng yêu nước của Lục Du, các phản ánh cuộc sống hàng ngày của Mai Nghiêu Thần là một vài ví dụ.

( Tư liệu: thivien.net và wikipedia.org )


Đôi lời nhận xét:

"Nếu nói sự yêu thích đối với Lý Bạch xuất phát từ tình yêu thơ lãng mạn của ông, thì đối với Đỗ Phủ lại là sự ngưỡng vọng cao đẹp về con người tài hoa ấy."
Nhắc đến Đổ Phủ hầu như mọi người đã quá quen thuộc với cái tên này trong thi văn cổ đại. Ông là một nhà thơ tài hoa và lỗi lạc trong thi văn lẫn đời thường, khi bước đầu tìm hiểu thơ của ông, tôi rất bâng khuâng vì khối lượng thơ khổng lồ và những bản dịch gần như vô tận, chẳng biết phải bắt đầu từ đâu. Sau gần một tháng tìm hiểu, cộng thêm nhiều bài thơ được biên soạn từ cuốn "Đường Thi Quốc Âm Cổ Bản" tôi cũng đã lựa chọn cho mình nhiều bài thơ phù hợp với phong cách của bản thân và những bài thơ gắn bó với cuộc sống đời thường.

Số lượng bài có thể chỉ cập nhật trong giới hạn khả năng của dịch giả, nếu thi hữu nào có lòng yêu cổ thi lẫn tác giả này, có thể đóng góp thêm nhiều bản dịch khác.

Chân thành cảm ơn các bạn đã đến với Cổ Thi.

 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93
Phần Hai: Tác Phẩm
♧♧♧

Dã Vọng (Thanh thu vọng bất cực)
野望(清秋望不极)

Tác giả: Đỗ Phủ
***

野望

清秋望不极,
迢遞起層陰。
遠水兼天淨,
孤城隱霧深。
葉稀風更落,
山迥日初沈。
獨鶴歸何晚?
昏鴉已滿林。
Dã vọng

Thanh thu vọng bất cực,
Thiều đệ khởi tằng âm.
Viễn thuỷ kiêm thiên tĩnh,
Cô thành ẩn vụ thâm.
Diệp hi phong cánh lạc,
Sơn quýnh nhật sơ trầm.
Độc hạc quy hà vãn?
Hôn nha dĩ mãn lâm.

Dịch nghĩa

Bầu thu trong vắt khôn cùng
Xa xôi bao lớp bóng râm nổi lên
Nước xa lẫn vòm trời quang đãng
Thành cô quạnh nấp trong sương dày
Lá thưa thớt gió thổi cứ rụng dần
Núi tít mù mặt trời vừa lặn
Hạc lẻ bầy buổi chiều bay về đâu?
Quạ hoàng hôn xao xác khắp rừng.

(Tư liệu: thivien.net)

Bản dịch: Ngắm Cảnh Đồng Quê

Trời thu xanh ngát ngắm vô ngần
Rợp bóng xa xa xếp bao tầng
Vời trong nước lặng hòa trời thẳm
Quạnh quẻ thành ca phủ sương vần
Gió thoảng đưa cành rời lá cội
Mây trời núi chẳng thấy dừng chân
Hạc lẻ xa bầy chiều khuất bóng
Trong rừng tiếng quạ giữa trời quang.

Lạc Mỹ Xuyên Thu


 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93
Cầm đài 琴臺
Tác giả: Đỗ Phủ
***



琴臺

茂陵多病後,
尚愛卓文君,
野肆人間世,
琴臺日暮雲,
野花留寶靨,
芳草見羅裙,
歸鳳求凰意,
寥寥不可聞。


Cầm đài
Mậu Lăng đa bệnh hậu,
Thượng ái Trác Văn Quân.
Tửu tứ nhân gian thế,
Cầm đài nhật mộ vân.
Dã hoa lưu bảo yếm,
Mạn thảo kiến la quần.
Quy phụng cầu hoàng ý,
Liêu liêu bất phục văn.

Dịch nghĩa
Sau buổi lắm bệnh ở Mậu Lăng,
Càng thêm yêu Trác Văn Quân.
Quán rượu trong cõi nhân gian,
Cầm đài dưới bóng mây chiều.
Hoa dại nằm trong chén quý,
Cỏ hoang vương gấu quần là.
Ý phượng cầu hoàng xưa,
Nay không còn được nghe lại nữa.

(Tư liệu: thivien.net)


Bản dịch: Cầm Đài*

Bỏ chốn Mậu Lăng* đào hoa quấn
Quay về vui cuộc Trác Văn Quân
Quán rượu nhân gian tường khắp cõi
Cầm đài mây phủ bóng giai nhân
Hoa dại say mờ trong chén tửu
Cỏ vấn thơm hương dưới áo quần
Phong tình bỏ lại cầu phượng ý
Vọng tiếng đàn xa biết bao lần.

Lạc Mỹ Xuyên Thu


Chú thích:
*Cầm Đài: đài gảy đàn - Cầm đài là nơi xưa Tư Mã Tương Như thường lên gảy đàn.
*Mậu Lăng: Tên vùng đất có lăng của Hán Vũ Đế năm xưa. Khi đó Tương Như vốn rất phong tình, say mê một người con gái ở Mậu Lăng, có ý muốn cưới nàng làm thiếp. Văn Quân ghen, làm khúcBạch đầu ngâm, Trường Khanh bèn thôi.
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93
Bát Nguyệt Thập Ngũ Dạ Nguyệt
Tác giả: Đỗ Phủ
***



八月十五夜月其一

滿目飛明鏡,
歸心折大刀。
轉蓬行地遠,
攀桂仰天高。
水路疑霜雪,
林棲見羽毛。
此時瞻白兔,
直欲數秋毫。

Bát nguyệt thập ngũ dạ nguyệt
Mãn mục phi minh kính,
Quy tâm chiết đại đao*.
Chuyển bồng hành địa viễn,
Phan quế ngưỡng thiên cao.
Thuỷ lộ nghi sương tuyết,
Lâm thê kiến vũ mao.
Thử thì đam bạch thố,
Trực dục sổ thu hào.

Dịch nghĩa
Thấy rõ tấm gương sáng bay,
Lòng mong về quê cũ khiến gãy con dao lớn.
Như cỏ bồng đi nơi đất xa,
Vin cây quế để thấy trời cao.
Đường sông tưởng sương với tuyết,
Ở rừng thấy lông lá.
Lúc này ngắm thỏ trắng,
Muốn có ngay vài sợi tơ mùa thu.
(Tư liệu: thivien.net)

Bản dịch:
Đêm Trăng Rằm Tháng Tám


Ngẩng thấy gương treo cách mấy đào
Lòng thương khách cũ đoạn phân đao
Tiễn cỏ bồng bay về đất hứa
Nương cành hương quế vọng trời cao
Đường về khách ngỡ sông sương tuyết
Lối dạo rừng sâu lẫn chim mào
Cung Quảng nơi nào trông thỏ trắng.
Thu về kéo sợi đến ngàn sao.

Lạc Mỹ Xuyên Thu



Chú thích:
*chiết đại đao: Ngô Cương 呉剛, một ông tiên bị phạt giam trong mặt trăng, buộc phải chặt đứt cây quế. Lòng mong về quê cũ của Đỗ Phủ giống cố gắng cùa Ngô Cương, gãy dao rồi mà vẫn chưa có kết quả.
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93
Đăng Nhạc Dương Lâu
Tác giả: Đỗ Phủ
***


(Ảnh: Nhạc Dương lâu)

登岳陽樓

昔聞洞庭水,
今上岳陽樓。
吳楚東南坼,
乾坤日夜浮。
親朋無一字,
老病有孤舟。
戎馬關山北,
憑軒涕泗流。


Đăng Nhạc Dương* lâu

Tích văn Động Đình thuỷ,
Kim thướng Nhạc Dương lâu.
Ngô Sở đông nam sách,
Càn khôn nhật dạ phù.
Thân bằng vô nhất tự,
Lão bệnh hữu cô chu.
Nhung mã quan san bắc,
Bằng hiên thế tứ lưu.

Dịch nghĩa

Xưa nghe nói nước hồ Động Đình,
Nay được lên lầu Nhạc Dương.
Đất Ngô, đất Sở chia tách ở hai phía đông nam,
Trời đất suốt ngày đêm dập dềnh nổi.
Bà con bạn hữu không có một chữ (thư từ qua lại)!
Thân già yếu lênh đênh trong chiếc thuyền côi quạnh.
Quan san phía bắc đang nhộn binh đao,
Tựa hiên, ròng ròng nước mắt, nước mũi!

(Tư liệu: thivien.net)

Dịch Thơ: Lên Lầu Nhạc Dương

Trước hồ Động Đình thường nghe đến
Nay lầu Nhạc Dương lại được lên
Đông Nam hai phía chia Ngô Sở
Trời đất ngày đêm nổi dập dềnh
Thư tín hữu** hàng*** nay chẳng thấy
Thân già một chiếc thuyền lênh đênh
Phương Bắc xa xôi còn chinh chiến
Ngậm ngùi rơi lệ tựa bên hiên.

Lạc Mỹ Xuyên Thu


Bản Dịch chữ Nôm (Sưu tầm): Tú Xương

Mấy cảnh Tiêu Tương vẫn tiếng đồn
Lầu đây hồ đấy trải bao còn
Chia ra Ngô Sở chiều ngang dọc
Chốt lại càn khôn thỏa nước non
Một chữ thân bằng tin nhạn vắng
Nghìn trùng quan tái chiếc thuyền con
Xa xa cõi bắc lầm phong hỏa
Thăm thẳm Trường An mắt đã mòn.



Chú Thích:
*Nhạc Dương: Nhạc Dương lâu là lầu ở cửa Tây thành Nhạc Dương, một trong Giang Nam tam đại danh lâu (hai lầu còn lại là Đằng Vương các và Hoàng Hạc lâu).
**Hữu: Bằng hữu, bạn bè
***Hàng: Họ hàng
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93
Xuân Nhật Ức Lý Bạch
Tác giả: Đỗ Phủ
***

Đôi nét về tác phẩm:
(Năm 746) Đỗ Phủ và Lý Bạch quen nhau ở Lạc Dương. Ít lâu sau Lý Bạch đi Giang Đông, Đỗ Phủ về Trường An. Về sau hai người không còn gặp lại nhau nữa. Đỗ Phủ làm bài này khi về Trường An.


春日憶李白
白也詩無敵,
飄然思不群。
清新庾開府,
俊逸鮑參軍。
渭北春天樹,
江東日暮雲。
何時一樽酒,
重與細論文?



Xuân nhật ức Lý Bạch

Bạch dã thi vô địch,
Phiêu nhiên tứ bất quần.
Thanh tân Dữu khai phủ,*
Tuấn dật Bão tham quân.**
Vị bắc*** xuân thiên thụ,
Giang Đông**** nhật mộ vân.
Hà thì nhất tôn tửu,
Trùng dữ tế luân văn?



Dịch nghĩa

Thơ Lý Bạch không có ai là địch thủ,
Tứ thơ phơi phới, nhẹ nhàng không ai bằng được.
Trong sáng, mới mẻ, giống như thơ của Dữu khai phủ,
Hào hùng phiêu dật, giống như thơ của Bão tham quân.
Lúc này tôi đang ngắm hàng cây dưới trời xuân tại Vị Bắc,
Thì bạn đang ở trong bóng mây chiều ở Giang Ðông.
Biết bao giờ được cùng nhau uống một chén rượu,
Và bàn kỹ về thơ văn?

(Tư liệu: thivien.net)

Dịch Thơ: Ngày Xuân Nhớ Lý Bạch

Lý Bạch thi ca ai danh phạm
Tài tứ phiêu nhiên khí bất phàm
Thanh tân như tựa khai phủ Dữu
Phiêu dật hào hùng Bão quân tham
Vị Bắc xuân xanh còn phủ lá
Giang Đông lấp bóng chốn mây ngàn
Đợi ngày nâng chén say rồi tỉnh
Thơ ngày cố hữu lại cùng ngâm.

Lạc Mỹ Xuyên Thu

_______

Chú thích:
*Dữu khai phủ: Tức Dữu Tín 庾信, nhà thơ đời Nam Bắc triều, làm chức khai phủ, có tài văn chương, là tác giả bài Ai Giang Nam phú nổi tiếng.
**Bão tham quân: Tức Bão Chiếu 鮑照, cũng là một nhà thơ đời Nam Bắc triều, làm chức tham quân, nổi tiếng có thi tài.
***Vị Bắc: Lúc này Đỗ Phủ đang ở Hàm Dương, phía bắc sông Vị.
****Giang Đông: Nơi Lý Bạch đang ở lúc này, nay là miền nam tỉnh Giang Tô và miền bắc tỉnh Chiết Giang.
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93
Vô Đề 無題
Tác giả: Gia Các Lượng 諸葛亮
***

Giới thiệu tác giả:
Gia Cát Lượng 諸葛亮 (181-234) tự Khổng Minh 孔明, người Dương Đô, Lang Gia (nay là huyện Nghi Nam, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc), từng làm thừa tướng cho Lưu Bị đời Tam quốc, là nhà chính trị, quân sự, phát minh, đồng thời cũng là tản văn gia trứ danh trong lịch sử Trung Quốc. Ông là một đại biểu cho lòng trung thành và của văn hoá truyền thống Trung Quốc. Thời trẻ ông còn có ngoại hiệu là Ngoạ Long 臥龍, hoặc Phục Long 伏龍.


無題
大夢誰先覺,
平生我自知。
草堂春睡足,
窗外日遲遲。

Vô đề *
Đại mộng thuỳ tiên giác,
Bình sinh ngã tự tri.
Thảo đường xuân thuỵ túc,
Song ngoại nhật trì trì.

Dịch nghĩa
Trong giấc mộng lớn, ai là người tỉnh trước?
Trong cuộc đời này ta tự biết ta.
Đang yên giấc ngủ xuân trong ngôi nhà tranh,
Bên ngoài cửa sổ mặt trời (ngày tháng) cứ chậm rãi trôi qua.


Dịch thơ: Không Đề

Giấc mộng lớn lao ai người tỉnh?
Cuộc đời bé nhỏ ta biết ta
Lều tranh yên giấc trong nhà
Mặt trời chậm rãi trôi qua ánh chiều.

Lạc Mỹ Xuyên Thu

Bản dịch: Sưu Tầm
Mộng lớn nào hay ai tỉnh sớm
Bình sinh ta tự biết tài ta
Ngày xuân no giấc nơi lều cỏ
Bóng nắng ngoài song đã xế tà.

Trương Việt Linh

Chú thích:
*Vô Đề: Khi Lưu bị đến thảo lư mời Khổng minh ra làm quân sư cho mình lần thứ ba (Tam cố thảo lư). Khổng minh sau khi ngủ dậy (không biết ngủ thật hay cố ý giả vờ ngủ) xuất khẩu thành bài thơ này.
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93
Phong Kiều Dạ Bạc 楓橋夜泊
Tác giả: Trương Kế
***

Đôi nét về tác giả:

Trương Kế 張繼 (?-779) tự Ý Tôn 懿孫, người Tương Châu 襄州, đỗ tiến sĩ năm Thiên Bảo thứ 12 (754), là một nhà thơ có tiếng thời Trung Đường. Thơ của ông trong Toàn Đường thi có chép thành một quyển, nhưng chỉ một bài Phong Kiều dạ bạc 楓橋夜泊 đã giúp ông lưu danh thiên cổ.



楓橋夜泊


月落烏啼霜滿天,
江楓漁火對愁眠。
姑蘇城外寒山寺,
夜半鐘聲到客船。

Phong Kiều dạ bạc*


Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hoả đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự, **
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.


Dịch nghĩa


Trăng lặn, quạ kêu, sương phủ đầy trời.
Hàng phong bên sông, ngọn đèn thuyền chài ở trước người đang ngủ buồn.
Ngoài thành Cô Tô là chùa Hàn San,
Tiếng chuông lúc nửa đêm vẳng đến thuyền khách.


Bản Dịch: Nửa Đêm Đậu Bến Phong Kiều

Bản 1
Trăng lặn, quạ kêu, sương phủ lối
Lửa chày thiêu giấc bãi phong trôi
Cô Tô thành phủ Hàn San tự
Canh tàn chuông gọi khách thuyền côi.

Bản 2
Trăng tàn tiếng quạ phủ trời sương
Hàng phong đèn thắp giấc mộng thường
Cô Tô bến vắng thuyền côi lẻ
Hàn San chuông gọi khách sầu vương.

Lạc Mỹ Xuyên Thu

Bản dịch: Tản Đà

Trăng tà, tiếng quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

(Tư liệu: thivien.net)

Chú thích:
* Đôi nét về bối cảnh: Trong bối cảnh thành Trường An chìm trong cơn tao loạn thì nhà thơ Trương Kế, một đại quan tiến sĩ Ngự Sử đài, chẳng kịp theo đoàn hộ giá vương tôn lánh nạn mà đành lưu lạc xuống tận miền Giang Nam trên chiếc thuyền phiêu bạt. Một đêm ghé bến Phong Kiều, động mối u hoài chất chứa, gợi cảm cùng ngoại cảnh thê lương, bức xúc viết nên bài thơ tuyệt diệu, vượt qua cả không gian và thời gian, lưu truyền hậu thế.
Bài thơ gây khá nhiều tranh cãi về bối cảnh không theo lẽ thường của tác giả, có ý kiến cho rằng nhà thơ chỉ đang ghép vần nên mới có những đoạn văn không theo lẽ thường kia...
Tìm hiểu thêm

** Hàn San Tự: Ngôi chùa nằm ở phía tây trấn Phong Kiều, Tô Châu, được xây vào năm Thiên Giám (502-519) đời Lương Vũ Đế, đến năm Trinh Quán (627-649) đời Đường Thái Tông được gọi là Hàn San tự để tưởng nhớ nhà sư Hàn San cuồng sĩ đã tu ở đây. Trong chùa có tranh tượng hai nhà sư nổi tiếng Hàn San, Thập Đắc.

_____
Đôi lời: Sở dĩ có hai bản dịch là vì có một số ý kiến cho rằng những bản dịch trước của vài dịch giả vì đi theo ý của bài thơ mà đảo lộn trật tự của bản Hán Việt nên Thu đã dựa vào bản Hán Việt để dịch bản 1, tuy nhiên để dễ hiểu và lột tả được ý nghĩa của bài thơ thì Thu cho rằng như bản 2 sẽ phù hợp hơn.
Cuối cùng, ấn tượng của Thu về bài thơ này khá sâu, trước đây Thu từng hạnh ngộ với một vị cố nhân và may mắn được nghe nói về bài thơ này, vì cách nhiều năm nên Thu chỉ nhớ được khoảng đầu và tên của tác giả, cho đến vài hôm trước đột nhiên bắt gặp nên đã quyết định dịch lại bài thơ này, xem như tưởng nhớ người cố nhân kia, trước kia chẳng hiểu vì sao khi nhớ đến người nọ thì trong đầu lại bật ra hai chữ Kế Phong, đến hiện tại mới dần hiểu, đơn giản là nó gắn liền với bài thơ trên, Kế trong Trương Kế, Phong trong Phong Kiều dạ bạc...

 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93
Họa Khang ngũ Đình Chi
"Vọng nguyệt hữu hoài"

Tác Giả: Đỗ Thẩm Ngôn
***


Giới thiệu tác giả:
Đỗ Thẩm Ngôn 杜審言 (645-708) tự Tất Giản 必簡, thi nhân Sơ Đường. Đỗ Thẩm Ngôn chính là ông nội của Đỗ Phủ đời Thịnh Đường.



和康五庭芝望月有懷

明月高秋迥,
愁人獨夜看。
暫將弓並曲,
翻與扇俱團。
霧濯清輝苦,
風飄素影寒。
羅衣一此鑒,
頓使別离難。

Hoạ Khang ngũ Đình Chi "Vọng nguyệt hữu hoài"

Minh nguyệt cao thu huýnh,
Sầu nhân độc dạ khan.
Tạm tương cung tịnh khúc,
Phiên dữ phiến câu đoàn.
Vụ trạc thanh huy khổ,
Phong phiêu tố ảnh hàn.
La y nhất thử giám,
Đốn sứ biệt ly nan.

Dịch nghĩa


Trăng thu sáng cao xa,
Ban đêm người buồn một mình coi.
Mới đây cong như cánh cung,
Nay đã tròn như cái quạt.
Sương xuống làm ánh sáng bớt trong,
Gió thổi làm bóng trắng thêm lạnh.
Thoáng thấy như tà áo lụa,
Chợt cảm khó mà rời xa được.

Sưu tầm: thivien.net

Bản dịch: Hoạ bài "Ngắm trăng nghĩ ngợi" của bác năm Khang Đình Chi

Trăng sáng đêm thu cao vời vợi
Dáng người cô quạnh đứng chơi vơi
Vừa mới cong vành như cung tỏa
Nay lại thoắt tròn tựa quạt thoi
Sương xuống phủ mờ trăng sáng tỏ
Gió lùa thêm lạnh bóng trắng trong
Ngoảnh thấy phất phiêu tà áo lụa
Lòng chợt vấn vương chẳng nỡ rời.

Lạc Mỹ Xuyên Thu


*** Không có tư liệu giới thiệu về Khang Đình Chi, tuy nhiên có một bài "Vọng Nguyệt Hữu Hoài" của Lý Bạch sẽ được cập nhật trong phần thơ của ông.
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93
LÝ BẠCH 李白
Phần Một: Cuộc Đời Và Sự Nghiệp Sáng Tác
***


☆Cuộc Đời:

Lý Bạch (chữ Hán: 李白; 701 - 762), biểu tựThái Bạch (太白), hiệu Thanh Liên cư sĩ (青莲居士), là một trong những nhà thơ theo chủ nghĩa lãng mạn nổi tiếng nhất thời Thịnh Đường nói riêng và Trung Hoa nói chung.

Suốt cuộc đời của mình, ông được tán dương là một thiên tài về thi ca, người đã mở ra một giai đoạn hưng thịnh của thơ Đường. Từ trẻ, ông đã xa gia đình để đi du lịch, tìm đường lập công danh sự nghiệp. Dẫu muốn góp phần cứu đời giúp dân song chưa bao giờ ông được toại nguyện. Ông cùng người bạn Đỗ Phủ trở thành hai biểu tượng thi văn lỗi lạc không chỉ trong phạm vi nhà Đường, mà còn trong toàn bộ lịch sử Trung Hoa, thậm chí toàn bộ khu vực Đông Á đồng văn. Do sự lỗi lạc của mình, ông được hậu bối tôn làm Thi Tiên (詩仙) hay Thi Hiệp (詩俠). Giới thi nhân bấy giờ thì rất kính nể tài uống rượu làm thơ bẩm sinh, nên gọi Lý Bạch là Tửu Tiên (酒仙) hay Trích Tiên Nhân (谪仙人). Hạ Tri Chương gọi ông là Thiên Thượng Trích Tiên (天上謫仙).

Ông đã viết cả ngàn bài thơ bất hủ.[2] Hơn ngàn bài thơ của ông được tổng hợp lại trong tập Hà Nhạc Anh Linh tập (河岳英靈集), một tuyển tập thơ rất đồ sợ thời Vãn Đường do Ân Phan (殷璠) chủ biên vào năm 753, và hơn 43 bài của ông được ghi trong Đường Thi Tam Bách Thủ (唐诗三百首) được biên bởi Tôn Thù(孫洙), một học giả thời nhà Thanh. Vào thời đại của ông, thơ của ông đã xuất hiện các bản dịch tại phương Tây, chủ đề của ông nhấn mạnh tán dương mối quan hệ bạn bè, sự thần bí của thiên nhiên, tâm trạng tĩnh mịch và thú vui uống rượu rất đặc trưng của ông.

Cuộc đời của ông đi vào truyền thuyết, với phong cách yêu rượu hiếm có, những truyện ngụ ngôn và truyền thuyết về tinh thần trượng nghĩa, cũng như điển tích nổi tiếng về việc ông đã chết đuối khi nhảy khỏi thuyền để bắt cái bóng phản chiếu của mặt trăng.

Đường Văn Tông ngự phong tán dương thi ca của Lý Bạch, kiếm vũ của Bùi Mân, thảo thưcủa Trương Húc, gọi là Tam Tuyệt (三絕)
☆☆ Sự Nghiệp Sáng Tác:

Lý Bạch xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có. Lúc nhỏ học đạo, múa kiếm, học ca múa, lớn lên thích giang hồ ngao du sơn thuỷ, 25 tuổi “chống kiếm viễn du”, đến núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ rồi xuôi Trường Giang qua hồ Động Đình, lên Sơn Tây, Sơn Đông cùng năm người bạn lên núi Thái Sơn “ẩm tửu hàm ca” (uống rượu ca hát), người đời gọi là Trúc khê lục dật. Sau đó được người bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô Trường An ba năm, nhưng nhà vua chỉ dùng ông như một "văn nhân ngự dụng" nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn thuỷ.

Đến Lạc Dương, gặp Đỗ Phủ kết làm bạn vong niên (Đỗ Phủ kém Lý Bạch 11 tuổi). Họ cùng Cao Thích vui chơi, thưởng trăng ngắm hoa, san bắn được nửa năm. Rồi ông lại tiếp tục chia tay Đỗ Phủ viễn du về phương nam. Những năm cuối đời ông ẩn cư ở Lư Sơn. Tương truyền năm 61 tuổi ông đi chơi thuyền trên sông Thái Thạch, tỉnh An Huy, uống say, thấy trăng lung linh đáy nước, nhảy xuống ôm trăng mà chết. Nay còn Tróc nguyệt đài (Đài bắt trăng) ở huyện Đăng Đồ, An Huy, là địa điểm du lịch nổi tiếng. Người đời phong danh hiệu cho ông là Thi tiên, Trích tiên, Tửu trung tiên,...

Lý Bạch là người Lũng Tây, Cam Túc; lúc mới 5 tuổi, gia đình về định cư ở làng Thanh Liên, huyện Xương Long thuộc Miên Châu (Tứ Xuyên) nên nhà thơ vẫn coi Tứ Xuyên là quê hương của mình. Theo lời Lý Bạch kể lại, ông là hậu duệ của tướng quân Lý Quảng nhà Hán, là cháu chín đời của Tây Lương Vũ Chiêu vương Lý Cảo nước Tây Lương thời Ngũ Hồ thập lục quốc. Có sách ghi ông là con cháu đời sau tông thất nhà Đường, cụ thể là hậu duệ của Ẩn Thái tử Lý Kiến Thành. Vào cuối đời nhà Tùy, một người họ Lý trốn ra Tây Vực, kết duyên cùng một Man bà (phụ nữ Tây Vực), đến năm Trường An nguyên niên sinh ra Lý Bạch (lúc này nhà Đường đang có sự biến do Võ Tắc Thiên gây ra).

Tương truyền lúc ông sắp sinh, bà mẹ nằm mộng thấy sao Tràng Canh (hay Trường Canh), vì sao này có tên là Thái Bạch nên đặt tên con là Bạch. Lý Bạch suốt thời thơ ấu được mẹ dạy cho chữ Tây Vực, cha dạy cho Kinh Thi, Kinh Thư, đến 10 tuổi đã thông thạo và thích làm thơ.

Gia đình giàu có, nên từ nhỏ Lý Bạch đã tha hồ đi đây đi đó cùng cha. Ông tỏ ra rất thích, chí hướng của ông sau này không phải quan trường, mà là thơ túi rượu bầu, thong dong tiêu sái. Đến năm 10 tuổi gia đình chuyển về huyện Chương Minh, Tứ Xuyên. Tại đây Lý Bạch say mê học kiếm thuật, trong một thời gian ngắn, tài múa kiếm và tài thơ của ông được bộc lộ rõ rệt.

Năm 15 tuổi, ông đã có bài phú ngạo Tư Mã Tương Như, bài thơ gửi Hàn Kinh Châu, khá nổi tiếng. Lúc 16 tuổi danh tiếng đã nổi khắp Tứ Xuyên, thì ông lại phát chán, bèn lên núi Đái Thiên Sơn học đạo, bắt đầu cuộc đời ẩn sĩ.

Làm ẩn sĩ trên núi được 2 năm, ông lại hạ sơn, bắt đầu làm hiệp sĩ, đi lùng hết các thắng cảnh ở Hà Bắc, Giang Tây, Trường An... Bạn đồng hành với ông lúc này là Đông Nham Tử, nhưng chỉ đi chung được 1 năm. Đến năm 20 tuổi Lý Bạch đã đi khắp nước Thục, ông lại về Tứ Xuyên với gia đình, chuẩn bị tiền đi đường và tiền mua rượu cho cuộc hành trình sắp tới. Ông đến làm dưới trướng của thứ sử Ích ChâuTô Dĩnh, được ông này khen là thiên tài, "có thể sánh với Tư Mã Tương Như".

Năm 723, Lý Bạch mặc áo trắng, đeo một bầu rượu lớn, chống kiếm lên đường viễn du. Trong khoảng ba năm, ông đã tham quan hầu hết cảnh đẹp Trung Hoa, như là hồ Động Đình, sông Tương, Kim Lăng, Dương Châu, Ngô Việt, Giang Hạ...Đến năm 726, ông đến Vân Mộngkết duyên cùng cháu gái của Hứa tướng công. Thời gian này tài năng thơ bắt đầu nở rộ. Đến 30 tuổi thì tiếng tăm đã vang đến triều đình. Được mời đi làm quan, nhưng ông không nhận.

Năm Khai Nguyên thứ 23 (735), ông đi chơi ở Thái Nguyên, gặp Quách Tử Nghi đang ở tù, ông xin giúp, Quách liền được thả. Ông lại dẫn vợ rong chơi qua nước Tề, Lỗ, rồi định cư ở Nhiệm Thành. Đến đây Lý Bạch lại được Khổng Sào Phủ, Hàn Chuẩn, Bùi Chính, Đào Cái, Trương Thúc Minh - những ẩn sĩ đương thời - rủ lên núi Tồ Lai thưởng ngoạn, rồi say sưa ở Trúc Khê. Nhóm này được người ta gọi là "Trúc Khê lục dật".

Sau khi ông qua đời, Lý Đăng Dương sưu tầm thơ ông. Theo đó thì ông làm khoảng 20.000 bài, nhưng ông không để tâm cất giữ nên nay chỉ còn khoảng 1.800 bài. Thơ ông viết về mọi đủ mọi đề tài: vịnh cảnh, thưởng hoa, tình bạn, nỗi khổ đau của người dân, nỗi cay đắng của người vợ trẻ xa chồng (chinh phụ, thương phụ), của người cung nữ, nỗi cô đơn và bất lực trước vũ trụ vô cùng vô tận, nỗi cay đắng vì có tài mà không được dùng... Đề tài nào cũng có những bài tuyệt tác.
☆☆☆ Tác Phẩm:

(Một bài thơ viết bằng chữ Hán của Lý Bạch)

Nhà thơ Bì Nhật Hưu thời vãn Đường nói rằng:"Từ khi nhà Đường dựng nghiệp đến giờ, ngữ ngôn ra ngoài trời đất, tư tưởng vượt xa quỷ thần, đọc xong thì thần ruổi tám cực, lường rồi thì lòng ôm bốn bể, lỗi lạc dị thường, không phải lời của thế gian, thì có thơ Lý Bạch".

Lý Bạch làm hơn 20.000 bài thơ cả thảy, nhưng làm bài nào vứt bài đó, nên được biết tới là nhờ dân gian ghi chép hơn cả. Sau loạn An Lộc Sơn thì mất rất nhiều. Đến khi ông mất năm 762 thì người anh họ Lý Dương Lân thu thập lại, thấy chỉ còn không tới 1/10 so với người ta truyền tụng. Sang năm 1080, Sung Minh Chiu người Cao Ly mới gom góp lại tập thơ Lý Bạch, gồm 1800 bài. Đến nay thì thơ Lý Bạch còn trên dưới 1000 bài, bài nào cũng được đánh giá rất cao, nhưng nổi tiếng trong dân gian thì có: Tương Tiến Tửu, Hiệp khách hành, Thanh Bình Điệu, Hành lộ nan...

Khác với Đỗ Phủ, thơ Lý Bạch thích viển vông, phóng túng, ít đụng chạm đến thế sự mà thường vấn vương hoài cổ (Phù phong hào sĩ ca, Hiệp khách hành, Việt trung lãm cổ...), tả cảnh thiên nhiên tươi đẹp (Cổ phong, Quan san nguyệt...), cảm thông cho người chinh phụ (Trường can hành, Khuê tình, Tử dạ thu ca...), về tình bạn hữu (Tống hữu nhân, Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, Văn Vương Xương Linh thiên Long Tiêu...), tình trai gái (Oán tình, Xuân tứ...), nhớ quê hương (Tĩnh dạ tứ, Ức Đông Sơn...). Nhưng nhiều nhất vẫn là về rượu (Tương Tiến tửu, Bả tửu vấn nguyệt, 4 bài nguyệt hạ độc chước, Xuân nhật độc chước, Đối tửu...).

Lý Bạch làm thơ lối Cổ Phong rất được yêu thích, ngoài ra còn có thơ tứ cú, bát cú.
☆☆☆☆ Tìm Hiểu Thêm:

♤ Trích Dẫn Tiêu Biểu♤

  1. "Mã nhĩ đông phong" (Tai ngựa, gió đông) - Lý Bạch viết trong bài "Nhớ mười hai đem lạnh Vua Đáp uống một mình" (荅王十二寒夜獨酌有懷): Thế nhân văn thử giai điệu đầu, hữu như đông phong xạ mã nhĩ(世人聞此皆掉頭、有如東風射馬耳), nghĩa là "Mọi người trong thế giới đều nghe ấy và lắc đầu, thật giống như gió xuân thổi qua tai ngựa".​
  2. "Kim Cốc tửu sổ" (Kim Cốc số rượu) - Từ bài thơ "Đêm xuân uống rượu trong vườn đào mận (春夜宴桃李園序)": Như thi bất thành, phạt y Kim Cốc tửu sổ (如詩不成、罰依金谷酒數), nghĩa là "Như thơ không thành, phạt theo số rượu ở Kim Cốc".​


◇ Lý Bạch Trong Đạo Cao Đài ◇

Theo giáo lý đạo Cao Đài hay Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Lý Bạch là danh xưng trong một kiếp xuống trần của Thái Bạch Kim Tinh, mượn kiếp này của ngài để tôn thờ một quyền năng thiêng liêng cao trọng với danh hiệu "LÝ ĐẠI TIÊN TRƯỞNG KIÊM GIÁO TÔNG ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ".



"Vâng lịnh Ngọc Hư nay xuống thế,

Tam kỳ độ rỗi các nguyên nhân"

Danh xưng Thái Bạch mới có từ đời Phong Thần, đến đời nhà Đường ngài mới chiết chơn linh đầu kiếp là một đại thi hào Lý Bạch.



"Tinh quân thọ sắc thuở Phong Thần.

Cho đến Đường triều mới biến thân.

Thái Bạch Kim Tinh đang trị thế,

Trường canh trích tử đến thăm trần."


_____________


Đôi lời:

Lý Bạch xưa kia còn "Tống Biệt"
Đổ Phủ đêm trăng "Nguyệt Dạ" điền
Biệt khúc chia ly người tri kỉ
Dạ hoài mong ngóng kẻ chinh yên.
-Lạc Mỹ Xuyên Thu-


Lý Bạch, nhắc đến cái tên này tôi lại liên tưởng khá nhiều đến sự lãng mạn và cốt khí thanh tao hơn là sự tài hoa khi nói về Đỗ Phủ. Hình tượng của ông luôn là một bạch y lão nhân, không màn thế sự, không vướng bụi trần khiến người ta chỉ có thể đứng nhìn từ xa mà không dám lại gần.

Bộ thơ khổng lồ của ông thật sự làm tôi rất hoang mang khi phải lựa chọn ra những bài phù hợp với bản thân vừa có thể tách biệt được với phong cách của Đổ Phủ, họ có sự đồng điệu về tâm hồn sáng tác nhưng nếu ai có tìm hiểu về hai vị lão nhân này, chắc hẳn sẽ đôi chút phân biệt được cách ra thi từ của hai người có sự bất đồng. Hơn là những bài nói về nghiệp lớn, tôi lại thích đặt cạnh hai ông bằng những bài thơ ngẫu hứng đời thường.

Số lượng bài có thể chỉ cập nhật trong giới hạn khả năng của dịch giả, nếu thi hữu nào có lòng yêu cổ thi lẫn tác giả này, có thể đóng góp thêm nhiều bản dịch khác.

Chân thành cảm ơn các bạn đã đến với Cổ Thi!
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93
Phần hai: Tác Phẩm
-*-

Tống Biệt

Tác giả: Lý Bạch
***


送別

鬥酒渭城邊,
壚頭醉不眠。
梨花千樹雪,
楊葉萬條煙。
惜別傾壺醑,
臨分贈馬鞭。
看君潁上去,
新月到應圓。

Tống biệt


Đấu tửu Vị thành biên,
Lô đầu tuý bất miên.
Lê hoa thiên thụ tuyết,
Dương diệp vạn điều yên.
Tích biệt khuynh hồ tữ,
Lâm phân tặng mã tiên.
Khán quân Dĩnh thượng khứ,
Tân nguyệt đáo ứng viên.

Bản Dịch: Chia Tay

Cạn chén rượu đào trên sông Vị
Đê đầu bên bếp ngỡ rằng say
Ngàn cây lê phủ như phong tuyết
Vạn cành lá liễu tựa sương mai.
Nâng chén buồn thương người tiễn biệt
Roi da yên ngựa chẳng rời tay
Dáng người dần khuất trên sông Dĩnh
Trăng non vừa hé vẫn tròn hoài.

Lạc Mỹ Xuyên Thu
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93
Hiệp Khách Hành 俠客行
Tác giả: Lý Bạch
***




俠客行


趙客縵胡纓,
吳鉤霜雪明。
銀鞍照白馬,
颯沓如流星。
十步殺一人,
千里不留行。
事了拂衣去,
深藏身與名。
閑過信陵飲,
脫劍膝前橫。
將炙啖朱亥,
持觴勸侯嬴。
三杯吐然諾,
五岳倒為輕。
眼花耳熱後,
意氣素霓生。
救趙揮金鎚,
邯鄲先震驚。
千秋二壯士,
烜赫大樑城。
縱死俠骨香,
不慚世上英。
誰能書閣下,
白首太玄經。


Hiệp khách hành

Triệu khách mạn hồ anh,
Ngô câu sương tuyết minh.
Ngân an chiếu bạch mã,
Táp đạp như lưu tinh.
Thập bộ sát nhất nhân,
Thiên lý bất lưu hành.
Sự liễu phất y khứ,
Thâm tàng thân dữ danh.
Nhàn quá Tín Lăng ẩm,
Thoát kiếm tất tiền hoành.
Tương chích đạm Chu Hợi,
Trì thương khuyến Hầu Doanh.
Tam bôi thổ nhiên nặc,
Ngũ nhạc đảo vi khinh.
Nhãn hoa nhĩ nhiệt hậu,
Ý khí tố nghê sinh.
Cứu Triệu huy kim chuỳ,
Hàm Đan tiên chấn kinh.
Thiên thu nhị tráng sĩ,
Huyên hách Đại Lương thành.
Túng tử hiệp cốt hương,
Bất tàm thế thượng anh.
Thuỳ năng thư các hạ,
Bạch thủ Thái huyền kinh.

Dịch nghĩa

Khách nước Triệu đeo giải mũ thô sơ
Thanh Ngô câu sáng như sương tuyết
Yên bạc soi chiếu con ngựa trắng
Lấp loáng như sao bay
(Thanh gươm) mười bước giết một người
Cho nên không đi xa ngàn dặm
Làm xong việc rũ áo ra đi
Ẩn kín thân thế cùng danh tiếng
Lúc nhàn rỗi qua nhà Tín Lăng quân
Cởi kiếm ra để ngang trên gối
Đem chả nướng mời Chu Hợi
Cầm chén rượu mời Hầu Doanh
Uống ba ly chân thành gật đầu
Năm trái núi lớn thật xem là nhẹ
Sau khi mắt hoa, tai nóng bừng
Ý khí như cầu vồng trắng bốc sinh
Vung cây chuỳ cứu nước Triệu
Thành Hàm Đan trước tiên đã chấn kinh
Hai tráng sĩ ngàn năm sau
Thanh danh lẫy lừng thành Đại Lương
Dù cho chết xương cốt hiệp sĩ còn thơm
Không hổ thẹn với anh hùng trên thế gian
Ai là người có thể ngồi viết sách dưới gác
Bạc đầu với cuốn kinh Thái huyền

(Nguồn: thivien.net)

Bản dịch: Bài Ca Về Người Hiệp Khách

Khách nước Triệu thô sơ giải mũ
Thanh Ngô câu sáng tựa tuyết sương
Bọc lưng ngựa trắng trên đường
Yên sau ánh bạc như gương sáng ngời.

Mười bước giương gươm trừ một kẻ
Cần chi phải vội ngàn dặm xa
Việc xong rủ áo cho qua
Che danh ẩn thế biết là tiếng tăm.

Thanh nhàn ghé lại quân Lăng Tín
Tuốt kiếm nâng chân đặt gối ngồi
Chả nướng Chu Hợi cùng xơi
Rượu đào nâng chén đối mời Hầu Doanh.

Rượu cạn ba ly thân tình trọn
Núi dù năm ngọn tựa hư không
Men say hoa mắt tai bùng
Mà đâu ý chí hào hùng dậy nâng.

Đại chùy vung tay đà cứu Triệu
Hàm Đan khiếp đảm, loạn yên thành
Ngàn năm tráng sĩ hai chàng
Thanh danh lừng lẫy ngút ngàn Đại Lương.

Xác chôn, xương rạn còn danh sáng
Anh hùng nào thẹn với thế gian
Vùi ngâm chép sách bên đàn
Thái Huyền kinh sử bạc đầu người lưu.

Lạc Mỹ Xuyên Thu


Tìm hiểu thêm:
Nguỵ Vô Kỵ được anh là Nguỵ An Ly vương phong làm Tín Lăng quân. Ở thành Đại Lương, kinh đô của nước Nguỵ, có một ẩn sĩ 70 tuổi tên là Hầu Doanh. Tín Lăng quân rất trọng Hầu Doanh, tôn làm thượng khách. Hầu Doanh tiến cử người đồ tể tên là Chu Hợi, cũng là một ẩn sĩ hiền tài. Năm thứ 20 đời Nguỵ An Ly vương, quân Tần vây thành Hàm Đan của nước Triệu. Vua Nguỵ sai tướng Tấn Bỉ mang quân sang cứu Triệu, nhưng sau sợ uy thế của Tần, do đó không tiến quân. Tín Lăng quân vì bạn là Bình Nguyên quân đang bị vây ở Triệu, hết lời xin vua Nguỵ cho tiến quân, nhưng vua Nguỵ không nghe. Theo kế của Hầu Doanh, Tín Lăng quân nhờ vương phi Như Cơ, lấy trộm được binh phù của vua Nguỵ, đem đi ra lệnh cho Tấn Bỉ tiến quân. Tấn Bỉ nghi ngờ không tuân lệnh. Chu Hợi liền rút cây chuỳ sắt nặng 40 cân, giết chết Tấn Bỉ. Nhờ đó Tín Lăng quân dem quân đánh đuổi được quân Tần, cứu nguy cho thành Hàm Đan và Bình Nguyên quân.
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93
Thu Tứ
Tác giả: Lý Bạch
***

秋思

燕支黃葉落,
妾望自登臺。
海上碧雲斷,
單于秋色來。
胡兵沙塞合,
漢使玉關回。
征客無歸日,
空悲蕙草摧。

Thu tứ

Yên Chi hoàng diệp lạc,
Thiếp vọng tự đăng đài.
Hải thượng bích vân đoạn,
Thiền Vu thu sắc lai.
Hồ binh sa tái hợp,
Hán sứ Ngọc Quan hồi.
Chinh khách vô quy nhật,
Không bi huệ thảo tồi.

Dịch nghĩa

Ở Yên Chi lá vàng rơi
Thiếp tự lên đài cao ngóng nhìn
Trên vùng Thanh Hải, mây biếc đứt khúc
Nơi biên ải vùng đất của rợ Hồ, sắc thu đã lại tới
Quân Hồ kéo đến đầy trước ải cát
Sứ nhà Hán từ Ngọc Môn quan trở về
Lính chinh chiến chưa biết ngày nào mới trở về
Chỉ thương cho cỏ huệ úa tàn

Ý Thu

Yên Chi đất phủ lá vàng rơi
Đài cao thiếp vọng phía chân trời
Thanh Hải biển mây chia từng đoạn
Thiền Vu thu đến chẳng sao vời
Hồ quân vây kín trời biên ải
Ngọc Môn sứ Hán cũng rã rời
Hẹn khách ra đi giờ không thấy
Loan phòng cỏ huệ úa tàn rơi...

Lạc Mỹ Xuyên Thu


 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93
Bả Tửu Vấn Nguyệt
Tác giả: Lý Bạch
***

把酒問月

青天有月來幾時,
我今停杯一問之。
人攀明月不可得,
月行卻與人相隨。
皎如飛鏡臨丹闕,
綠煙滅盡清輝發。
但見宵從海上來,
寧知曉向雲間沒。
白兔搗藥秋復春,
嫦娥孤棲與誰鄰。
今人不見古時月,
今月曾經照古人。
古人今人若流水,
共看明月皆如此。
唯願當歌對酒時,
月光常照金樽裡。

Bả tửu vấn nguyệt

Thanh thiên hữu nguyệt lai kỷ thì,
Ngã kim đình bôi nhất vấn chi!
Nhân phan minh nguyệt bất khả đắc,
Nguyệt hành khước dữ nhân tương tuỳ.
Kiểu như phi kính lâm đan khuyết,
Lục yên diệt tận thanh huy phát
Đãn kiến tiêu tòng hải thượng lai,
Ninh tri hiểu hướng vân gian một.
Bạch thố đảo dược thu phục xuân,
Thường nga cô thê dữ thuỳ lân.
Kim nhân bất kiến cổ thì nguyệt,
Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân.
Cổ nhân kim nhân nhược lưu thuỷ,
Cộng khan minh nguyệt giai như thử.
Duy nguyện đương ca đối tửu thì,
Nguyệt quang thường chiếu kim tôn lý.

Dịch nghĩa

Trời xanh có vầng trăng đã bao lâu rồi?
Nay ta ngừng chén hỏi trăng đây!
Người thường không thể vin với được vầng trăng sáng,
Trăng đi đâu thì vẫn cứ theo người.
Ánh sáng trắng như gương vút tận cửa son,
Khói biếc tan đi hết, để lộ vẻ trong trẻo lan tỏa ra.
Chỉ thấy ban đêm trăng từ biển tới,
Nào hay sớm lại tan biến giữa trời mây.
Thỏ trắng giã thuốc mãi thu rồi lại xuân,
Thường Nga lẻ loi cùng ai bầu bạn?
Người ngày nay không thấy bóng trăng xưa.
Trăng nay thì đã từng soi người xưa.
Người xưa nay tựa như giòng nước chảy,
Cùng ngắm vầng trăng sáng như vậy đó.
Chỉ mong trong lúc ca say trước cuộc rượu,
Ánh trăng cứ mãi sáng soi vào chén vàng.


Bản dịch: Nâng Chén Rượu Hỏi Trăng

Trời xanh trăng có tự bao giờ
Nay ta dừng chén hỏi trăng thơ
Ai nào vin nổi trăng vầng sáng
Ta đi trăng cũng bước theo người.

Sáng tựa như gương soi lầu các
Khói mờ lung tỏa bóng trăng sang
Trời đêm chỉ thấy trăng từ biển
Sớm tỏ tan trong dấu mây ngàn.

Thỏ tuyền giã thuốc mãi xuân thu
Hằng Nga lẻ bóng, ai cùng ngụ?
Người nay chẳng thấy trăng ngày cũ
Trăng hoài vẫn đợi bóng người lưu.

Người vốn xưa nay hòa dòng chảy
Trăng trong cũng thưởng hết phen này
Mong rằng cơn say chưa tàn cuộc
Trăng vàng chén tửu đến ngày nay...

Lạc Mỹ Xuyên Thu


 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
541
Điểm
93
Độ Kinh Môn Tống Biệt
Tác giả: Lý Bạch
***

渡荊門送別

渡遠荊門外,
來從楚國遊。
山隨平野盡,
江入大荒流。
月下飛天鏡,
雲生結海樓。
仍憐故鄉水,
萬裡送行舟。

Độ Kinh Môn tống biệt

Độ viễn kinh môn ngoại,
Lai tòng Sở quốc du.
Sơn tuỳ bình dã tận,
Giang nhập đại hoang lưu.
Nguyệt hạ phi thiên kính,
Vân sinh kết hải lâu.
Nhưng liên cố hương thuỷ,
Vạn lý tống hành chu.

Dịch nghĩa
Vượt ra xa hẳn ngoài núi Kinh Môn
Lại ngoạn du vùng Sở quốc
Núi dài thẳng tắp miền đồng bằng
Sông đổ vào chốn đồng hoang bao la
Trăng chiếu rọi xuống như gương trời bay
Mây kết tụ tạo thành lầu đài trên mặt sông
Vẫn nhớ thương dòng nước chốn quê xưa
Đã đưa tiễn thuyền ta ra đi muôn dặm.
(Năm 724)
Núi Kinh Môn ở huyện Nghi Đô, tỉnh Hồ Bắc.

Bản dịch: Tiễn Biệt Ngoài Kinh Môn

Vượt dặm ngoài xa núi Kinh Môn
Sở quốc rong chơi tường khắp chốn
Núi dài thẳng tắp bình nguyên trải
Sông tràn biếc rộng đổ đồng hoang.
Trăng sáng như gương trời uốn lượn
Lâu đài mây tụ bóng sông buồn
Dòng nước như thương về quê cũ
Lướt thuyền tiễn biệt khách ngàn muôn.

Lạc Mỹ Xuyên Thu


 
Top