[Truyện ngắn] | Tập Truyện Ngắn - Tản Văn | Đi Giữa Đời Người
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
| Tập Truyện Ngắn - Tản Văn |
ĐI GIỮA ĐỜI NGƯỜI
°• Tiếng Vọng Hoài Thu •°

Tác giả: Lạc Mỹ Xuyên Thu
***

1190

Đời người... đời người...

Cuộc đời của mỗi người đều là một câu chuyện.


Có thể là một câu chuyện nhạt nhẽo, cũng có thể là một câu chuyện đầy niềm vui, và đôi khi là một câu chuyện chứa đầy nước mắt và chiêm nghiệm.

Tôi là một vị khách, vô tình bước qua đời họ. Tôi trông thấy, tôi thấu cảm, và tôi viết.

Viết nên một câu chuyện, câu chuyện về đời người.

...

Đi trên đôi chân, lãng du miền đất khách
Giữa chốn hoa đèn, tĩnh lặng phút suy tư
Đời người như gió, thoảng qua dòng hồi tưởng
Người của đời người, thấu cảm và ưu tư.

...

°• Tiếng Vọng Hoài Thu •°

Tiếng ai gọi về trong ký ức
Vọng bên tai điệu hát ân tình
Hoài niệm một thời tà áo trắng
Thu sang còn nhớ một bóng hình.


Tiếng Vọng Hoài Thu - bao gồm những cảm xúc nhẹ nhàng, những tình cảm sâu lắng trong tâm trí mỗi con người không thể nói ra.

Mỗi câu chuyện là mỗi số phận mảnh đời cô tịch trong mỗi nhân vật.

Giống như đối với mỗi đời người chính bản thân đều là nhân vật chính.

Sẽ có những tình cờ... sẽ có những khó khăn... sẽ có những cảm xúc chân thực trong cuộc sống.

Tựa như Hoài Thu!
Hoài trong hoài vọng, thu trong mùa thu.
Hư vô không thực, lại như luôn tồn tại trong tâm hồn của con người.

***
Gió mang một chút ấm áp thổi về với thời gian...
Để tồn tại dư âm nỗi nhớ còn sót lại.
-Hoài Thu-
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
Hương Vị Café
Tác giả: Lạc Mỹ Xuyên Thu
Thể loại: Truyện ngắn
Độ dài: 3 phần (Hoàn)
***



Giới thiệu:
Tôi gặp anh vào một chiều nắng hạ, giữa phố thị đầy nhộn nhịp vào xa hoa, dường như trong một thoáng khi anh quay đầu nhìn lại, tôi đã thầm nghĩ, một người như thế, hẳn sẽ khiến tôi biết đến yêu là gì.

Anh mang đến cho tôi một tách cafe, cũng như cách anh mang cho tôi một chút dư vị của yêu thương.

Đắng chát, xen lẫn ngọt ngào, và...

Tôi không biết hình dung nó như thế nào.
Rồi một thoáng, tôi bất chợt nghĩ đến, hẳn là nó giống với hương vị cafe đi.

Đúng vậy, là hương vị cafe!
♧♧♧

PHẦN MỘT: FK

Thành phố vừa bước vào mùa hè nắng gắt, tôi lê bước chân chậm rãi từ cổng trường đại học đi về phía quán cafe First Night, nơi tôi đang làm thêm ngoài giờ học.

First Night - đêm đầu tiên, tôi thích cái tên này, nó làm tôi liên tưởng đến những điều trụy lạc giữa phố thị phồn hoa, đâu đó trong sự điên cuồng còn là một sự cháy bỏng từ tâm hồn lẫn thể xác, tôi như thấy sự hòa quyện giữa hai con người Nga, thấu cảm và điên dại. Tất nhiên, đó chỉ là những suy nghĩ nhất thời của tôi mà thôi, bởi đây là một quán cafe mang phong cách Anh Quốc.

Ông chủ quán Peter là một người Anh chính gốc, nhưng ông đã chuyển đến đây sống gần hai mươi năm. Tính cách ông khá hiền hậu và cởi mở nên rất được lòng mọi người, ngay cả tôi chỉ mới làm ở đây hơn nửa năm cũng có chút yêu mến với ông chủ thân thiện này.

Quán cafe không lớn cũng không nhỏ, vừa vặn có thể bày trí một quầy nước lớn trải dài từ cửa ra vào đến phía trong cùng quán, chính giữa là mặt tiền dùng để trang trí khung cảnh theo mùa, những cây phong lá đỏ làm từ nhựa tổng hợp được trang trí khá bắt mắt, tôi luôn cảm thấy, dường như ông chủ Peter là một người hay nhầm lẫn giữa các mùa với nhau, ít nhất tôi nghĩ chỉ riêng mùa thu mới có lá phong đỏ, tuy nhiên tôi lại không ghét cách bài trí này, bởi tôi luôn yêu thích những khung cảnh hoài niệm. Tựa như lá phong đỏ chẳng hạn.

Tôi bước chậm vào quán, nhìn lướt qua những dãy bàn được đặt ngoài trời, hiện tại là giữa trưa nên quán không đông khách lắm, quay bước về phía quầy pha chế, chưa kịp vào trong quầy đã nghe thấy giọng nói rất vang của cô bạn cùng làm thêm.

"Hạ Thư, sao mặt đỏ thế kia, cậu lại dang nắng đấy à?"

"Ừm, tớ đi vội nên không kịp mang theo dù gấp, dù gì thì nơi này cách trường học cũng không xa lắm." Tôi lơ đãng đáp lời cô bạn, nhanh chóng thay đổi đồng phục quán rồi tiện tay nhét chiếc balo vào ngăn tủ riêng.

"Ba mươi phút mà cậu bảo là không xa lắm à, cậu xem lại mặt mình xem, bị thiêu đỏ cả lên. Tớ bảo này, sao cậu suốt ngày lang thang ngoài đường mà không đen thêm tí nào thế, trong khi tớ suốt ngày trong nhà nhưng không trắng thêm được tí nào, cậu làm tớ ganh tỵ quá đấy."

Vừa nói cô bạn vừa cầm tay tôi sờ đến sờ đi, khuôn mặt bầu bĩnh khẽ phụng phịu ganh tỵ trông mà đáng yêu. Tôi khẽ cười trừ, rồi lại chừng nhớ ra một việc, tôi liền hỏi: "Quỳnh này, tớ nhớ không lầm thì tuần này cậu trực ca sáng mà?"

Giờ làm việc ở First Night được chia làm hai ca, quán mở cửa vào lúc 8 giờ và đóng cửa vào lúc 22 giờ nên thời gian thay ca là 15 giờ chiều, nhìn cô bạn đang chuẩn bị dụng cụ pha chế, tôi sực nhớ đến tuần này người nên làm cùng tôi là Vu Lâm mới phải.

Vu Lâm là một nhân viên pha chế chính trong quán, nửa năm nay tôi vẫn thường theo cậu ta học tập thêm cách điều lượng hạt cafe.

Cô bạn nghe tôi hỏi xong, chực quay sang ngạc nhiên hỏi lại: "Ơ hay, cậu không biết gì sao, tuần trước Vu Lâm đã xin nghỉ luôn rồi, nghe bảo mẹ cậu ấy đổ bệnh nên phải về quê gấp, hẳn là hết học kỳ này mới lên lại. Ngoài quán vừa treo bảng tuyển người đấy, cậu không thấy à?"

Tôi ngây ra một lúc, đúng là tôi chẳng biết gì cả, tôi không thân với mọi người trong quán lắm, mặc dù đã làm ở đây hơn nửa năm, nhưng quan hệ chỉ dừng lại ở mức có thể trò chuyện đôi ba câu. Tôi không thích tiếp xúc với người lạ, hay nói trắng ra là tính tình khá trầm lặng ít nói, đối với mối quan hệ bạn bè chỉ dừng ở mức xã giao qua lại mà thôi. Cho nên đối với việc trong quán người đến người đi thì đều ít khi hỏi đến.

Có lẽ đoán biết được tính tình của tôi nên cô bạn không nói tiếp nữa, chỉ khẽ lắc đầu xem như chẳng có gì rồi tiếp tục công việc của mình. Rất lâu sau tôi mới nghe thấy một tiếng thầm thì thật khẽ: "Người như thế nào mới khiến cậu để tâm đến đây..."

Tôi lặng lẽ thu xếp lại một chút dụng cụ pha chế, đối với thái độ của mọi người của đã quen rồi, tôi không để tâm nhiều lắm. Đó chính là con người tôi, lạnh nhạt và nhàm chán. Không phải là tôi không muốn hòa nhập hơn với họ, chỉ là không biết phải nói gì, làm gì mà thôi. Đôi khi tôi cũng thầm nhủ, người trên thế giới này có thể đi vào lòng tôi, ngoài người thân ra thì có được ai nào? Tôi thật sự có thể yêu thương một người chứ?

...

Trời bắt đầu sẫm tối, đèn đường lần lượt nối đuôi nhau bật lên, khách vào quán cũng ngày một tăng, vì người pha chế chính đã xin nghỉ nên cả nhóm pha chế và phục vụ thay phiên nhau xử lý các dãy bàn trống ở góc trong cùng, hôm nay còn có một party sinh nhật ở trong ấy nên phải chuẩn bị một chút, đang loay hoay thì chợt tôi nghe thấy một giọng nói trầm thấp khẽ cất lên.

"Xin chào, cho tôi hỏi thăm một chút, có thể gặp ông chủ quán ở đâu vậy?"

Tôi vừa đặt tách cafe lên quầy cho nhân viên phục vụ mang đi vừa lần theo giọng nói ngẩng đầu lên, vừa vặn bắt gặp một đôi mắt đen láy cũng đang nhìn thẳng về phía mình. Là một người thanh niên tuổi chừng hai mấy, bộ dáng dong dỏng cao và tóc cắt khá ngắn trông rất năng động, tuy nhiên khuôn mặt anh ta toát lên khí chất tao nhã, khiến người đối diện nhìn vào ít nhiều có thiện cảm.

Dừng lại khoảng hai giây, tôi mới cất tiếng hỏi: "Anh tìm Peter à, ông ấy vừa ra ngoài một lúc, xin hỏi anh có việc gì không?"

"Tôi đến làm việc." Người thanh niên cất tiếng nói, giọng vẫn khá trầm.

Ngẩn ra một chút, lúc này tôi mới chợt nhớ ra về việc quán đang tuyển người. Đang định mở miệng thì chợt có tiếng ông chủ Peter vang lên từ phía cửa ra vào.

"Nhật Bách, đến rồi à, mẹ cháu vừa gọi cho chú rồi. Thời gian tới cháu cứ tạm thời làm việc ở đây đi." Vừa nói Peter vừa đi đến trước mặt tôi, tôi nghĩ rằng ông ấy sẽ nhờ vả tôi hướng dẫn công việc một chút cho cậu thanh niên xem chừng là họ hàng với Peter này, không ngờ ông ấy nói với tôi một câu rồi nhanh chóng đi vào quầy.

"Nghe nói cháu rất thích cafe nhỉ? Vậy thì lần này mặc sức tận hưởng nhé!"

Tôi có chút không phản ứng kịp với cái kiểu cười đầy ý nhị của ông chủ Peter này.

...

Một tháng sau, cuối cùng tôi cũng hiểu được cái điệu cười của Peter ngày ấy là vì lý do gì. Tôi cũng không biết mình có nên thể hiện chút niềm vui này ra không.

Phải, tôi thích cafe, nhất là các loại cafe pha chế vừa mang chút hương quyện của sữa vừa đậm đà chút vị đắng thanh thanh ở đầu lưỡi. Chính vì sở thích này mà tôi có mong muốn trở thành một barista.

Barista - nhân viên pha chế cafe. Muốn trở thành một barista điều đầu tiên nhất là phải học được cách pha cafe thông thường nhất, sau khi học được những thứ cơ bản thì mới dần học cách pha cafe nghệ thuật. Pha cafe nghệ thuật cũng là nội dung được đào tạo của một thợ pha cà phê và sữa các khâu khác như việc lường, đếm trong việc xay các hạt cà phê, liều lượng, nén, và các công việc chuẩn bị thường xuyên khác... trước khi phục vụ cho thực khách một tách cà phê chất lượng.

Và người thanh niên ấy đã đến như một phép màu, đôi tay của anh ta linh hoạt và đầy điêu luyện khi sử dụng các kỹ thuật như xay, nén cà phê, đánh sữa, tạo hình chính xác đến từng mm để cho ra các thức uống đảm bảo yêu cầu cả về chất lượng và hình thức. Để trở thành một barista chuyên nghiệp, ngoài việc phải nắm vững cách sử dụng máy pha, thuộc lòng các công thức pha chế thì còn cần sự cẩn thận và đôi bàn tay khéo léo. Chẳng hạn như khi đánh bọt sữa cho cappucino thì bông hơn, bọt sữa của latte thì mịn hơn để dễ tạo hình. Công đoạn đấy rất cần sự tập trung và tỉ mỉ. Hay khi pha một cốc espresso, tắt máy sớm hay muộn cũng sẽ ảnh hưởng đến hương vị của sản phẩm, với những cốc Latte Art có lớp bọt với lớp cà phê tạo thành hình trái tim, hình cái lá… Để làm được một cốc cà phê, các barista vừa phải nhanh tay, nhanh mắt, vừa phải bình tĩnh.

Tôi đã học pha chế ở đây hơn nữa năm, ngoài tách cafe đầu tiên được uống từ tay Peter pha chế lúc hướng dẫn tôi ra thì đến bây giờ tôi cũng chưa từng thưởng thức một tách cafe nào ngon như thế nữa.

Cho đến khi một tách espresso được đặt trước mặt tôi, hương vị cafe dâng lên lưu luyến ở đầu mũi, cái vị thanh thanh ngọt đắng ấy khiến cho người khác chỉ muốn nâng tay mà uống cạn bằng hết.

Cho dù vậy, tôi vẫn tỏ ra nghi hoặc mà nhìn người thanh niên kia, à không, nên gọi là Nhật Bách mới phải. Sau một tháng làm việc chung thì ngoài đánh giá tay nghề của anh ta ra tôi cũng nhớ được tên người thành niên này. Dùng một tháng để nhớ tên một người thật khó, ít nhất là khó với tôi, vì hầu như đối với những thứ không quan trọng thì tôi rất hay quên.

"Em nếm thử xem." Anh ta cất giọng có chút đều đều, vẫn thoang thoảng cái âm trầm khàn nhưng đã thoải mái hơn một chút so với lần gặp đầu tiên.

Nhìn anh ta một cái, cuối cùng tôi cũng không kìm được mà khẽ nhấp một ngụm tách espresso trước mặt. Quả như tôi dự đoán, hương vị còn tuyệt vời cơn cả tách espresso mà Peter từng pha cho tôi uống, vị đắng tự nhiên từ đầu lưỡi chảy dọc đến cuốn họng, dừng một chút sẽ liền cảm nhận vị ngọt thanh còn quanh quẩn trong khoang miệng.

Thật tuyệt!

"Thế nào?"

Giọng trầm thấp đột nhiên cạnh bên tai khiến tôi có chút giật mình.

"Thật tuyệt." Tôi khẽ nói.

Anh ta lại hỏi tiếp: "Tuyệt thế nào?"

Dừng một chút, tôi lại khẽ nhấp một ngụm cafe nữa, liền thẳng thắn nói lên cảm nhận của mình.

"Có chút ngọt quẩn quanh ở đầu lưỡi, vị đắng thanh thanh còn lưu lại nơi cuốn họng, một chút chát... và một chút..." Nói đến đây, tôi lại bỗng không thể nói lên cảm nhận của mình tiếp nữa. Lại nhấp một ngụm, tôi vẫn không thể hình dung ra loại cảm giác còn đọng lại dư âm này.

"Một chút gì?" Anh ta lại hỏi, lần này giọng đã có chút nhẹ nhàng hơn.

Tôi thoáng trầm tư, rồi khẽ lắc đầu, tay chợt đặt lên môi mình một chút, vị ấm ấm vẫn chưa tan hết. "Rốt cuộc là vị gì nhỉ?"
Bất giác tôi đã hỏi ra nghi vấn trong lòng mình.

Nhật Bạch nhìn tôi, khẽ cười. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy nụ cười của anh ta sau gần một tháng cùng làm việc. Tôi nhận thấy khuôn mặt của anh ta nếu cười lên sẽ đẹp hơn rất nhiều so với khuôn mặt thâm trầm thường ngày.

Một lúc sau, lâu đến nỗi khi tôi sắp uống cạn tách espresso trước mặt thì anh ta mới nói một câu rồi xoay người rời đi.

"... vị cuối cùng của tách espresso vừa rồi, gọi là FK!"

Tôi thoáng bần thần.

FK!?

PHẦN HAI: DIYU

Hạ Thư!

Lần đầu tiên tôi nghe đến cái tên này, là một chiều nắng hạ.

Ngày hạ vừa chớm ở một thị trấn nhỏ tại thành phố Bangor - một trong những thành phố nhỏ nhất ở Vương quốc Anh. Tôi đến sống cùng ông nội ở đây khoảng ba năm, ngoài việc ôn lại các kiến thức lịch sử, kiến trúc cổ, đến những ngôi nhà thờ cổ kính thì tôi còn học từ ông cách pha chế cafe. Ông tôi từng là một barista trên một du thuyền Anh - Pháp vào giữa thế kỉ XIX, sau đợt cải cách chính trị, ông không trở về quê nhà mà tìm đến thị trấn này sinh sống. Sau đó nữa, ông gặp được tình yêu của mình.

Hôm ấy vừa lúc Bangor đón những ánh nắng hạ gay gắt còn xen lẫn chút nắng ấm của mùa xuân vừa qua, trên con đường mòn hướng đến nhà thờ ở trung tâm thị trấn, tôi gặp được một cô gái với mái tóc đen tuyền, ánh mắt trong trẻo và lạnh nhạt đứng giữa dòng người ngoại quốc, trông cô vừa nổi bật vừa thoảng chút lạ lẫm.

Cô gái vận một chiếc váy trắng dài đến mắc cá chân, đôi giày thể theo ngắn gót, và chiếc balo to đùng trên cái lưng gầy gò, trông cô như một thiên sứ đang lẫn chốn nhân gian. Giống như những du khách khác, cô nhìn dọc các quầy hàng trên đường, đôi lúc sẽ ghé lại cửa hàng bán tranh lưu niệm. Tôi chợt phát hiện cô gái ấy đứng ngắm một bức tranh khá lâu, lại gần một chút, tôi nhận ra đó là một bức tranh vẽ lại khung cảnh nhà thờ Cathedral trong sương sớm. Bức tranh dường như được pha trộn với những thứ màu sinh động, có chút đặc biệt khó hiểu và có gì đó không thực.

Trong khi tôi nghĩ cô gái ấy sẽ mua bức tranh, hoặc ít nhất là hỏi về giá của nó, cô ấy lại trực tiếp đến hỏi ông chủ về tác giả của bức tranh và khi nhận được lời đáp, cô ấy liền nhanh chóng rời đi.

Tôi kịp nhận ra phương hướng cô gái ấy rời đi, là con đường nhỏ dẫn đến bờ biển Bangor.

Tôi trông thấy cô ấy đến ngôi nhà gỗ cạnh gò đất cách bờ biển không xa. Tôi biết ngôi nhà gỗ ấy, đấy là ngôi nhà của ông họa sĩ già Afred mà ông nội thường nhắc đến, theo lời đồn, ông ấy là một người khá cô độc và bình dị, tranh của ông ấy đã không còn hợp với thời đại nên con đường sự nghiệp dường như rất trắc trở.

Không lâu sau, cô gái ấy liền bước ra, tôi kịp thời nhận ra trong đôi mắt cô còn đọng lại chút u buồn không hợp tuổi, chiếc balo trên vai lúc này khiến người khác nhìn vào càng trở nên nặng nề. Cô gái dường như cũng cảm nhận được, cô khẽ buông chiếc balo ra, đặt khẽ bên thềm nhà gỗ, dừng lại một lúc như do dự, cô gái khẽ cởi đôi giày trắng trên chân, rồi bước nhẹ về phía bờ biển.

Nắng hạ vừa khẽ buông, tia sáng nhạt dần xen lẫn với vài tia đỏ rực cuối chân trời, hoàng hôn sắp buông xuống, vài cơn thuỷ triều còn đọng lại dư âm mà đánh về phía bờ cạn. Bước chân cô gái cứ bước đều hướng ra đại dương xanh thẫm, sóng táp vào đôi chân trắng ngà của cô, rồi dần ngập nước, từ mắc cá đến bắp chân, dần đến đầu gối. Bước chân cô gái vẫn không dừng lại, thân thể nương theo nhịp vỗ lúc lên lúc xuống. Tim tôi thắt lại, khi bước chân chực chạy ra ngăn cản thì cô gái khẽ quay đầu lại, chiếc váy trắng theo nhịp cơ thể khẽ tung bay, ngay khoảnh khắc cô gái quay đầu kia, tim tôi lỡ nhịp...

...

Sau hôm đó tôi không còn nhìn thấy cô gái ấy nữa, có lẽ cô đã rời khỏi Bangor hoặc là cô đã đến một nơi mà tôi không tìm được. Tôi có ghé đến vài lần tại ngôi nhà gỗ của Afred, nhưng dường như cả ông họa sĩ già ấy cũng biến mất.

Vậy là trong một ngày nắng hạ, trái tim tôi đã bị đánh cắp bởi một cô gái xa lạ, chẳng biết tên.

Một năm sau, ông mất. Tôi theo nguyện đưa di cốt ông trở về quê cũ. Ngày cuối cùng khi chuẩn bị trở lại London, tôi kịp ghé ngang quán cafe First Night của một người bạn quen thân mới mẹ.

Ngay khoảnh khắc khi bước chân vào quán, bóng dáng tôi nhung nhớ bao ngày lại hiển hiện ngay trước mắt, ánh mắt ấy, khuôn mặt ấy dường như chẳng hề thay đổi. Và dường như cô ấy chẳng nhận ra tôi, cũng đúng thôi, nếu như tôi không gặp gỡ và dõi theo cô ấy vào ngày ấy, hẳn cả hai chúng tôi đều chỉ là những người qua đường của nhau.

Sau này, tôi biết cô gái ấy có cái tên rất đẹp... Hạ Thư!

Sau này, tôi biết cô gái ấy thích nhất là cafe...

Cafe... tôi sẽ dùng chính hương vị mà cô ấy thích nhất, để cô cảm nhận được hương vị khác biệt. Hương vị tình yêu!

...

"Hạ Thư! Em đã từng đến nơi nào ở Vương quốc Anh chưa?" Tôi gọi khẽ cô gái đang ngồi ngẩn người phía đối diện. Ánh mắt cô ấy lúc nào cũng chất chứa chút u buồn tĩnh lặng.

"Đã từng." Cô khẽ đáp lại, giọng rất khẽ, tiếng nói nhẹ nhàng như muốn khắc sâu vào tâm khảm người đối diện.

"Vậy em thích nơi nào ở đấy nhất?" Tôi chăm chú nhìn nét mặt cô gái trước mặt.

Cô ấy bỗng liếc nhìn tôi một chút, rồi khẽ quay đầu về hướng cửa sổ. Hồi lâu sau, lâu đến nỗi tôi tưởng chừng như cô sẽ mãi im lặng như thế. Cuối cùng cô ấy cũng khẽ nói, lần này giọng càng khẽ khàng hơn trước: "Hẳn là Bangor đi." - Dừng lại một chút, cô lại khẽ bổ sung: "Là một thành phố thuộc xứ Wales."

Tôi khẽ cười, cũng theo cô ấy hạ giọng: "Anh biết, anh đã từng đến đấy! Đó là một thành phố diệu kì."

Lần này thì cô ấy cũng đối mặt với ánh nhìn của tôi, khóe môi khẽ hở, dường như định nói gì đó, nhưng cuối cùng lại thôi. Trầm mặc một chút, cô ấy mới gật nhẹ đầu: "Đúng vậy, rất diệu kì."

Tôi biết trong lòng cô còn nhiều bí mật, tôi cũng không gặng hỏi, chỉ muốn cùng cô trải qua chút khoảnh khắc yên bình hiếm hoi.

"FK là hương vị gì thế?"

Tôi nghe cô nhẹ giọng hỏi, tôi đoán là cô đã cân nhắc rất lâu để hỏi vấn đề này. Nghĩ đến đây tôi lại không dừng được, khẽ cười. Thật là một cô gái đáng yêu, ngay lúc này, tôi thật sự muốn nói rõ tình cảm của bản thân mình, nhưng dường như hiện tại không phải thời điểm thích hợp.

"Chưa đến lúc, anh không thể nói cho em biết. Nhưng hiện tại anh muốn em nếm thử một hương vị cafe mới." Nói rồi tôi đi đến quầy pha chế bên cạnh, cẩn thận điều lượng hạt cafe, tỉ mỉ canh đúng lượng hạt và thời gian xay nhỏ, mực nước chỉnh vừa đủ. Lớp bọt sữa được đánh mịn vừa đủ, tay tôi cố gắng xoay đều, tách cafe trở nên đẹp nhất từ trước đến nay, tựa như tôi đang cẩn thận miêu tả lên tình yêu của bản thân mình. Một cách trân trọng và nâng niu.

"Là Latte Art!?"

"Đúng vậy! Em nếm thử xem." Tôi khẽ đặt tách Latte Art đến trước mặt cô ấy, thoáng nhìn tạo hình trái tim trên mặt tách sứ, tôi chờ mong nhìn cô ấy nhấp khẽ một ngụm. Tôi cảm thấy bản thân hiện tại như một nam sinh đang chờ đợi khoảnh khắc tỏ tình đẹp nhất.

"Thế nào?"

Tôi nhìn thấy cô ấy khẽ nhắm đôi mắt lại, đôi mi cong vút run run, dường như cô ấy đang dần cảm nhận từng chút một hương vị cafe... tim tôi lại bắt đầu lỡ nhịp.

"Lớp bọt sữa đánh rất vừa vặn, không có cảm giác quá ngọt như latte bình thường, vị đắng không đậm cũng không nhạt, thoảng qua còn đọng dư âm ở đầu lưỡi. Có một chút cảm giác như đang phiêu dạt trên biển, bồng bềnh và... ưm, có chút cảm giác rất kì lạ..." Hạ Thư lại khẽ nhấp một nhịp, giống như lần trước, cô không thể nói ra dư vị cuối cùng còn đọng lại. Cô khẽ chau mày suy tư, chút thắc mắc và tò mò.

Tôi nhìn cô một chút, lần này đợi cô thưởng thức cạn tách cafe xong tôi mới cất tiếng hỏi: "Em cảm giác thế nào?"

"Em không biết phải diễn tả thế nào, dư vị ấy, dường như khiến người khác vừa có chút ngọt ngào, vừa xen lẫn..." Cô ấy nhìn tôi, chăm chú, rồi đột nhiên giọng trầm xuống, khẽ nói: "Giống hương vị của biển Bangor... rốt cuộc là hương vị gì?"

"Đúng vậy, xen lẫn với hương vị của biển Bangor... hương vị cuối cùng của Latte Art này, gọi là Diyu!"

PHẦN BA: DOVE

"Sau đó thì sao ạ? Rốt cuộc bà có hiểu được những hương vị cafe đó không?"

"Đợi đến khi bà hiểu được, thì người ấy đã rời đi..."

Tôi nhìn nét u buồn trên khuôn mặt của bà lão trước mặt, rõ ràng bà chỉ mới bước qua tuổi năm mươi, nhưng khuôn mặt kia lại luôn bao phủ nhiều nỗi trầm tư không bao giờ vơi hết.

Bà ấy là bà của tôi, nhưng không hề có chút quan hệ huyết thống nào. Là bà từ trong đám trẻ ở cô nhi viện chọn ra tôi, vì như bà nói, bà thích đôi mắt của tôi, nó khiến bà nhớ đến một vị cố nhân từng quen biết.

Có đôi lần tôi gặng hỏi người ấy là ai, nhưng bà chỉ dùng sự im lặng để đáp lời. Tôi nghĩ hẳn đó là một quá khứ khiến bà đau khổ, nên ngần ấy năm nay, từ khi cùng bà đặt chân vào quán cafe First Night này và đến khi thay bà tiếp quản nó, tôi vẫn không hề biết chút gì về vị cố nhân kia.

Cho đến hôm nay, trước một ngày khi bà chuẩn bị lên máy bay đến Bangor, bà mới chậm rãi kể cho tôi nghe về "người ấy".

...

"Còn một hương vị nữa đúng không ạ? Vì bà từng nói "người ấy" đã mang đến cho bà ba hương vị cafe tuyệt nhất trong đời."

***

Hạ Thư đặt tách cafe xuống mặt bàn, đôi tay lơ đễnh khiến nước cafe sóng sánh ra ngoài một ít, giật mình, cô vội vàng xin lỗi vị khách trước mặt rồi nhanh chóng bê một tách cafe khác lên.

Trở lại quầy, vừa đúng lúc bắt gặp ánh mắt chăm chú của Nhật Bách, cô khẽ dời mắt đi, nhanh chóng xem yêu cầu của khách trên giấy dán rồi tiếp tục việc pha chế của mình.

"Hạ Thư, hôm nay cậu sao thế? Cứ mãi thất thần. Đến cả công việc bê nước của tớ mà cậu cũng quên mất."

Hạ Thư nhìn cô bạn đang nói bên cạnh, khẽ lắc đầu nói không sao rồi lại tiếp tục công việc trên tay. Cô bạn thấy vậy cũng không hỏi nữa, khẽ lầm bầm một chút rồi cũng đi làm việc của mình.

Hạ Thư nhìn tách cafe vừa được pha chế xong, bần thần nhớ đến cuộc nói chuyện vô tình nghe được giữa Nhật Bách và Peter vào đêm qua. Lúc ấy vì là người cuối cùng rời khỏi quán nên cô tiện tay thu dọn chút dụng cụ trên quầy, định đi vào nói với ông chủ Peter một tiếng rồi ra về, ai ngờ lại nghe thấy giọng nói của Nhật Bách phát ra từ sau cánh cửa dẫn đến nhà chính.

"Cha mẹ cháu cả tháng nay liên tục thúc giục cháu trở lại London, chú mặc dù muốn giữ cháu lại nhưng mà..."

"Cháu không định về Anh Quốc sớm như vậy..." Giọng Nhật Bách rất khẽ khàng, dường như đang cân nhắc điều gì đó.

"Cháu cũng đã hoàn thành di nguyện của ông nội rồi, còn có lý do gì để ở lại nào? Thật ra cha mẹ cháu cũng là thương nhớ cháu quá thôi, dù gì thì cháu cũng đã sống với ông nội mấy năm ở Bangor..."

"..."

Sau đó họ nói gì, Hạ Thư không còn nghe thấy nữa, trong lòng cô lúc này chỉ quanh quẩn những vấn đề vừa nghe thấy.

Trở lại Anh Quốc... anh ấy sẽ rời đi sao? Còn nữa, Bangor!? Thì ra anh ấy từng sống ở đấy... vậy có khi nào... Hạ Thư vội bỏ những suy nghĩ hoang đường kia lại, làm sao có thể kia chứ.

...

"Hạ Thư!"

Tiếng Nhật Bách vang lên bên tai khiến cô giật nãy mình, suýt làm đổ tách cafe cầm trên tay. May mắn Nhật Bách nhanh nhẹn đưa tay giữ lấy, trong một thoáng khi chạm đến tay cô, anh dừng lại một chút rồi thả lỏng, khẽ cười nói: "Hôm nay em thất thần tất thảy bốn lần, rốt cuộc là đang gặp vấn đề gì vậy?" - Dừng một chút, anh lại bổ sung: "Đừng bảo không có gì với anh. Hiện tại trên khuôn mặt em đang hiện lên trạng thái "tôi đang có sao" đấy!"

Đối với lời vui đùa của anh, Hạ Thư cũng gắng nhếch môi cười nhạt rồi khẽ đáp: "Thật sự không sao, em chỉ đang lo một chút về đợt thi cuối kì sắp tới thôi."

Nhật Bách nhìn cô, không hỏi nữa, thu lại chút tươi cười, anh nói: "Nếu không vui thì đừng cố cười."

Hạ Thư ngẩn ra, rồi chợt thu lại nụ cười gượng trên mặt, ánh mắt liếc về phía xa xăm, lồng ngực cô lúc này vang âm ỉ, vừa như rung động, vừa như đơn côi. Anh luôn biết cách quan tâm đến cô như vậy đấy, và rồi anh cũng sẽ ra đi...

"Hạ Thư này, anh có chuyện muốn nói với em, ra về đợi anh nhé!" Anh bỏ lại một câu rồi nhanh chóng rời đi.

...

"Đây sẽ là hương vị cuối cùng anh muốn dành tặng em, nếm thử xem."

Lúc này trong quán không một bóng người, ánh đèn trần hắt lên khung cửa bên cạnh, chiếu vào tách cafe có chút mờ ảo, Hạ Thư nhìn tách cafe vừa giống như Mocha lại vừa giống như Cappuccio trước mặt, tâm trạng ngổn ngang dần lắng xuống, cô khẽ nâng tách, hương vị cafe như có như không còn vương lại nơi chớp mũi, nhấp một ngụm, rồi dần cảm nhận hương vị của nó.

"Có hương vị của espresso, chút quyện của sữa nóng, sữa sủi bọt và chút vị của bột cacao... có chút thanh thanh của chocolate sauce... chút béo ngọt của kem tươi... và một chút..."

Tựa như hai lần trước, Hạ Thư lại chẳng thể nói lên hương vị gì còn đọng lại ở khóe môi. Cô khẽ hỏi: "Vừa mang chút hương vị của cappuccio lại vừa có dư vị dây dưa của mocha... Đây rốt cục là cafe gì thế?"

"Em cứ thưởng thức thêm chút đi, nói chút cảm nhận của riêng mình, rồi anh sẽ nói cho em biết." Nhật Bách chăm chú nhìn vào mắt cô, khuôn mặt anh lúc này nghiêm túc đến lạ, ngay cả nét dịu dàng trên mặt cũng vơi đi ít nhiều, thay vào đó là vẻ trầm tư, ánh mắt kia, thoảng có chút buồn...

Hạ Thư nhìn anh, lòng lại chợt xao động. Chẳng lẽ anh định nói...

"Hương vị của cappuccio thoảng qua, khiến lòng người dịu ngọt như cảm giác tình yêu vừa chớm nở. Lớp mocha đọng lại phía sau lại mang cảm giác vừa như không thể thưởng thức nó một cách trọn vẹn, cảm giác như đang chờ đợi, có chút hụt hẫng và gian nan, giống như cảm giác của sự từ chối hương vị..." Hạ Thư nhắm mắt lại, lòng buông thả theo hương vị cafe, nói từng chút một cảm nhận của riêng mình.

Nhật Bách ngắm nhìn cô, anh thích nhất một Hạ Thư như thế này, khi cô thưởng thức cafe, anh cảm tưởng như cô đang đứng trước người yêu của mình, khuôn mặt lạnh lùng thường ngày dường như được thả lòng. Trông cô lúc này và khoảnh khắc ngày ấy khi cô quay đầu, có gì đó giống lại không giống, nhưng lại khiến lòng anh xao xuyến đến lạ.

"Nhật Bách, anh sẽ đi sao?"

Đấy là lần đầu tiên cô gọi tên anh, tiếng nói thật khẽ và xa xăm khiến người ta có gì đó nhói đau.

Nhật Bách nhìn cô, không trả lời. Đây là lần đầu tiên anh không đáp lại lời cô ngay. Trầm mặc một lúc lâu, khi cô tưởng như anh sẽ im lặng mãi, anh bỗng cất tiếng, giọng đã khàn đi:

"Tách cafe này gọi là Dove. Hạ Thư, em thích hương vị của cappuccio hay là mocha?"

Dove... Hạ Thư thoáng thất thần, Dove sao?

Cô từng đọc qua một quyển sách, kể về câu chuyện của một đôi yêu nhau nhưng họ không hề biết tình cảm của đối phương, và người con trai kia đã để lại một dòng chữ cho cô gái trước khi từ bỏ mối tình ấy. Là Dove!

Dove...

Do you love me...

Em có yêu anh không?

Hạ Thư nhìn chăm chú vào ánh mắt của anh, trái tim theo ánh nhìn dường như không kịp khống chế mà loạn nhịp. Cô bỗng nhớ đến lời Peter từng nói, Nhật Bách không thuộc về nơi này. Gia đình, sự nghiệp và ước mơ của chàng trai này là ở một nơi khác, mà nơi đấy, chắc chắn không cùng bầu trời với.

Từ khởi đầu này, cô chợt nhớ đến những hương vị lần trước. Dường như cô đã hiểu ra tất cả.

Anh vẫn nhìn cô, ánh mắt như đêm đen như đang xoáy vào linh hồn cô, thấu cảm hết mọi suy nghĩ lẫn con người cô, anh lại hỏi: "Hạ Thư, em thích hương vị của cappuccio hay là... mocha?"

Cappuccio... sự khởi đầu cho một tình yêu nồng nhiệt. Mocha... lại như một sự chối từ hương vị đối với người không thể thưởng thức nó...

Là Cappuccio... hay là mocha?

...

"Bà đã từ chối ông ấy sao? Bằng cách chọn hương vị của mocha?"

"Không. Bà đã chọn cappuccio..."

***

Buổi sớm đầu hạ hôm ấy, tôi tiễn bà đến sân bay. Mỗi năm vào khoảng thời gian này bà đều đi đến Bangor một thời gian ngắn, bà nói nơi ấy còn lưu dấu nhiều kỉ niệm, đối với bà, hay cả với người ấy.

Tôi đã hỏi bà, có phải bà luôn đi tìm kiếm người ấy hay không?

Bà chỉ im lặng, ánh mắt dần xa xăm.

Tôi gần như đã biết đáp án cho câu hỏi của mình.

...

Vài ngày sau, First Night đón chào một vị khách, là một người đàn ông khá lớn tuổi, trên tay luôn ôm một bức tranh được bọc gọn gàng trong bao giấy lót. Tôi nhận người đàn ông này, mỗi năm vào khoảng thời gian này tôi đều thấy ông ấy đến đây, ngồi ở ví trí sát cửa sổ mà bà tôi vẫn hay ngồi ngẩn người. Mỗi năm một lần, không hơn không kém.

Nhìn chăm chú bức tranh trên bàn, đó là bức tranh vẽ một cô gáy mặc váy trắng dài đang tung bay trong gió, một phần người của cô đã bị che lấp bởi nước biển trong veo, đôi mắt cô gái mang đậm nét buồn, mái tóc dài buông xõa uốn lượn theo từng cơn gió nhẹ phất qua, trông cô như một thiên sứ lạc vào chốn nhân gian, người họa sĩ đã khắc họa bức tranh bằng một khung màu sáng tối rất hiệu quả, ngay cả tôi không am hiểu về nghệ thuật cũng cảm giác được sự điêu luyện từ người họa sĩ vẽ nên bức tranh này.

"Ông lại đến rồi à." Tôi đến bắt chuyện với ông ấy, tôi không biết ông ấy có nhớ tôi không, nhưng tôi đoán hẳn là có đi.

"Chào cô chủ nhỏ." Người đàn ông cười đôn hậu đáp lời. Và tôi vẫn cảm thấy may mắn vì ông ấy còn nhận ra tôi, không thì thật xấu hổ nhỉ.

"Lần này ông vẫn gọi trước một tách espresso chứ nhỉ?" Mỗi lần ông ấy đến đây đều ngồi lại cả ngày, gọi đúng ba tách cafe, và thứ tự luôn lần lượt là espresso, latte art và mocha... Khoan đã. Dường như có điều gì đó lóe lên trong đầu tôi.

Không kịp đợi người đàn ông trả lời, tôi vội nói: "Xin lỗi, nhưng có thể cho tôi biết bức tranh kia ông đã từ đâu mà có được?"

Người đàn ông trầm mặc, suy nghĩ một lúc rồi ông nói: "Bangor. Tôi đã mua lại bức tranh từ một lão họa sĩ ở Bangor nhiều năm trước."

Tôi như hiểu ra được điều gì đó.

"Người con gái trong bức tranh kia có là gì của ông không?"

Người đàn ông lại trầm mặc, bỗng trên mặt ông thoáng qua nét buồn: "Có. Cô gái ấy là linh hồn của tôi."

"Vậy ông có muốn biết người con gái ấy ở đâu không?"

"Cô biết cô ấy ở đâu?" Người đàn ông trở nên kích động, sự bình tĩnh từ đầu đến cuối dường như chẳng còn thấy.

"Hương vị của espresso là gì thế ạ?" Tôi không trả lời câu hỏi của ông, chỉ nói ra nghi vấn trong lòng mình.

Người đàn ông chợt nhắm chặt mắt, dường như đang cố kèm nén điều gì đó.
"Là FK, chính là từ viết tắt của First Kiss, hương vị của nụ hôn đầu. Hương vị của lần đầu tiên." Không đợi tôi hỏi tiếp, người đàn ông lại tiếp lời: "Hương vị còn đọng lại của Latte Art, gọi là Diyu, mang hương vị của biển Bangor, là từ viết tắt của tiếng Wales: Dw i'n dy garu. Nghĩa là... anh yêu em."

Tôi chợt thấy nghẹn lời. Những oán trách trước đó của tôi về sự ra đi của người đàn ông này đột nhiên tan biến, cuối cùng chỉ còn lại thổn thức và tiếc nuối.

...

"Ông chắc là sẽ đi ngay bây giờ chứ? Đến Bangor?"

"Tất nhiên rồi."

"Vậy... chúc ông may mắn nhé!"

"Cảm ơn cô vì tất cả, cô chủ nhỏ."

"Cháu thật sự muốn thưởng thức qua những tách cafe kia của ông."

"Rồi một ngày sẽ có người mang đến cho cô những hương vị mà cô mong muốn. Những hương vị ngày ấy tôi chỉ có thể làm ra vì một người, gửi đến một người duy nhất. Và tôi đang chờ đợi người ấy mang đến cho tôi một hương vị."

"Là hương vị của cappuccio sao?"

"Không. Tôi đã nhận được hương vị đấy từ nhiều năm trước rồi."

"Vậy ông muốn nhận từ bà tôi hương vị gì?"

"Hương vị tình yêu!"

♧ THE END ♧


Dear me, nắng hạ, 11/5/2018
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
Xuân Sum Họp - Tết Yên Vui
Tác giả: Lạc Mỹ Xuyên Thu
Thể loại: Truyện ngắn
***



Trong đêm khuya tĩnh lặng, tiếng ếch nhái kêu ngoài đồng ruộng lẫn với âm thanh của gió thi thoảng lại lướt qua. Cái lạnh của tháng mười hai cũng không đến mức thấu xương nhưng lại dễ khiến nhiều người không chịu được.

Tôi ngẩng đầu nhìn bầu trời đen thẳm không có một tia sáng nào, mây đen kéo đến che lấp cả bầu trời, tôi đoán ngày mai lại là một ngày thiếu màu nắng. Khí hậu ở miền Nam không hề giống với khí hậu ở Bắc và Trung, ngoại trừ vài ngày đầu có mưa thì những ngày sau đó lại như mùa thu và hạ lẫn lộn, ban ngày thì nắng nóng oi bức, ban đêm thì ẩm thấp, đôi khi lại có vài đợt gió lạnh thoảng qua làm người ta rét run. Vốn là người không thích lạnh, tôi kéo chặt chiếc áo vải mỏng manh bước vào căn nhà lá của mình.

Trong thời chiến tranh liên miên không điểm dừng này, cách vài ngày lại nghe thấy âm thanh bom đạn nổ vang, mỗi khi như thế, trong cái làng bé tí nơi đây lại bắt đầu xôn xao. Phần người thì lo sợ người thân tham gia kháng chiến gặp chuyện bất trắc, phần thì lo sợ bọn xâm lược trong ngoài lại tràn đến đây cướp bóc giết người.

Đêm nay có vẻ khá yên bình, hiếm khi có một ngày tận hưởng sự thanh tĩnh này, có lẽ gần đến tết rồi nên ông trời cũng vui vẻ mà cho nhân loại một giây phút bình yên.

Căn nhà lá gần như tàn tạ phát ra vài tia sáng từ ngọn đèn dầu trên bàn gỗ. Điều kiện thiếu thốn, ngay cả đèn cầy cũng rất hiếm khi xài vì không ai có tiền để mua, mọi người nơi đây dùng gạo đổi thức ăn, đôi khi đến là áo quần, vải vóc cũng phải lấy gạo đổi lấy từ bọn lính canh đầu làng. Tia sáng nhỏ yếu ớt như bất cứ lúc nào cũng có thể vụt tắt, tôi nhìn thấy bà nội ngồi trên võng, tay thoăn thoắt đan từng đường kim mũi chỉ, mảnh vải màu bạc mà khi sáng nội dùng mớ rau muống hái sau nhà để đổi lấy giờ đã nhìn thấy hình dáng, một chiếc áo đơn sơ, tuy vải không đủ phải chắp vá vài mảnh vải khác vào, nhưng tôi lại thấy nó đẹp hơn bao giờ hết.

Bàn tay gầy gò hiện rõ những vết đồi mồi xen lẫn nếp nhăn, gương mặt nội đã nhuốm màu sương gió, mái tóc bạc trắng càng làm nội tôi có phần già đi rất nhiều. Tôi nhẹ bước đến ngồi bên chân nội, nền nhà đất lạnh, tôi lót đôi dép kẹp dưới nền đất rồi ngồi xuống gác cằm lên gối nội, nhìn bà chăm chú may vá. Vừa lúc chỉ đang may ngắn lại không đủ dùng, nội nheo đôi mắt xỏ chỉ vào lỗ kim nhỏ, nhưng không biết có phải vì đêm tối rồi hay là mắt nội vốn bị mờ mà mãi một lúc cũng không xỏ chỉ vào được. Tôi vội giúp bà xỏ chỉ rồi đưa cho bà. Nhìn từng đường kim mũi chỉ lên xuống đều đặn, tôi bỗng cảm thấy sống mũi cay cay, tôi nhớ đến ba, người đàn ông đã hi sinh vì tổ quốc, tro cốt đã sớm đông lạnh vào tám năm trước, vào cái đêm giao thừa vốn cũng là sinh nhật năm tôi ba tuổi.

Nhìn bóng hình gầy gò đến mức có thể nhìn thấy những đường gân xanh nổi trên tay chân của nội, tôi lại nghĩ, phải chăng đã có lúc ba tôi cũng từng như tôi bây giờ, ngồi cạnh nội may áo tết cho mình. Ngửa mặt lên trời tôi cố ngăn dòng nước mắt đang chực trào ra. Bất ngờ, tôi nhìn thấy mẹ đang đứng ở cửa buồng, chiếc màn được vén phân nửa chỉ để lộ ra khuôn mặt đượm một nỗi buồn sâu lắng, ánh mắt của mẹ nhìn nội tôi có cái gì đó xa vời lắm. Như nhận ra sự phát hiện của tôi, mẹ tôi nhanh chóng nhíu đôi mày, bước ra khỏi cửa rèm, cũng không quên nhìn tôi gằn tiếng:

"Giờ này mà hai bà cháu còn chưa ngủ, đêm khuya lạnh lỡ bị cảm lạnh rồi sao. Con Thu vào nhà đi ngủ nhanh lên, sáng sớm còn phải xếp bánh đấy."

Thấy mẹ tôi bước ra, khuôn mặt đau thương đã biến mất hoàn toàn mà thay vào đó là vẻ cau có thường ngày, lòng tôi chùng xuống, khẽ "dạ" một tiếng rồi lủi thủi vào buồng trong. Vừa bước vào sau tấm màn tôi lại nghe thấy mẹ và bà nội nói chuyện với nhau, nhưng vì cách một bức màn nên tôi chỉ loáng thoáng nghe được vài câu đứt đoạn...

"Má! Mắt má đã mờ lắm rồi, đêm khuya lạnh... mấy chuyện may vá này để con làm được rồi..."

"Không cần, má muốn tự may cho thằng út cái áo mới... đã tám năm rồi..."

"Má ơi! Biết đâu chú ấy... như chồng của con..."

"Đừng nói bậy... nó sẽ không..."

"..."

***

Đến thẳng khi tôi chui vào trong buồng nằm vẫn còn loáng thoáng nghe thấy âm thanh có phần lớn tiếng của mẹ và bà nội. Tuy nhiên, tôi lại chẳng nghe hiểu họ đang cãi nhau về chuyện gì, mãi đến khi tôi không kìm được mà chìm vào giấc ngủ.

Có lẽ hôm nay không phải là một ngày yên bình như tôi nghĩ.

Sáng hôm sau, như dự đoán của tôi, bầu trời một màu xám xịt chẳng có lấy một tia nắng. Tôi khuấy nhẹ nồi cháo trắng chuẩn bị cho bữa ăn sáng, bây giờ cũng đã hơn 9h, ở quê thường ăn rất trễ và chỉ có ba buổi chính, không hề có khái niệm ăn khuya. Lấy bớt củi trong lò xong, tôi bước ra sân định gọi bà và mẹ vào ăn sáng.

Sân nhà tôi không rộng lắm, diện tích chỉ chiếm một phần nhỏ khoảng bốn mét, xung quanh được che chắn bởi hàng rào làm bằng tre nứa, góc bên phải trồng vài luống rau, bên trái là khoảng sân trống bình thường sẽ thả nuôi vài con gà mái cũng khá có thịt, nhưng hôm nay mẹ tôi đã dọn sạch sẽ hết bắt đầu xếp lá gói bánh. Trước sân hiện giờ rất náo nhiệt, các cô thím trong làng tụ họp nói chuyện rôm rả, người tuốt dây, người lau lá, người thì xếp lá chuối chuẩn bị gói bánh, người thì trộn nếp với dừa,... . Cảnh tượng này lại làm cho tôi cảm thấy, dường như nơi đây chẳng hề có chiến tranh, chẳng hề có khói đạn, dường như cha tôi vẫn sống, ông ấy chỉ đi ruộng cuốc mướn chiều tối sẽ về, dường như cậu út chưa hề tham gia kháng chiến, chưa biệt tăm suốt tám năm trời.

Hôm nay đã là ngày 29 tết, vì thiếu ngày nên đêm nay chính là giao thừa, mẹ tôi cùng mọi người trong làng dự định sẽ gói bánh để đêm nay đón tết, cũng chẳng tốn kém, vụ mùa đợt này trúng lớn, mọi người góp nếp góp thịt rồi cùng nhau quây quần bên nhau cùng gói bánh. Dù trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh liên miên, tiếng bom đạn khói súng ngày ngày gào thét, cuộc sống thôn quê hiện giờ chỉ còn lại người già phụ nữ và trẻ con, thanh niên không đi lính thì cũng đã hi sinh vì đất nước, nhưng dường như cái gốc của tổ tiên vẫn đâu đó rộn ràng đón một năm mới.

Nhìn khắp lượt cũng không thấy bà nội đâu, tôi bước lại gần mẹ đang loay hoay trộn đều nếp gói bánh chuối.

"Bà nội đâu hả mẹ?"

Mẹ tôi ngẩng đầu nhìn tôi một cái rồi tiếp tục động tác đảo đều nếp của mình: "Nội mày ra đầu làng rồi, nói là đem cái áo mới gửi cho chú út mày ở ngoài Hà Nội ấy."

Nội tôi chỉ có hai người con trai, ba tôi và chú út. Khi nghe tin ngoài Bắc có biến động, giặc trong giặc ngoài thi nhau đột kích, khi đó ba mẹ tôi mới cưới được hơn một tháng, hội làng tổ chức chiêu quân, chẳng nghĩ ngợi ba tôi và cả chú út đều tham gia, đến khi nội và mẹ hay tin thì hai người đã chuẩn bị lên đường.

Ông nội tôi vì thời buổi loạn lạc mà hi sinh, đó là nỗi đau mà bà nội vẫn luôn giữ mãi trong lòng, vừa hay tin hai người con chẳng nói chẳng rằng nhập ngũ, bà nghĩ đến hai người có thể sẽ đi theo vết xe đổ của ông nội nên ra sức phản đối, ba và chú út không khuyên nhủ được nội. Cuối cùng, khi hội làng thông báo tập trung hai người đã trốn đi trong đêm vì sợ bà nội buồn, không bao lâu thì mẹ tôi phát hiện mình đã mang thai, bà gần như khóc nguyên một đêm.

Năm tôi được tròn ba tuổi, cũng đúng vào đêm giao thừa, khi mọi người náo nức đón chào mùa xuân rực rỡ đến thì chú út đưa ba tôi quay về, đúng vậy, là đưa. Đó là lần đầu tôi gặp chú út, nhưng trong trí óc chỉ tồn tại chút mơ hồ về một bóng hình, và cũng là lần đầu tôi biết cái gì gọi là "ba". Đến giờ khi thấu hiểu hết ý nghĩa của tiếng gọi thiêng liêng ấy thì ba tôi đã vùi thân trong cát bụi.

Nội và mẹ nhìn đến cảnh ấy chỉ biết gào khóc tức tưởi, chỉ sau một đêm mà tôi cảm nhận được mẹ và bà nội đã già đi rất nhiều.

Nhìn mẹ có vẻ buồn buồn, tôi cũng không hỏi nữa, chỉ nói: "Cháo chín rồi, mẹ vào ăn cho nóng."

Tôi vào lại trong bếp, múc cháo riêng vào một cái nồi nhỏ, đợi khi nội về thì ăn.

Một lúc sau, chợt nghe bên ngoài có tiếng ồn ào, tôi đặt nồi cháo xuống rồi chạy ra xem. Bên ngoài sân, mọi người tụ họp đông đúc tạo thành một vòng tròn chẳng biết đang xem cái gì, tôi cố chen vào vòng người để nhìn cho thật rõ. Trên mặt đất mọi người xoay quanh, tôi nhìn thấy bà nội toàn thân đầy bùn đất, trên cánh tay phải còn có vết máu chảy ra nhuộm đỏ bộ áo bà ba màu sữa, khuôn mặt trắng nhợt nhắm chặt hai mắt.

"Bà nội! Bà làm sao vậy mẹ?" Tôi hốt hoảng xông lên đến bên cạnh mẹ lúc này đang ôm chặt lấy bà nội ra sức ấn lên huyệt nhân trung của bà. Mẹ không trả lời tôi, chỉ gắt gao nhìn chằm chằm bà nội, tôi có thể nhìn thấy mắt mẹ đã đỏ hoe.

Đợi khoảng một lúc sau, bà nội mơ hồ mở mắt tỉnh lại khiến mọi người đồng loạt thở phào nhẹ nhõm. Vừa lúc tôi thấy Bác Ba chạy từ đầu ngõ đến, trên tay cầm theo một cái giỏ xách nhỏ chạy đến bên cạnh bà, tôi vội né người sang một bên nhường đường. Bác Ba là một bác sĩ người Bắc, vốn dĩ là một công nhân tri thức hiền lành, sau khi bọn giặc tràn vào, ông bị bọn giặc ép phải chữa trị cho người bọn chúng, vì không hợp tác nên bị đày đến miền Nam làm nông dân trồng trọt cho bọn bán nước ở nơi này.

Mọi người chăm chú nhìn vào động tác rất đổi linh hoạt của Bác Ba xử lý vết thương trên tay bà nội tôi, đến khi băng bó xong xuôi, Bác Ba cất đồ nghề vào chiếc giỏ nhỏ rồi khẽ nói: "Mọi người mau đỡ bà lên giường nghỉ đi, nhớ đừng xốc mạnh quá, bà nhà đang có bệnh tim trên người."

Nghe vậy mọi người nhao nhao giúp mẹ tôi một tay bế bà dậy đi vào nhà, tôi cũng chạy vào theo.

"Thu! Con ở trong này canh bà nội, khi nào bà tỉnh dậy thì gọi mẹ." Mẹ tôi vén chăn cho nội xong ngẩng đầu nhìn tôi nói, rồi theo mọi người tản ra ngoài.

Đến giờ phút này tôi vẫn chưa hoàn toàn lấy lại tinh thần sau mọi chuyện vừa diễn ra, tôi nhìn khuôn mặt bà nội có vẻ nhợt nhạt, những nếp nhăn vào giờ khắc này tựa như càng thêm nhăn nheo. Tự bao giờ nội tôi đã sớm như cánh hoa tàn úa, trong lòng không khỏi nhói đau.

Hôm nay đã xảy ra chuyện gì? Tôi nhìn về phía bên ngoài qua tấm rèm vải, mọi người đang xoay quanh nhau ngoài sân, bề ngoài thì đang gói bánh, nhưng thực chất là đang cùng nhau bàn bạc về chuyện gì đó. Tôi không kìm được bước đến trốn sau tấm rèm nghe ngóng, liệu nội tôi bị như thế này có liên quan đến việc họ nói không!?

Mẹ tôi dường như không có kiên nhẫn, vừa bước ra ngoài thì đã đi đến bên cạnh ông trưởng làng Lý hỏi thăm: "Ông Lý, có chuyện gì vậy? Sao má tôi buổi sáng vừa đi đưa áo lúc về lại bị như vậy?"

Tôi thấy ông trưởng làng đầu tóc đã sớm bạc trắng, nheo nheo đôi mắt như đang kể lại chuyện xảy ra lúc sáng. "Sáng nay tôi có nghe tin từ bọn lính canh, bọn chúng bàn tán về việc khuya hôm qua ở Hà Nội có trận tập kích của quân đội ta với bọn bán nước ngoài ấy, không ngờ không thành công còn bị bọn chúng đánh bom, hiện chưa biết sống chết thế nào. Ban sáng bà nhà có đến tìm tôi nói là muốn gửi cái áo cho chú út Lâm, vừa nghe tin chẳng biết thế nào lại muốn chạy ra khỏi làng, kết quả bà nhà bị bọn lính canh bắt được rồi dùng gậy đánh đập. Aiz... Cũng may có vài người ra can gián, nếu không..."

Nghe kể, mọi người cũng bắt đầu xôn xao bàn tán, trai tráng ở đây nhập ngũ đa số đều được điều đi ngoài Bắc, tháng trước nghe nói còn chuyển đến Hà Nội chuẩn bị tập kích, không ngờ đợt này không thành còn có thể sẽ mất đi chồng con. Vài người có người nhà đi nhập ngũ nghe đến đây cũng không kìm được mà rưng rức khóc.

Mẹ tôi có chút thất thần, mấy hôm trước còn nghe đồn chú út chuyển đến Hà Nội tập huấn, nghĩ đến thành phố lớn càng dễ gặp nguy hiểm. Giờ phút này chỉ có thể cầu nguyện cho mọi người có thể bình an.

Tôi cũng lờ mờ đoán được mọi việc vừa xảy ra, nhìn sắc nắng trên trời, tôi trở lại bên giường bà nội, hi vọng năm nay có thể yên ổn qua đêm giao thừa.

...

Khoảng 11 giờ đêm, mọi người đang chuẩn bị xếp bánh ra khỏi chiếc nồi to tướng vừa nấu xong, những đòn bánh tét vang mùi lá chuối thơm lừng, đâu đó trong không gian còn có cả mùi nếp mới. Khoảng nửa tiếng nhộn nhịp, mỗi người đều tay xách vài đòn bánh và lá trầu mà bà nội tôi đã chuẩn bị hôm qua biếu cho láng giềng. Trong sân lúc này lại trở lại vẻ tĩnh mịt, mẹ tôi đứng giữa sân nhìn lên bầu trời đêm một cái, sau đó quay người trở vào trong chăm sóc cho bà nội vẫn nằm trên giường bệnh.

"Sắp đến thời khắc giao thừa rồi." Ngày này tám năm trước là lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng tôi "nhìn thấy" ba, và tám năm sau thì đêm giao thừa thiêng liêng trở thành ngày giỗ của ông ấy, cũng biến niềm vui trong gia đình này từng chút phai nhạt.

Tôi cũng lặng lẽ ngẩng đầu, nhìn những ngôi sao hiếm hoi trên bầu trời đêm, mẹ tôi từng nói rằng: Khi người ta sống trên đời đều có đôi khi không thể hiện ánh sáng của bản thân, đến khi rời khỏi thế giới này thì sẽ biến thành vì sao trên bầu trời mặc sức tỏa sáng. Tôi nghĩ, ba tôi có lẽ cũng là một ngôi sao trên đỉnh đầu kia, ba đang nhìn chúng tôi mỗi ngày, tôi có thể tưởng tượng được tia sáng kia như ánh mắt dịu dàng của ba, phải chăng khi tất cả hóa thành ảo tưởng thì trái tim con người cũng trở nên hư vô. Khi nhìn thế giới này thêm chút nữa, tôi lại nghĩ, có lẽ bản thân rồi sẽ có ngày hóa thành một ngôi sao kia, mãi mãi chỉ lu mờ bởi thế giới đầy sắc màu này.

Bất chợt, tôi nghe thấy tiếng thở dài sau lưng, quay đầu lại, bà nội và mẹ đang lặng lẽ nhìn tôi, cũng không biết đã bao lâu rồi.

"Bà nội, mẹ! Con nhớ ba..." Tôi khe khẽ nói, giọng nghèn nghẹn rồi bắt đầu khóc nấc lên. Có lẽ tôi chưa từng gặp ba, nhưng tôi tin, ba sẽ là một người ba tốt, bởi vì ba đã không màng bản thân mà hi sinh cho đất nước, tấm lòng cao cả đó tôi luôn lấy làm tự hào với bản thân mình.

Bà bước tới ôm lấy tôi vào lòng, trên khuôn mặt già nua cũng đọng một màu sương lạnh, đôi tay gầy gò vỗ về mái đầu của tôi, bà nói: "Cháu yêu, ba luôn ở bên con, ba luôn nhìn con khôn lớn từng ngày. Tin bà đi, dù ba con đã không còn trên đời này, nhưng chỉ cần trong trái tim còn có ba thì ba con mãi mãi sẽ ở bên chúng ta..."

Chỉ cần trong tim có ba, thì ba sẽ mãi mãi luôn ở bên chúng ta... Tôi cố ghi nhớ lời này của nội, nước mắt theo từng lời nói của bà mà chảy xuống.

Mẹ tôi lặng lẽ lau đi từng giọt nước mắt ướt đẫm hai bờ má, bất ngờ, mẹ tôi trừng mắt thật lớn, đôi tay cố sức bưng miệng kìm chế tiếng nấc như không tin vào mắt mình. Tôi cũng cảm nhận được thân hình gầy gò của nội đang run rẩy kịch liệt, thân thể cứng đờ tựa như hóa đá.

Tôi nghi ngờ quay người lại nhìn về phía sân, một bóng hình gầy gò chậm rãi hiện ra trước mắt, chiếc áo màu xanh đã sờn vải, bụi bẩn bám trên quần áo tựa như không bao giờ lau hết được, mái tóc đen nhánh bám đầy bùn đất rủ xuống che mất đôi mắt, toàn thân người này như giống như mới lưu lạc suốt mấy đêm ngày, đôi giày vải cũng đã rách bươm. Một người đàn ông tôi chưa từng gặp, nhưng cớ sao tôi lại cảm thấy vô cùng quen thuộc, quen thuộc đến mức khiến tôi cảm thấy như mình đang gặp ba trong mỗi giấc mộng.

Người đó lặng lẽ nhìn chúng tôi, chỉ cách vài bước nhưng người đó lại tựa như bị đóng đinh tại đấy. Không chờ tôi lên tiếng hỏi, một giọng nói khàn khàn đặc khản, nghẹn ngào mà bi thương vang lên bên tai.

"Má...!"

Tiếng gọi thân thương như vọng đến từ cõi u linh, thân hình nội dường như cũng run theo từng tiếng gọi, bà bước chầm chậm về phía tiếng gọi đó, khuôn mặt già nua đượm một lớp bi thương cùng kinh ngạc tột cùng.

"Má! Má ơi... con về rồi má ơi!" Người đàn ông đó như được trả lại sự sống, bước nhanh tới ôm lấy thân hình gần như sắp sụp đổ của bà nội, tiếng khóc cùng tiếng gọi đắng chát, thương yêu hòa lẫn cứ thế vang lên, không gian bỗng chốc chỉ còn vang lên tiếng nấc nghẹn ngào.

"Út! Thằng út... mày về với má đó hả út!?" Nội tôi run giọng hỏi, mà như đang nói với bản thân mình.

"Má ơi! Con về với má rồi má ơi, con về rồi..." Dường như tất cả lời nói chỉ có thể gói gọn trong tiếng gọi đầy thương nhớ ấy.

Đợi khi kinh ngạc qua đi, mẹ tôi đã ngồi bệt xuống đất ôm mặt khóc tức tưởi. Dường như bà đang đem nước mắt đã kìm nén tám năm ròng mặc sức thỏa ra vào khoảnh khắc này. Tôi lặng lẽ lau đi nước mắt trên mặt, nhìn cho thật kĩ khuôn mặt gầy gò có bao phần giống với ba tôi, một người chiến sĩ vùi thân mình ở chiến trường đầy khói đạn, giây phút này cũng trở về thành một người con, đem tất cả gian khó và thương nhớ gửi gắm vào nước mắt, vào tiếng gọi "má ơi" này. Đó là chú út của tôi sao? Đó là người mười hai năm trước cùng ba tôi vào chiến trường đầy khói đạn đó, là người tám năm trước đã đem tro cốt của ba tôi trở về sao!?

"Út Lâm!" Cuối cùng vẫn là mẹ tôi trở lại bình tĩnh trước, đôi mắt không giấu vẻ vui mừng cùng thương đau đè nén nhìn chú út: "Làm thế nào mà chú về được đây? Ban sáng mọi người còn phao tin nói đơn vị của chú ở Hà Nội bị tập kích kia mà?"

"Chị hai! Chị nói... đơn vị của em bị giặc tập kích? Có chuyện này sao?" Chú út tôi lấy lại bình tĩnh, kinh ngạc nhìn mẹ tôi hỏi.

Mẹ tôi nghe vậy lại càng kinh ngạc, hỏi lại: "Đúng vậy! Chẳng lẽ không phải sao? Sáng nay ông trưởng làng phao tin với mọi người, má chú còn vì vậy mà bị lính đánh, phải nằm bệnh nguyên ngày hôm nay mới rời giường được."

Nghe vậy chú út tôi không khỏi sửng sốt, vội cúi người nhìn nội tôi, bấy giờ mới phát hiện trên tay nội còn băng bó vết thương, khuôn mặt gầy gò trắng bệt, nhìn thấy mà đau lòng thắt ruột. Chú út lại càng rơi nước mắt nhiều hơn, chẳng biết là đau xót thay cho nội hay là đang tự trách bản thân mình.

"Đúng đó út, sao con lại về được đây?" Nội tôi đưa tay lên lau nước mắt cho chú út, khàn giọng hỏi, dường như không hề để tâm đến vết thương trên người.

Chú út tôi cũng không vội, dìu nội ngồi xuống chiếc ghế đẩu gỗ dưới chân rồi bắt đầu kể. Hơn nữa tháng trước trong đơn vị mà chú út tham gia đang chuẩn bị cho trận tập kích về phía Quân Thanh Xuân, đúng lúc đó chú út tôi muốn về thăm bà nội một lần trước khi bắt đầu tập kích, vì dường như chú út có linh cảm đợt tập kích này sẽ không bao giờ trở về được nữa, cứ nghĩ thời gian đi về chỉ mất hơn mười ngày, ai ngờ vừa ra khỏi Hà Nội đã bị binh lính giặc bắt được đem về tra tấn, ròng rã bảy ngày bị chúng tra tấn và hành hạ cũng không moi được chút tin tức nào từ miệng chú út, chúng định bắt chú út làm tù binh, đêm trước ngày đó, chú út thừa dịp bọn chúng không để ý trốn thoát, vì trên người đang có thương tích nên khi về đến nhà cũng đã là mười ngày sau. Không ngờ trận tập kích cũng không vì chú út vắng mặt mà dừng lại, kết quả thất bại thảm hại, cũng chẳng biết là may mắn hay xui rủi mà chú út tôi về được đây.

Nghe đến đây nội tôi đã không kìm được nước mắt lần nữa, đưa tay kiểm tra trên dưới người chú tôi, vết thương trên người qua mấy ngày đã đóng vẩy, chỉ có chân trái bị nứt khớp nên đi đứng có chút khó khăn.

Chú út tôi cũng không phản ứng, giọng nói tự trách vang lên: "Con không thể cùng anh em chiến đấu đến giây phút cuối cùng, má, con của má đến cuối cùng vẫn không làm được gì cả."

"Út Lâm, chú đừng nói vậy, mọi người đều không muốn kết quả này xảy ra, về được đã là may mắn lắm rồi." Mẹ tôi an ủi, sâu trong tâm hồn đang khẽ thì thào câu cuối cùng không dám thốt lên: Không giống như anh chú.

Nhưng dù mẹ có ố gắng che giấu thì những người khác cũng đều thấu hiểu. "Đúng vậy, về được là tốt rồi. Chẳng lẽ con muốn bỏ má mà đi nữa hay sao, anh của con..."

"Má..." Mẹ tôi vội ngăn lại câu nói nội tôi còn dang dở. Chẳng hiểu vì điều gì mà quay sang nhìn tôi.

Nước mắt chẳng biết tự bao giờ đã ướt đẫm khuôn mặt mình, trái tim tôi cũng theo từng lời nói của họ mà đau nhói. Đúng vậy, chú út may mắn hơn ba tôi, ba tôi đã sớm ra đi trên chiến trường loạn lạc, và giờ đây tất cả đều không muốn bi kịch lặp lại trên người chú út tôi thêm nữa.

"Con là bé Thu phải không?" Chú út giây phút này mới nhận ra còn có một người im lặng từ đầu đến cuối là tôi, chẳng biết nghĩ đến điều gì, đôi mắt chú đã đỏ ngầu nhìn tôi tha thiết gọi.

"Thu! Gọi chú út đi con, đó là chú út mà mẹ từng kể cho con nghe đó." Mẹ tôi nhìn dáng vẻ của tôi, nghẹn ngào khẽ nói.

Tôi vẫn đứng đó, đôi chân như được tráng lên nhiều lớp xi măng rắn chắc, khiến tôi không thể nào nhấc lên được. Bỗng, một vòng tay mạnh mẽ ôm lấy tôi, đó là cái ôm ấm áp nhất mà tôi chưa từng được nếm thử, cho dù vòng tay này xen lẫn mùi máu tươi và bùn đất, cũng không thể nào nhuốm bẩn được sự tươi sáng trong tâm hồn tôi, đó là vòng ôm tôi hằng khao khát trong mỗi giấc mơ, trong mơ tôi sẽ nhìn thấy ba, nhìn thấy cả nhà năm người cùng ngồi bên mâm cơm đón giao thừa, cùng nói "sinh nhật vui vẻ" với tôi.

"Con biết tên con từ đâu mà ra không? Là ba của con đặt đó, ba năm trước, vào cái ngày anh ấy biết được sự tồn tại của con anh ấy đã suy nghĩ rất lâu mới đặt cái tên này, anh ấy đã hi vọng biết bao nhìn thấy con, thậm chí mỗi ngày sau khi tập luyện xong anh ấy còn viết cho con rất nhiều bức thư, kể về mỗi ngày nơi chiến trường anh ấy trải qua, rồi đốt đi, vì anh ấy nghĩ rằng sẽ không có cơ hội gặp lại con, ba con rất yêu con, Thu à!"

Tôi nghe tim mình như có ngàn vì sao tỏa sáng đến xinh tươi, cũng hòa lẫn với nỗi đau theo từng nhịp đập. Tôi biết chứ, ba mãi mãi là người yêu thương tôi nhất trên đời này. Đâu đó trong tim như có sự thôi thúc, bất chợt thốt lên tiếng gọi thân thương: "Ba..." Nước mắt vừa đọng lại trong mắt lại thi nhau rơi xuống, giọng nói như nghẹn ứ lại trong cuốn họng, tôi hướng về phía người đang ôm tôi vào lòng, nói: "Chú Út! Con muốn nghe mọi chuyện về ba của con, tất cả."

"Được, chúng ta vào nhà, chú sẽ kể cho con nghe về mọi chuyện của ba con." Chú út chẳng cần chút sức lực bế bổng tôi lên, bước vào nhà, sau lưng chú, tôi chỉ kịp nhìn thấy niềm hân hoan, vui mừng xen lẫn đau thương trên khuôn mặt của bà nội và mẹ, ngẩng đầu lên trời cao, tôi bắt gặp một ngôi sao đã lu mờ trong bóng tối nháy sáng lên rồi nhanh chóng vụt tắt, vùi mình vào áng mây đen. Và đâu đó trong không gian vang lên tiếng huyên náo vui mừng của mọi người nơi đầu ngõ, tiếng chúc mừng năm mới văng vẳng bên tai.

"Ba, chúc mừng năm mới!"

______

*** Tết là dịp để mọi người trong gia đình sum họp, dẫu có trong hoàn cảnh nào, dù khó khăn hay cực khổ, chỉ cần có người thân ở bên, cùng nhau ngồi bên mâm bánh, nói với nhau lời chúc tốt đẹp đầu năm. Thì dù cho sau đó có khó khăn gì phải đối mặt, nỗi đau nào bất ngờ sẽ đến, chúng ta cũng không tiếc nuối vì tháng ngày chúng ta đã bỏ quên. Bởi vì chúng ta vào giây phút hạnh phúc nhất đã từng biết trân trọng.
An Giang, ngày 3 tháng 4 năm 2016
Gửi cho những người đã "cũ". Kỉ niệm 2 năm. Lại thêm một mùa hạ đến...

___

Ghi chú:
Về cách xưng hô trong truyện, mẹ và má là cùng một nghĩa, theo cách gọi của người miền Nam. Về chuyện tại sao không thống nhất một cách xưng hô, đợi khi có truyện sau cùng bối cảnh mình sẽ đề cập rõ hơn.
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
°•Tiếng Vọng Hoài Thu•°

Tôi - Một Loài Hoa Dại
Tác Giả: Lạc Mỹ Xuyên Thu
Thể loại: Tản Văn
***




Cuộc đời không đẹp không tiền tài
Người người gọi tôi - loài hoa dại
Sống nơi bần cùng không nhuốm bẩn
Nhưng đủ kiên cường hướng tương lai
Ngẩng cao đầu vươn mình hướng mới
Sống tươi vui yên ổn tháng ngày
Dẫu cho sau này về đất mẹ
Vẫn không hối tiếc kiếp muôn loài.


Quanh năm bốn mùa luân chuyển, thời tiết biến đổi không ngừng. Từng hạt cát, gió sương luôn là những điều khiến các loài hoa phải lo sợ bị nhiễm bẩn hoặc sớm héo tàn.


Như chị Lyly cao quý, chiếc áo cánh xòe màu trắng tinh khiết điểm to thêm vài hạt phấn màu hồng nhạt, mùi hương thanh khiết từ chị khiến cho rất nhiều chú bướm phải say mê. Ánh nắng sớm ban ngày chấm đậu vào từng lớp váy trắng thanh khiết, càng khiến cho chị thêm phần tỏa sáng và cao quý. Mỗi khi thấy chị tắm mình trong nắng sớm, hương thơm thanh khiết vô tình vương trong làn gió, mọi người lại được một trận đắm người trong hương thơm tươi mới đó. Mọi người đều không ngớt lời ca ngợi và tôn vinh chị làm "Nữ hoàng của những loài hoa".

Hay như bạn Hồng xinh đẹp, bạn ấy sinh ra đã sở hữu những sắc màu tươi sáng, chiếc áo màu đỏ sặc sỡ điểm tô cho những chiếc cánh màu xanh đầy sức sống. Mỗi khi ánh bình mình đang muốn vươn mình khỏi áng mây, vài giọt sương mai thanh khiết vương vấn không rời khỏi chiếc áo của bạn ấy. Tuy nhiên, trên người bạn ấy lại có rất nhiều gai nhọn, mỗi khi hương thơm thanh nhã của bạn ấy thu hút những chú bướm xinh đẹp đến làm quen, lại nhiều khi khiến họ phải bay cách một khoảng chỉ vì sợ sẽ bị thương. Nhưng điều đó lại không hề khiến mọi người chán ghét, mà ngược lại càng làm cho bạn ấy tăng thêm phần quyến rũ và đầy mị lực.

Hay còn rất nhiều bạn hoa khác nữa...



Những màu sắc tươi sáng, sự kiêu kì, cùng phấn hương hòa quyện. Những đóa hoa cao quý đó chẳng bao giờ phải ngước nhìn và có ánh mắt ngưỡng mộ sự đẹp đẽ như chúng tôi.

Đối với con người, cuộc sống có thay đổi hay không đều phải dựa vào chính bản thân họ. Còn những bông hoa không hề có linh hồn thì sao!? Sự tồn tại phải dựa vào số mạng của ông trời ban tặng, nếu mạnh mẽ một chút thì có thể kéo dài được vài giờ thậm chí là vài giây. Để vực dậy với sự tàn úa của thiên nhiên, họ phải học cách mạnh mẽ.

Thế giới đầy màu sắc này gọi chúng tôi là những loài hoa dại.

Loài hoa dại, không phải vì chúng không nổi bật, không đẹp đẽ. Họ cũng có sắc màu của riêng mình, những chiếc áo dù không nổi bật nhưng lại có sự thanh mát của hương hoa. Nhưng dù vậy, họ vẫn mãi là loài hoa dại, không hề tồn tại trong sự yêu thích của mọi người. Hay có chăng cũng có khi chẳng ai biết đến sự tồn tại của họ.

Tôi - Một loài hoa dại.

Tôi có vẻ may mắn hơn những loài hoa dại khác rất nhiều, bởi vì tôi có tên. Tên của tôi là Hoa Giấy!

Tôi sống như một loài thân leo, màu hồng trên áo tôi sẫm màu, không sặc sỡ như những loài hoa cao quý khác. Cuộc sống của tôi chỉ tồn tại sự yên bình. Có lẽ tôi khác với mọi người ở chỗ... Tôi không có hương thơm.

Chiếc áo có phần thô của tôi không thu hút ong bướm đến gần, cũng chẳng có ai ngưỡng mộ bởi những nhị hoa bị giấu đi trong lớp áo mỏng vào mỗi chiều tàn. Cánh nhị màu trắng không thu hút, thường hay vươn ra đón ánh nắng nhạt. Chắc có lẽ, đó mới là cuộc sống của tôi. Cuộc sống làm trang trí chỉ vì mỗi khi tôi thay áo mới là rất nhiều anh chị trong nhà cũng thay, chúng tôi nở cùng nhau, cũng héo tàn cùng nhau.

Chẳng có thứ gì trên đời là vĩnh hằng cả, cuộc đời như loài hoa chúng tôi là sinh mạng mau tàn nhất. Bởi cuộc đời ngắn ngủi này, ta phải sống sao cho thật ý nghĩa.

Bà tôi thường bảo rằng, không phải mọi vật trên đời sinh ra đã có tên. Những sắc màu và những cái danh xưng đẹp đẽ đó đều do bà chúa của thiên nhiên ban tặng. Sở dĩ những loài hoa dại như họ không có tên chắc có lẽ là do bà ấy quá bận rộn và quên mất đi những đứa con đáng thương này. Quên đi trên đời này còn có những sinh linh nhỏ bé mà chúa trời ban cho sinh mệnh. Chúng cũng muốn như những loài hoa khác, được hưởng sự ngưỡng mộ của mọi người.

Riêng với hoa giấy như chúng tôi thì có phần khác, tôi không có sự thanh nhã để thu hút bướm ong, không có mùi hương đặc trưng mà cơ bản nhất. Chúng tôi chỉ có đôi cánh màu hồng này, chiếc váy thô cùng sự đón nắng trong vô thức. Nhưng chúng tôi có sự kiên cường, có ý chí về cuộc đời ngắn ngủi, dù chúng tôi là loài hoa dại đi chăng nữa.

Bà tôi, rất lâu trước kia thường kể. Tổ tiên loài hoa giấy chúng tôi có nguồn gốc là một loài hoa dại. Họ trước kia sinh sống trong một khu rừng chẳng ai biết đến, vươn mình từ một góc đất sống qua ngày nhờ ánh mặt trời. Cuộc đời Từ khi con người xuất hiện, loài hoa như chúng tôi được họ đem về, trồng ở một góc sân nhà. Kể từ đó, không ít những câu chuyện tình yêu gắn liền với cội nguồn của chúng tôi, không hiểu họ lấy từ đâu ra, nhưng có đôi điều họ nói đúng, loài hoa giấy như chúng tôi có sự sống phồn vinh, vĩnh hằng. Bởi một năm này đến ngàn năm khác, chúng tôi vẫn cứ vươn mình như thế không ngừng nghỉ. Và chẳng biết từ bao giờ, những người xung quanh gọi chúng tôi là Hoa Giấy.

Tôi không cao quý nhưng đủ mạnh mẽ và kiên cường.

Đủ để chống chọi với sự khắc nghiệt bốn mùa trong năm, loài hoa như chúng tôi sống quanh năm một mảnh đất, quanh năm gắng bó với không khí xung quanh này. Đôi khi có trận gió bắc lớn kéo về, vài bạn đã sắp đến tận cùng sinh mệnh nương theo gió bay đi, họ cũng về với đất, với quê hương thân thuộc này.

Tôi không cần sự kính ngưỡng của người khác, không cần vẻ đẹp lộng lẫy bề ngoài, tôi cũng không cần sự huyễn hoặc và tự ti với bản thân. Đất trời sinh ra những loài hoa dại, chính là để cho mọi người thấy: Thế giới này mặc dù to lớn, và đủ sự cám dỗ. Nhưng để tồn tại trên sự khắc nghiệt này không chỉ cần vẻ ngoài và điều gì thu hút, mà cần phải mạnh mẽ, kiên cường đủ để tồn tại trên cuộc sống vô cùng ngắn ngủi này.

Cuộc đời không biết phía trước là sự khắc nghiệt nào đang đến với mình. Nhưng chỉ cần bản thân biết tự tin vào cuộc sống, ý chí và nghị lực vươn lên, dẫu cho bản thân không đẹp, không cao sang đi chăng nữa thì đã sao!?

Cuộc đời ngắn ngủi, tôi chỉ cần làm một loài hoa dại!

...

Cuộc đời không đẹp không tiền tài
Người người gọi tôi - loài hoa dại
Sống nơi bần cùng không nhuốm bẩn
Và đủ kiên cường hướng tương lai
Ngẩng cao đầu vươn mình hướng mới
Sống tươi vui yên ổn tháng ngày
Dẫu cho sau này về đất mẹ
Vẫn không hối tiếc kiếp muôn loài.
"Em có đặc biệt thích hoa gì không?"
"Không có. Nếu bắt buộc phải lựa chọn một loài hoa, em sẽ chọn hoa dại."
"Vì nó hoang dại?"

"Không... Vì nó kiên cường hơn em."
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
Hạnh Phúc
Tác giả: Lạc Mỹ Xuyên Thu
Thể loại: Truyện ngắn
***




Hạnh phúc có chăng là cảm nhận sự ấm áp?

Hạnh phúc là khi ta cảm nhận sự yêu thương?

Hạnh phúc là sự thỏa mãn ham muốn của bản thân mình?

Hay hạnh phúc là một điều gì đó xa vời tồn tại trong cảm xúc?

Và có chăng hạnh phúc là được sống, được yêu thương hay đơn giản là được... mỉm cười?

Hạnh phúc! Có đôi khi chỉ tồn tại trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, giống như cuộc đời con người, vẫn mãi chỉ là những hạnh phúc thoáng qua, có khi không thật nhưng lại khiến cho người ta suốt đời tìm kiếm.

Nếu ai đó đã từng sở hữu một điều hạnh phúc, vậy đừng bao giờ buông tay. Bởi vì tìm được một niềm hạnh phúc trong đời, không quá dễ dàng...


Ánh hoàng hôn dần buông xuống, tia nắng giao hòa vào với mặt nước ngoài biển khơi, từng cơn gió thoảng qua thổi bay làn tóc đen bóng của nó, tia sáng màu hổ phách ánh lên trong con ngươi đượm vẻ u buồn, nó nhìn vào khoảng không phía bên kia vùng biển vô tận không một điểm dừng, nở nụ cười, nhưng ý cười không hề lan đến khóe mắt hay khuôn mặt. Trên người nó toát lên một sự hờ hững lạ kì, nó là một cô bé không được ai đón chào, ba mẹ nó vỡ kế hoạch khi còn trẻ, thế là nó được đưa về nhà ngoại sống với bà, còn những người mà nó thường gọi là "ba mẹ" thì mãi tất bật với công việc, một năm cũng chỉ có ngày lễ tết thì nó được gặp họ. Mãi đến ngày nó lên mười, người bà luôn yêu thương nó đã mãi ra đi, và cái giá cho sự mất mát đó, ba mẹ đón nó về sống chung, có thể trong lòng họ còn chút ý nghĩ muốn bù đắp, nhưng đã không còn kịp nữa rồi, trái tim nó đã hình thành một lổ hỏng, một vết thương không còn có thể vá lại.

Nó đi học nhưng không hòa nhập, người khác thì luôn nói nó tự kiêu vì nó luôn khó tiếp xúc thân mật với người khác, nó vẫn im lặng lắng nghe những câu nói đùa nhưng đầy ác ý của họ. Mang khuôn mặt vô cảm mà đối diện với cái xã hội này, nó thấy mình mệt mỏi, nội tâm của nó đã khép lại, nó tuyệt vọng với thế giới này. Sẽ không có ai biết nó là một cô bé rất hay cười, bởi chẳng ai nhìn thấy được nụ cười của nó, dù là một chuyện nhỏ nhặt cũng khiến khóe môi nó cong lên, nhưng chỉ những lúc ở một mình nó mới có thể nở nụ cười như vậy.

Thả bước dọc theo bờ biển, đón những trận gió mát của buổi chiều tà, nó vẫn thường đến đây sau giờ học, và mỗi lần trở về nhà vào buổi tối muộn nó vẫn không hề bị la mắng hay được hỏi han, một sự hờ hững đến vô tình của ba mẹ khiến nó cũng làm ngơ đi, có ai hiểu được cảm giác của nó lúc này đây? Không một ai cả.

Chợt như nhớ ra một điều gì đó, nó nâng mắt nhìn về phía trước không xa, nhận ra một bóng dáng quen thuộc xuất hiện trong tầm mắt, nó chững lại bước chân lặng lẽ ngắm nhìn ánh hoàng hôn bao phủ người đó.

Cách nó không xa, một người đàn ông đang đứng đối diện với ánh hoàng hôn đang chậm rãi dần khuất, trên tay ông đang cầm một cây cọ vẽ, trước mặt vẫn là chiếc giá gỗ cùng khổ giấy trắng tinh không một sắc màu tô điểm. Lại là ông ấy, nó vẫn thấy ông đứng đấy vào mỗi hoàng hôn, mặc dù rất muốn lại gần nhưng nó làm không được, hay nói đúng hơn nó chưa bao giờ làm điều đấy. Nó chậm rãi di chuyển bước chân, lúc đi qua người đàn ông nọ, đột nhiên một âm thanh trầm ấm vang lên:

“Đối với cháu, hạnh phúc là gì?”

Nó sững người nhìn về phía phát ra tiếng nói, là người đàn ông đó. Ánh mắt ông ấy vẫn dõi về phía xa xa, một nỗi cô đơn hiện hữu trên khuôn mặt, nó dường như thấy chính mình, một cảm giác thân thiết không tên hiện về, nó lặng lẽ đứng đó nhìn ông, không hiểu ông đang nói gì? Nó vẫn im lặng tựa như một pho tượng nhìn vào tờ giấy chưa hề có một nét vẽ, chắc ông ấy đang tìm cảm hứng chăng.

Hạnh phúc? Đối với nó hạnh phúc là gì? Nó u buồn nhìn vào khoảng không trước mắt, ánh hoàng hôn lúc này đang dần khuất, nó khẽ nói:

“Cháu không biết.”

Nó không biết hạnh phúc là gì, vì chưa ai dạy nó thế nào mới được gọi là hạnh phúc. Đối với nó hai từ đó chỉ như một người xa lạ vừa gặp lần đầu, một cảm nhận chưa biết tên mà nó đang cố gắng tìm kiếm trong đầu…

Người đàn ông quay đầu nhìn nó, dường như ông không hề ngạc nhiên với câu trả lời, đưa tay tháo khổ giấy trắng tinh khỏi giá vẽ đặt vào tay nó, khẽ mỉm cười rồi lặng lẽ rời đi.

...

Nó bần thần nhìn bóng lưng cô đơn của ông dần khuất, cảm nhận được một nỗi lòng nào đó đang dần trào dân, ngước mắt lặng nhìn ánh hoàng hôn lần nữa, nó quay người trở về nơi được gọi là "nhà".

Về đến trước nhà đã là trời tối, nó nhìn cánh cửa khóa kín, ánh mắt vẫn vô cảm, nó tiện tay cầm chiếc chìa khóa mở cửa, cánh cửa được mở ra, trước mắt nó toàn một màu đen kịt, ánh sáng yếu ớt của ánh trăng từ khung cửa len lỏi vào trong phòng khách, nhà trống không.

Nó không bật đèn, lặng lẽ đứng trong màn đêm giá buốt, cảm giác đau đớn tràn về trong tim, mỗi ngày về đây, đón chờ nó vẫn là ngôi nhà tối om và lạnh lẽo, nó dường như đã quen với việc họ lúc nào cũng đi công tác đến hai ba tuần mới về, thậm chí có khi cả một tháng nó vẫn không nhìn thấy mặt "ba mẹ" mình.

Trở về phòng, nó thả người lên chiếc giường còn mang hơi lạnh, yên tĩnh quá, nó lại nhớ đến bà, nhớ những đêm cùng bà ngồi trên sạp ngoài sân ngắm trăng mỗi đêm, nghe những câu chuyện cổ tích bà thường kể. Nó thấy mình sắp không trụ được rồi, tại sao nó lại phải chịu những nỗi đau này giày vò, nó cần lắm hơi ấm của người thân, bạn bè. Nhưng sao nó không làm được, trái tim đóng kín đã lâu đang dần muốn mở ra, vậy mà chính những người nó muốn đón nhận lại nhẫn tâm đưa tay khép kín nó lại.


Nó nhìn khổ giấy mà người đàn ông nọ đưa cho nó, một màu trắng xóa, với nó hạnh phúc là gì? Nó cũng muốn có một cảm nhận chân thật về câu hỏi này. Nó buông thỏng đôi tay, khép mắt lại không muốn nghĩ nữa, suy cho cùng có nghĩ thì nó cũng không nghĩ được gì ngoài những cô đơn và lạnh lẽo xoay quanh.



Hôm nay là một ngày đầy nắng, tia sáng ấm áp hiếm hoi của tháng mười hai vào buổi chiều, hoàng hôn hôm nay như được tô điểm thêm sắc màu rực rỡ, nó lại bước chậm chậm trên bờ cát mịn, muốn tìm thấy chút cảm xúc mềm mại như bàn tay của ba, muốn tìm chút ấm áp trong vòng ôm của mẹ. Nó có chút giễu cợt với suy nghĩ của bản thân, hướng về phía tia sáng nơi chân trời, nó mỉm cười, vẫn là một nụ cười không niềm vui.

Nó chợt thấy người đàn ông nọ, vẫn một bộ dáng cô đơn như thường ngày và một khổ giấy trắng tinh. Nó không tự chủ mà bước lại gần hơn chút nữa, cảm giác thân thiết đó lại ùa về trong lòng, như thể người đàn ông này và nó tồn tại cùng một thế giới.

Người đó như cảm nhận được nó đang đến gần, ông khẽ mỉm cười ánh mắt lại hướng về phía xa xăm, ông đã nhiều lần đến đây để tìm “hạnh phúc” nhưng ông mãi vẫn không biết đó lại là cảm giác gì!? Có đôi khi đó lại là đặc tính dành riêng cho những người làm nghệ thuật như ông - cô đơn.

“Đối với cháu, hạnh phúc là gì?”

Nó đã không còn bất ngờ với câu hỏi của ông nữa, cứ mỗi khi tình cờ gặp nhau ông đều hỏi nó những câu như thế, có thể ông đã hỏi rất nhiều người, hẳn là mọi người đều nghĩ ông có vấn đề, riêng nó chỉ cảm thấy câu hỏi ấy là điều dành riêng cho nó. Có lẽ nó đang dần tập quen khi phải trả lời cùng một câu hỏi, nhưng hôm nay nó lại muốn nghe một đáp án từ đáy lòng mình, nó nhắm khẽ đôi mắt lại, lắng nghe được tiếng sóng vỗ rì rào của biển, tiếng gió vi vu thổi qua vành tai mát lạnh, còn có…sự ấm áp của tia nắng nhạt buổi chiều hôm. Nó nhớ đến bàn tay gầy gò của bà ngoại, ngày còn ở với ngoại, mỗi khi trưa về, bà đều ngồi hát ru cho nó ngủ, bàn tay vỗ về mỗi khi nó trở mình không an giấc. Cái cảm giác mềm mềm pha lẫn vết chai sần của tháng năm, thế mà nó yên lòng đến lạ. Nó hít một hơi thật sâu rồi từ từ mở mắt ra, trong vô thức nó lại thốt lên.

“Cháu nghĩ, hạnh phúc là khi tận hưởng sự ấm áp.”

Ông quay sang nhìn cô bé trước mặt, có lẽ đây là lần đầu tiên ông đối diện với cô bé này, ấm áp? Ông có thể cảm nhận được từ gì đây? Học theo nó ông cũng nhắm mắt lại, hít sâu một hơi dài, chợt ông khẽ nở nụ cười nhìn nó. Đôi tay ông lướt qua khổ giấy mà hơn một năm nay ông chưa từng đụng đến, ông đã từng vẽ ra rất nhiều bức tranh mà trong giới nghệ thuật luôn xem là những kiệt tác, có nỗi đau, sự cô đơn, và nỗi buồn thăm thẳm, tranh của ông tồn tại với hai sắc màu trắng đen, ông bắt đầu thấy chán nản với những đứa con mình từng tự hào, ông mang theo một mớ hỗn độn trong đầu tìm kiếm chút sắc màu trong cuộc sống, và điều đầu tiên ông tìm đến chính là… hạnh phúc.

Bức tranh hoàng hôn với những tia nắng nhạt nhanh chóng hiện ra trước mắt nó, lòng kinh ngạc, nó chăm chú nhìn bàn tay say mê múa bút của ông, nó như cảm nhận chút niềm vui kì lạ, bức tranh nhanh chóng đến tay nó trong ánh mắt trìu mến của ông, tặng nó sao? Nó nhận lấy bức tranh giống đến bất ngờ, không phải giống ánh hoàng hôn phía xa kia, mà giống với… hạnh phúc trong nó.


Hạnh phúc đơn giản như vậy sao?

Ánh hoàng hôn đơn côi, mà vẫn đẹp như vậy sao? Nó... có thể được như thế hay không?



Trời dần tối, người đàn ông kia đã rời đi, có lẽ ông sẽ không quay lại đây nữa, vì nó đoán ông đã có một hạnh phúc của riêng mình. Những đám mây đen kia kéo về bao phủ không gian, đột ngột che đi những áng mây trắng, ánh sáng cuối cùng của một ngày đã bị nhấn chìm. Tiếng mưa rơi xào xạc cùng tiếng sấm chớp giữa trời làm sáng lên hình dáng nó trong đêm, thân hình nó ướt đẫm, lạnh, cái cảm giác buốt lên từng hồi khiến nó muốn ngất đi, không gian xung quanh chỉ còn mình nó đứng đó, hình như nó đã đứng ở đó rất lâu, khuôn mặt u buồn vẫn hướng về phía chân trời kia. Giờ phút này nó muốn cảm nhận được sự ấm áp ngày ấy, cũng như hạnh phúc đối với nó ấm áp thế nào, những giọt nước tràn ra từ khóe mắt, nó khóc, thả trôi cho những nỗi đau trong lòng nó đi, mà sao ngực nó vẫn cứ đau, cảm giác tê dại rít lên từng hồi khiến nó chỉ biết khụy xuống ôm lấy lồng ngực của mình, cảm giác quen thuộc kèm theo cơn đau nhức, nó thở dốc từng hồi, cố hít lấy không khí bên ngoài, nó nhắm mắt nằm bên bờ biển mặc cho cơn đau kéo vào lòng nó.

Cơn đau này vẫn luôn kéo đến từ khi nó biết nhận thức, bà từng nói đấy có thể là do bệnh tim di truyền của dòng họ, dù đã đi khám rất nhiều lần ở bệnh viện dưới quê nhưng chẳng có chẩn đoán gì. Bà bảo có thể là do thân thể nó thiếu dinh dưỡng, nó không muốn trông thấy bà lo lắng như thế, nên sau này mỗi khi lên cơn đau nó đều trốn đi nơi khác.

Thời gian dần, nó cũng đã thấy quen với cơn đau ấy, nhưng giờ phút này nó sự đau đớn của tâm hồn đã nhấn chìm cơn đau thể xác.

Bà ơi! Cháu mệt rồi, bây giờ cháu chỉ muốn ngủ một giấc thật sâu, cháu luôn hi vọng họ có thể cho cháu thứ mà cháu muốn, nhưng thật sự thứ mà cháu muốn là gì cháu cũng không biết, cháu chỉ muốn ích kỉ một chút được họ quan tâm hơn, cho cháu một phút ấm áp ngắn ngủi, thế mà ông trời dường như không nghe thấy lời nguyện cầu của cháu...

Cháu mệt mỏi rồi, bây giờ cháu chỉ muốn ngủ một giấc thật sâu, mãi mãi không tỉnh dậy nữa...

Nó cứ nằm đó, mặc cho dòng nước lạnh buốt kia trôi lấp thân thể nhỏ bé, sóng biển cứ đánh, nó thì cứ nằm đó, khuôn mặt đã tái trắng lên vì lạnh mà sao nó vẫn nở nụ cười, lại là một nụ cười không niềm vui.

...

Tia sáng mặt trời rọi vào khung cửa sổ, soi sáng khuôn mặt nhợt nhạt của nó trên giường, nó khẽ mở mắt, đập vào mắt là căn phòng trắng toát, không gian thoang thoảng mùi thuốc khử trùng quen thuộc, nó khẽ cựa mình, cảm giác đau thắt ngực đã không còn, nhưng tay lại đau, nó nhìn xuống thì ra là dư âm sau khi truyền dịch trong thời gian dài. Đây hẳn là bệnh viện, ai đã đưa nó vào đây? Nó cũng không cần biết nữa, nó nhắm mắt lại lắng nghe thanh âm rầp rập bên ngoài cửa, tiếng bước chân, nó biết là ai đến, bởi những bước chân này mỗi khi xuất hiện nó đều chăm chú lắng nghe, khắc ghi vào trong lòng.

Tiếng mở cửa nhanh chóng vang lên, nó cảm nhận được có người đang đến gần, có một cảm giác như có những giọt nước lăn trên má nó, nó thấy một vòng tay ôm nó vào lòng kèm theo tiếng nấc của mẹ.

"Mẹ xin lỗi... xin lỗi..."

Nó cố kìm nén không để giọt nước mắt tràn ra, vẫn nhắm mắt cố níu giữ cái cảm giác đầu tiên trong đời, nó có thể hay không sẽ tha thứ cho họ, nó sẽ dễ dàng gì để biết cái cảm giác bây giờ là ấm áp. Nó muốn mở mắt ra, nói cho ba mẹ biết nó khao khát lắm được yêu thương, nó sẽ ôm mẹ nó thật chặt để nó có thể hưởng thụ một cảm xúc đầu đời, ai đó hãy nói cho nó biết đó có được gọi là hạnh phúc hay không?

Rồi nó nghe được một giọng nói, một giọng nói như được phát ra từ phía tử thần: "Đã có kết quả xét nghiệm, tình trạng của cô bé bây giờ rất không khả quan, theo chuẩn đoán cho thấy, trong tim em có một khối u, rất tiếc khi phải nói đây là khối u ác tính, tình trạng này rất hiếm gặp... các người làm ba mẹ kiểu gì mà đến hiện tại mới đưa con bé đi khám..."

Bên tai nó chỉ có cảm giác ù ù, nó như nghe thấy một câu chuyện cười, có phải ông trời đang trêu ngươi nó không? Tại sao khi nó ở trong địa ngục tìm được chút ánh sáng thì lại nỡ nhẫn tâm dập tắt đi, nó lại nghe thấy tiếng khóc đau đớn như xé gan xé ruột của mẹ, tiếng gào thét đau đớn của ba, nó thấy thật sự đau, cơn đau dồn nén đó nó không thể nào hiểu đó là đau ở tim hay đau từ đáy lòng.

....

Gió lộng từ đêm mưa đã trôi qua, nó trốn khỏi bệnh viện, ngắm nhìn ánh hoàng hôn dần khuất.

Đêm khuya tĩnh lặng, từng cơn gió nhẹ lướt qua, người đàn ông đó không xuất hiện, ông ấy không vẽ được hạnh phúc vừa tìm đến nó, trời sao trên kia thật đẹp, nơi đó có thật là nơi dừng chân của những người đã khuất, bà nó cũng ở trên đấy, đúng không? Nếu vậy không bao lâu nữa nó sẽ là một trong những vì sao kia, nó sẽ được gặp bà, nó sẽ từ phía trên cao kia nhìn thế giới, nó sẽ tìm những hạnh phúc trong cuộc sống này, hạnh phúc đó có hay chăng sẽ to lớn như đại dương bao la, hay sẽ nhẹ nhàng như một vòng ôm thân thiết.

Nó nghe tiếng gió lạnh thổi qua tai nhịp nhàng, vi vu, chậm rãi. Mang chút lạnh lẽo của đêm cùng chút ấm áp hòa vào sóng biển, nó chợt thấy tâm hồn thanh tĩnh, nhẹ trôi vào lòng nó chút vui vui.

Nó lặng lẽ thiếp đi trên bờ cát mịn, nó muốn nhìn thấy bà.

Bầu trời đêm mang theo hơi lạnh, những ngôi sao sáng khẽ rọi lên khuôn mặt nó, tia sáng li ti soi vào khóe mắt, một vệt nước nhẹ nhàng chảy từ khóe mi.

...

Tiếng sóng vỗ làm nó thức giấc, nhìn bầu trời chưa sáng hẳn, nó uể oải ngồi dậy, cảm nhận trên tay đang cầm một thứ gì đó, nó cúi đầu nhìn, là một khổ giấy được cuộn tròn nằm trên tay nó, chợt nhớ đến người đàn ông nọ, nó chầm chậm mở khổ giấy ra, đập vào mắt là khung cảnh bình minh đang dần lên, những tia nắng nhạt được khắc họa tỉ mỉ từng đường nét, màu sắc chân thực mà tự nhiên, nó ngơ ngẩn nhìn bức vẽ hồi lâu. Ông ấy tặng nó sao? Hoàng hôn trong nó như một loại ấm áp nhẹ nhàng của hạnh phúc như một vòng ôm của mẹ, vậy... bình minh trong nó là gì?

Có thể là hy vọng, hay một điều gì đó...

Nó bất chợt nghe tiếng gọi của mẹ, cứ ngỡ mình nghe nhầm với tiếng sóng vỗ xa xa, nhưng tiếng gọi ngày càng đến gần, nó bất ngờ ngước mắt nhìn về phía đó, nó thấy ba mẹ phía xa đang chạy về hướng nó cùng với tiếng gọi vội vã vang lên, tại sao ba mẹ lại biết nó ở đây?

Nhưng không còn quan trọng nữa, từ nay nó sẽ cố gắng hưởng thụ, nó muốn ích kỉ một lần nấp vào lòng mẹ, cảm nhận sự ấm áp từ bàn tay ba, đối với nó thế là đủ!

Nó ngước nhìn lên bầu trời phía xa, nơi ánh bình minh đang dần lên cao phát ra tia nắng êm dịu của buổi sáng trong lành, nó nghĩ ánh bình minh trong nó đang tỏa sáng, một điều gì đó len lỏi vào trong lòng nó khẽ hướng ánh bình minh trên cao nở một nụ cười trên khóe môi, một nụ cười... hạnh phúc!


Hạnh phúc có chăng là cảm nhận sự ấm áp?

Hạnh phúc là khi ta cảm nhận sự yêu thương?

Hạnh phúc là sự thỏa mãn ham muốn của bản thân mình?

Hay hạnh phúc là một điều gì đó xa vời tồn tại trong cảm xúc?

Và có chăng hạnh phúc là được sống, được yêu thương hay đơn giản là được... mỉm cười?

Hạnh phúc! Có đôi khi chỉ tồn tại trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, giống như cuộc đời con người, vẫn mãi chỉ là những hạnh phúc thoáng qua, có khi không thật nhưng lại khiến cho người ta suốt đời tìm kiếm.

Nếu ai đó đã từng sở hữu một điều hạnh phúc, vậy đừng bao giờ buông tay. Bởi vì tìm được một niềm hạnh phúc trong đời, không quá dễ dàng...

♧♧♧
 
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
Năm Canh Gió Thổi
Tác giả: Lạc Mỹ Xuyên Thu
Thể loại: Truyện ngắn
***


1521

Năm canh gió thổi, mười canh mẹ về

Canh chày cha hát, thức giấc đầu nôi

Gió ơi về đâu, bão giông còn đó

Thổi giấc mơ nào, mấy kiếp đời trôi...


"Ninh, lại đi đâu đấy?"

Trời đã dần tối, thằng Ninh quay đầu trông cái bóng tía đang ngồi ở cái sập trước nhà, tay lão cầm một điếu thuốc lào rẻ tiền chẳng biết nhặt ở đâu vừa hút phì phèo vừa ngẩng đầu lên hỏi nó.

Thằng Ninh đầu đội một cái đèn nhỏ, một tay cầm cái nơm to, cái lưỡi hái vẫn thường trực giắt bên hông, tay kia nó cầm theo một cái giỏ tre lớn. Buộc chặt cái giỏ vào một bên hông, nó với lấy cây nứa tự làm thành một cây kẹp, vừa đi ra khỏi cửa vừa nói bằng cái giọng cộc lốc: "Tôi đi bắt rắn."

Lão tía trông theo bóng dáng còn chưa dậy thì của nó, hắng giọng một cái rồi lão bảo: "Ừ. Cẩn thận đấy."

Bước chân nó chậm lại một chút rồi lại sải bước dài, không đáp lời lại.

Thằng Ninh băng qua hai con suối, leo lên một đoạn mương dẫn lên rừng. Trời đã dần khuya, ánh đèn treo trên đầu nó phát ra ánh sáng yếu ớt, cái đèn này là của tía nó lúc trước mua ở một tiệm đồ cũ ở trên xã, cũng đã qua mấy năm nên ánh sáng không được tốt lắm, nó lần từng bước qua những đoạn núi nhỏ ven đường, tiện tay hái một nắm rau tần có tác dụng cầm máu bỏ vào trong túi áo.

Trong rừng hoang vắng, đầy rẫy tiếng thú hoang kêu gào, lúc lớn lúc nhỏ, nó né những cụm lá rậm để tránh chọc đến những con thú lớn, đi dọc theo một con suối nước nhỏ, nó lần tìm hang rắn ở những cụm đất đá ven bờ suối. Rắn ở rất sạch, thường thì vào một hai tháng nó sẽ tự tắm rửa và "thay áo" một lần, sau khi bỏ lại lớp vỏ bên ngoài, cũng là lúc cơ thể rắn suy yếu nhất, khi ấy việc bắt được rắn sẽ dễ dàng hơn. Thằng Ninh khẽ mím môi, nó vừa trông thấy vài lớp vỏ rắn khá to ở cạnh một cái hang ven suối, quan sát một lúc, nó đoán hẳn là một hang cư trú của loài hổ mang, hoặc có thể là một loài rắn có kích thước lớn. Một tay nó nắm chặt cây kẹp nứa, tay kia nó với từ trong giỏ tre ra một con cóc, là loài cóc độc da vàng, đầu con cóc bị cột chặt bởi một sợi dây cước dài, nó nhanh nhẹn quẳng con cóc vào trong hang rồi dần thả dây, đồng thời, nó leo lên một cành cây gần đó, cố gắng không phát ra tiếng động tránh làm kinh động đến những con rắn trong hang, sợi dây đưa sâu vào một lúc bỗng bị giãy mạnh, nó tức tốc cầm chặt cây kẹp nứa, kéo nhẹ sợi dây ra, tay kia nó cầm cái nơm lớn chờ đợi. Một lúc sau, sợi dây được kéo ra khỏi hang, trên thân con cóc độc bị cắn thủng vài chỗ, vết máu nhỏ rỉ ra từ thân cóc chảy từ trong hang ra đến bên ngoài, một vài con rắn nhỏ từ trong bò ra, đến đầu hang thì từ từ chậm lại rồi ngưng hẳn. Nó bắt kịp thời cơ liền đặt cái nơm che kín lại miệng hang, tay kia nó cầm cây kẹp nứa ra sức thọc mạnh vào, chân nó kiềm lại cái nút thắt ở miệng nơm tránh cho rắn có đường bò ra...

...

Trời dần hửng sáng, thằng Ninh lê thân mệt nhọc về đến đầu làng, tay nó cầm một cái giỏ tre lớn chứa đầy rắn, tay còn lại vừa cầm cây kẹp nứa vừa cầm một sợi dây cột ba con cá lớn. Ra đến chợ đình, nó tắp vội vào một gian nhà gỗ ở gần đấy, nơi này chuyên mua lại mấy loài rắn hiếm, nhất là các loại như rắn hổ mang có kích thước lớn. Người thu mua là một người đàn ông to tướng, khuôn mặt hơi chút bặm trợn kèm đôi mắt sắc như dao, người ta thường gọi gã là Lão Xà, vừa trông thấy nó bước vào gã liền cười cười, nói: "Lại là nhóc à, vẫn đúng ngày như thế nhỉ, đem lại đây, xem thử hôm nay nhóc bắt được bao nhiêu cân rắn nào."

Thằng Ninh nhìn lướt qua ông ta một cái, đoạn đặt cái giỏ tre lên trên mặt bàn, giọng khó chịu: "Đã bảo đừng gọi tôi là nhóc. Hôm nay chỉ được có từng ấy thôi, lão cân giúp tôi xem hôm nay đủ lấy thuốc không?"

Người đàn ông cười hề hề, cầm lấy cái giỏ tre lên, thử ước lượng một chút rồi bảo: "Thuốc cái nổi gì. Thế này thì vừa đủ để tía chú mày qua cơn nửa tháng ấy chứ."

Nó liếc dọc Lão Xà, giọng kì kèo: "Gì mà có nửa tháng thế, lão đừng đùa với tôi, tôi bán lại cho ông Ba Đồng khéo cũng được một tháng cầm cự."

Lão Xà không cười nữa, gã xởi lởi ngó lại bầy rắn vẫn còn lúc nhúc trong giỏ, hiếm khi có rắn hổ mang sống thế này, bán ra đương nhiên là có lời hơn so với tụi chuyên bắt rắn chết. Gã trầm ngâm đo lường một lát rồi nói với điệu không hơn thua: "Được rồi, hôm nay chú mày mở hàng nên chú bán giá mát vậy, chưa có chỗ nào mát giá như chỗ chú đâu nhé."

Nói rồi gã xoay ngoắt vào trong buồng, không quên cầm theo cái giỏ, lát sau bước ra, tay gã cầm một cái gói nhỏ dúi vào trong tay nó, vẫn không quên trêu chọc cho bỏ tức.

"Lão tía mày nghiện ngập mà có thằng con có hiếu quá cha. Khè khè! Chú nói cho mày hay, ở cái làng này thì không cần sợ bọn cớm rởm, tụi nó chỉ được cái ăn của dân, cướp của dân, tía mày bị tụi nó bắt hay không thì sớm muộn gì cũng thả, tụi nó có hơi sức đâu mà giúp tía chú mày cai. Mấy loại này nếu mày muốn thử chú đưa cho mày một ít. Trông mày chắc cũng chỉ mới mười một mười hai tuổi thôi ha, vừa đủ tuổi hưởng thú vui rồi đấy nhé."

Nó trừng mắt liếc gã ta một cái rồi quay lưng rời đi, phía sau vẫn còn văng vẳng tiếng cười thích thú của người đàn ông nọ.

Nó đi về hướng đầu chợ, bán ra hai con cá lớn được vỏn vẹn ba đồng, trả giá thêm chút với bà chủ vựa, nói đến nước miếng văng tung tóe bà ta mới cáu kỉnh quăng thêm cho một lon gạo, vừa mắng vừa phủi tay: "Đi đi đi, mới sáng sớm đừng có ám tao nha thằng quỷ nhỏ. Chỗ tao còn buôn bán, có lỗ vốn tao qua đốt cả nhà mày."

Nó mặc kệ tiếng quát mắng đằng sau, khóe miệng khẽ cười cầm theo lon gạo rời đi.

Nghe nói hôm nay có lính canh, nó nhét kĩ gói "hàng" vào trong miệng, đoạn đi đến trước cổng làng cho bọn lính canh của ông Xã trưởng xét người, nó nhìn cái bọn hung tợn kia một cái, rồi quay đầu chạy một mạch đến nhà ông thầy thuốc Ba Đồng.

Ở cái làng nhỏ này chỉ có mỗi ông Ba Đồng là thầy thuốc, nói nôm na như cái kiểu chó trong bầy gà, hổ trong bầy mèo. Ấy thế mà không thể khinh thường được với tay nghề của lão ta, mấy người thường bị bệnh hay bị thương đến tay lão đều được chữa khỏi, ngặt nỗi lão có một cái tật, cứ người đến tìm lão chữa bệnh phải có đủ ba đồng tiền lão mới chữa, hơn thì lão chữa nhiều, không đủ thì lão không chữa chi hết, bởi thế mọi người đều gọi lão là Ba Đồng, đến nay thì chẳng ai nhớ đến tên lão là gì nữa.

Thằng Ninh bước vào gian nhà trị bệnh của lão Ba Đồng, vừa đến cửa đã nghe mọi người đang bàn tán về việc kiểm tra của ông Xã trưởng, chẳng biết là có vụ gì, nó ngóng tai lên nghe, đoạn ngó nghiêng tìm lão thầy thuốc.

"Nay bọn lính canh kiểm gắt gao quá, chẳng biết mấy con "ma" kia có trốn nổi không."

"Tôi nghe nói trên tỉnh có một đoàn kiểm duyệt về, chắc là cái bọn cớm rởm muốn lập thành tích trên tỉnh nên mới kéo đến làng mình. Ai mà không biết cái làng này toàn "ma" chứ."

"Này, lão nhỏ tiếng thôi, để bọn người của ông Xã trưởng nghe thì có mà cầm tù lão..."

"Tôi mà còn sợ tụi nó à, lão Ba Đồng từng bị tụi nó bắt, chả phải cũng thả về đấy thôi."

"Lão Ba Đồng lần đó là do ăn may, chửa được cái bệnh khó ở của bà Xã trưởng, ông nói xem ông thì có tài gì nào."

"Ít ra thì tôi có cái thân già này, cùng lắm thì liều mình với bọn chúng thôi, ha ha..."

Tiếng bàn tán vào tai nó, chợt nhớ đến bọn lính canh ở đầu làng, nó đi nhanh đến chỗ ông Ba Đồng đang ngồi so thuốc, đặt lên trước mặt lão ba đồng tiền vừa bán cá khi nãy.

Lão Ba Đồng ngước mắt nhìn nó, đoạn cười: "Vậy mà còn sống à, mày cũng gan lì lắm thằng nhỏ."

Nó không thèm đếm xỉa đến lão, đoạn nói: "Lão cho tôi thêm thuốc, lần này độc chỉ dụng được với mấy con rắn hổ mang vừa, loại rắn lớn lại chẳng ăn thua gì, tối qua tôi làm xổng hết một con hổ mang chúa, chỉ đủ thảnh thơi có một tháng, lão nói xem có tức không?"

Lão Ba Đồng cười vang, đoạn lão bảo: "Mày cũng gan trời đấy thằng nhỏ, mấy vụ bắt rắn này tao chỉ nói sơ qua mấy lần mà mày đã dám đi bắt rồi, lỡ mà vuột tay để nó cắn, đến đấy thì đừng có trách lão không cảnh báo mày nhé."

Nó nhìn lão một lúc, cái điệu chẳng bỏ vào tai mấy lời dọa nạt này, nó gõ gõ lên bàn giục: "Lão lấy cho tôi thêm ít thuốc đi, độc mạnh hơn một tí, sẵn cho tôi thêm một thang trị cảm, mấy hôm rày trời lạnh ông ta nằm liệt ra đấy, tôi còn chưa muốn để tang ông ta đâu."

Lão Ba Đồng ngó ngó, đoạn giơ tay vỗ vào cái đầu húi cua của nó, lão vừa đi lấy thuốc vừa mắng: "Cái thằng quỷ nhỏ, mày học đâu cái thói trù cha mày thế kia, lão vừa định khen mày có hiếu thế không biết."

Nó cười xòa, mân mê cái đầu một lúc, đến khi chợt nhớ lại những lời bàn tán vừa rồi, nó chẳng cười nổi nữa, bần thần ra đấy, đợi lão Ba Đồng lấy thuốc xong liền hỏi: "Ông Ba Đồng, lần này bọn lính có bắt người thật không?"

Lão Ba Đồng liết xéo nói: "Bắt thì cũng thả ra thôi, đợi cái bọn trên tỉnh rút về thành phố thì bọn trên xã cũng không giữ người làm gì. Dù gì tụi nó với bọn buôn cũng chia bè kết lũ với nhau, thiếu đi mấy con "ma" như tía mày thì tụi nó cũng không làm ăn gì được."

Nó thở nhẹ một cái, đoạn cầm lấy mấy bao thuốc rồi lửng thững ra về, đến cửa còn nghe tiếng lão Ba Đồng nói với theo như mấy lần trước, lão nói: "Thế mày có chuẩn bị ba đồng cho mày chưa thằng quỷ nhỏ?"

Nó không thèm để ý, tay xách nách mang đi về nhà, trời vừa hửng nắng, mấy cô chú làm đồng đã nối đuôi nhau ra ruộng, đến một cái đìa lớn, nó ngoặt lên một khúc mương, đoạn gọi với vào trong nhà: "Tôi về rồi!"

Chẳng nghe thấy tiếng đáp lời, nó nhớ lại chuyện bọn lính canh, vội vàng chạy một mạch vào nhà, nói là cái nhà lại chỉ như cái chòi lá, ngoại trừ cái giường gỗ sát vách và cái bàn kê đỡ ở một bên góc thì bốn mặt đều trống không, chẳng có nhiều đồ dùng dư thừa nào. Khi nó vào liền trông thấy tía nó đang nằm co lại một góc giường, nó liền thở phào, may mà chưa bị bắt.

Lại gần thấy lão rên hừ hừ, liền biết là lão lại lên cơn, nó lấy gói "hàng" được bọc kĩ càng trong túi ra, trút vào giấy gói một lượng nhỏ rồi đưa cho lão, lão tía vội vàng đón lấy như kẻ chết đói gặp được đồ ăn, lão ra sức hít vào cái thứ "hàng" độc địa ấy. Nó bần thần nhìn lão ta từ một người sống dở chết dở dần dần khôi phục lại thần trí, nó mím chặt môi rồi không nhìn lão nữa.

Hận lão không? Hận, nếu nói không thì đúng là dối trá. Nhưng lão không bỏ đi, ừ, ít nhất lão đã không bỏ nó đi như cách má nó từng làm.

Nó ra đến sân, lấy cái lon gạo đem đi nấu cháo, làm sạch con cá còn lại rồi kho tàu và luộc mớ rau, đợi khi nó dọn đồ ăn lên thì tía nó đã tỉnh táo ngồi ở bên bàn, nó không thèm nhìn lão mà và lấy và để bát cháo nóng.

Lão tía nhìn nó, rồi lão nhắc: "Ăn từ từ thôi Ninh, kéo phổng bây giờ."

Nó vẫn không để ý đến lão, ăn xong bát cháo nó liền nằm vật ra giường, cả đêm nó đã không ngủ, lại tốn sức vờn nhau với bọn hổ mang, giờ nó thấy toàn thân đều mỏi mệt, chỉ muốn ngủ một giấc. Lão tía nhìn nó, thở dài thật sâu, đoạn lão lấy cái chăn đắp ngang người nó rồi dọn lại bát đĩa, hôm nay lão còn phải ra ruộng.

Đợi khi tía rời khỏi nhà, nó mở trừng mắt ra, ánh mắt vô hồn trông lên mái nhà lá cũ kĩ, rồi nó khẽ cười. Ít ra có lão còn biết gọi tên Ninh.

...

Nó chèo xuồng đi ra một khúc sông, đang mùa nước lên nên bông súng trổ đầy, nó vừa hái bông súng vừa ngó lại cây cầu bắt ngang sông, chợt nó trông thấy một người đàn bà, khuôn mặt bà mờ ảo, nhưng cái dáng kia sao lại giống má nó quá, nó bỏ xuồng lội nước ngược đến gần cây cầu, nhưng chưa kịp trông rõ thì bóng dáng người đàn bà đã nhảy xuống... nó bần thần rồi lớn tiếng gào lên.

"Má!"

"Ninh, dậy đi, sao vậy?"

Nó nghe tiếng gọi dồn dập của lão tía, đoạn nó mở choàng mắt, hóa ra là mơ.

"Gặp má mày à?" Lão tía trông nó, khuôn mặt đã có vài nếp nhăn toát lên vẻ bối rối.

Nó ngó lão, rồi đáp lửng: "Ừ."

Lão nhìn nó kiểu muốn nói lại thôi, rồi quay ra đi nấu cơm. Nó trông theo bóng dáng lão rời đi, rồi chợt co ro người lại ôm gối, đầu nó vùi sâu vào chân.

Má nó chết, bị lão ép mà chết. Thế mà nó chẳng thể hận lão. Thật đáng buồn cười.

...

"Này, nghe nói mấy ngày trước bọn lính canh lại bắt thêm vài con "ma" ở đầu chợ đấy."

"Tôi có nghe nói, tại mấy thằng đó cứ quanh quẩn ở chỗ thằng buôn rắn kiếm "hàng", bọn nó đã câu kết từ trước, cứ thấy bóng dáng là bị bọn lính tóm gọn."

"Thế mà tía thằng nhóc kia chưa bị bắt nhỉ, tôi nghe nói hôm trước lão ta lại lên cơn nghiện, đập phá muốn nát căn chòi đấy rồi."

"Thế à, thẳng quỷ nhỏ kia nghe nói bắt rắn hay lắm mà, sao không đi đổi lấy "hàng" cho tía nó?"

"Không nghe tôi nói à, lão hàng rắn đã kết bè với bọn lính canh rồi, khéo nó mà ra lại bị bắt cả lũ, tôi nói thà bị bắt để đi cai, biết đâu còn ổn, chứ kiểu lên cơn thế kia thì thật đáng sợ."

"Cái nhà đó có ai dám lại gần đâu..."

Tiếng bàn tán của mọi người rộn khắp cả đồng, nó vừa nghe vào tai vừa cắt mớ cỏ cho trâu ăn, mấy tháng trước nó nhận chăn trâu cho một thôn hộ, hiếm có người nào chịu nhận nó làm việc như thế. Nhưng công việc này vẫn không đủ để mua một thang "thuốc" cho lão. Thời gian tía nó lên cơn nghiện ngày càng nhiều, mỗi lần như thế nó đều trốn ra ruộng ngồi, đợi lão qua cơn rồi lại về, nó không muốn trông thấy bộ dạng thê thảm của lão. Hai tháng nay vì chuyện của bọn lính Xã trưởng mà nó vẫn không dám đi bắt rắn thêm lần nào, thêm nữa lão mua rắn kia không chịu lấy rắn hổ mang nữa, lão bảo muốn loại quý hơn, nó thầm mắng lão thừa nước đục thả câu cả trăm lần.

Chiều tàn, nó lùa đàn trâu về chuồng chủ hộ, nhận được ba đồng, nó liền chạy đến chỗ lão Ba Đồng, vừa kịp lúc lão đang dọn quầy thuốc.

"Ôi, thằng nhỏ, giờ này mày còn chạy ra đây làm gì thế?" Lão Ba Đồng đang xếp thuốc, vừa trông thấy nó liền hỏi.

Do chạy nhanh nên giờ nó cứ chống chân thở gấp, nói thì thào: "Ông Ba Đồng, dạy tôi bắt được rắn cạp nong đi."

"Nhóc đùa à, tưởng bắt rắn cạp nong dễ lắm hả con, không khéo bị nó cắn một phát là toi mạng nhé, ba mươi đồng cũng không cứu được mày đâu."

"Lão cứ chỉ, tôi cũng không nói sẽ đi bắt ngay." Nó nói với giọng bất cần.

"Tía mày lên cơn dữ quá hả? Thôi được rồi, mày vào đây, lão dạy mày."

...

Vừa về đến trước sân, nó nghe thấy tiếng vật nặng rơi xuống đất, tiếng phát ra có thể là chiếc nồi đất hay một cái xoong nào đó, nó đã quen gặp cảnh tượng này nên chẳng buồn để tâm nữa, nó lại cái lu nước ngoài sân, múc một gáo nước xối từ trên đầu xuống, đoạn nó cởi phăng chiếc áo đã sờn vải rồi cứ thế đi thẳng ra đồng, nó không muốn nhìn bộ dáng thê thảm lúc này của tía nó. Nó thầm nghĩ, nó vẫn thích bộ dáng lúc lão ta tỉnh táo, gọi tên nó, Ninh.

Cái tên này là do ông thầy đồ ở đầu làng đặt cho nó, má nó lúc mới sinh nó ra thì rất yếu ớt, bà đỡ nói phải kiếm cái tên mang lại cát lợi thì mới mong qua khỏi. Tía nó nghe vậy liền lên rừng, bắt về vài con thỏ, đem đến nhà ông thầy đồ ở đầu làng nhờ đặt giúp cho một cái tên. Tía má nó đều là dân đen, một chữ bẻ đôi cũng không biết, chả hiểu phải đặt tên như thế nào cho cát lợi, cả làng chỉ có ông thầy đồ biết chữ, nhờ ông ấy đặt giúp cũng là lẽ thường. Lão thầy đồ nghe tía nó kể, thế là lão đề bút viết một câu.

Tang loạn kí bình, kí an thả ninh.

Ninh, là an ninh, là yên ổn.

Ấy thế mà, cuộc đời nó từ nhỏ đến lớn có bao giờ yên ổn đâu.

...

Nó sửa soạn chút dụng cụ vẫn thường dùng để bắt rắn, cầm theo một gói thuốc được bọc kĩ càng nhét vào trong túi áo, là phương thuốc hiếm dùng để dụ rắn cạp nong của lão Ba Đồng, mới đầu lão nói thuốc này hiếm, ba đồng cũng không bán, bị nó cứ trực suốt trước quầy thuốc mấy ngày, lúc đem cá lúc đem rau, cuối cùng lão cũng chào thua mà chia cho nó một ít, còn bảo nó có bị rắn cắn chết cũng đừng đổ thừa lão.

"Ninh, lại đi đâu đấy." Tía nó từ trong buồng bước ra, thấy nó chuẩn bị đồ liền hỏi.

Nó lơ đãng đáp: "Đi bắt rắn."

Lão tía nhìn nó, chẳng hiểu gì mà lão bảo: "Tía đi với mày."

Nó ngạc nhiên nhìn lão, ngó ngó bộ dạng lão một chút rồi nó nói với giọng khinh khỉnh: "Ông đi theo thì có mà rắn chạy hết. Ai da..."

Lão tía phát vào đầu nó một phát, rồi lão vào trong vác ra cái lưỡi mác dài, không đợi nó nói đã kéo nó đi.

Nó trông lão hôm nay lạ lắm, có bao giờ lão đòi đi với nó đâu, hay lão biết hôm nay nó đi bắt rắn cạp nong mới thế? Rồi nó tự cười, lão mà cũng có lúc quan tâm đến nó à.

Hai người vào sâu trong rừng, chiếc đèn trên đầu nó bỗng nhấp nháy rồi tắt hẳn, thế mà bị hư vào lúc này, nó tức chửi đổng một tiếng, lão tía liền phát vào đầu nó thêm một cái, bảo nó học đâu ra cái thói chửi thề. Nó nhìn lão gườm gườm, cố nuốt hai từ "học ông" vào bụng.

Đến một đoạn suối, nó dựa theo lời dạy của lão Ba Đồng, tìm cái hang ở gần gốc cây, trước hang cạp nong lớn sẽ có nhiều vụn vỏ, cạp nong không thường thay da, thi thoảng chỉ vừa vào khoảng thời gian này nó mới nhịn ăn, sáng phơi nắng, tối nó sẽ bò ra gần hang để lột vỏ, loại cạp nong đen vàng này rất hiếm, phải có cách dụ nó mới xuất hiện.

Nó đến gần một hang ở cạnh gốc xoài gỗ, lấy ra một ít thuốc rắc trước miệng hang. Chuẩn bị xong hết thảy, nó kéo lão tía vào trong một bụi rậm, ra dấu bảo lão im lặng rồi cầm chặt cây kẹp nứa, tay kia nó cầm cái nơm chuẩn bị bắt rắn khi rắn vừa ló đầu ra. Bởi lão Ba Đồng đã nói, loài rắn này rất cảnh giác, chỉ cần chậm một giây nó sẽ rúc sâu lại vào hang, thuốc nào cũng không dụ nó ra được nữa.

Thời gian cứ từng phút trôi qua, đợi khi nó nghe được tiếng sột xoạt, tiếng rắn di chuyển, trong đêm yên tĩnh nên nghe thấy rất rõ ràng, còn chưa kịp đợi nó hành động, chợt thấy người nhẹ hẫng, trên tay trống không, chờ nó lấy lại tinh thần thì lão tía nó đã xông lên trước cầm lấy cây kẹp nứa chế trụ lại đầu con rắn, nó bần thần giây lát rồi chợt la lên:

"Tía ơi, tránh ra chỗ đó mau..."

Nó quát đến khàn giọng, nó ngồi dậy rồi chạy nhanh đến, hang đấy có rất nhiều rắn, lão Ba Đồng đã nói rắn cạp nong luôn sống theo bầy, lúc chặn được con đầu đàn phải gộp nơm lại nếu không thì những con khác sẽ tấn công, mà lúc này cái nơm vẫn còn nằm trong tay nó...

...

Tiếng rao bán ở đầu chợ vào buổi sớm tấp nập, đầu làng có vài ba bà cô vừa đi chợ sớm về, đến đầu làng thì chợt trông thấy một thằng nhóc mình mẩy máu me be bét, cõng trên lưng một người đàn ông. Thằng nhóc vừa lếch nhọc từng bước, trên mặt cát bụi bám đầy, đôi môi khô khốc, thế mà nó vẫn khó khăn mà lê từng bước đi về hướng chợ.

Đợi đến khi có người trông thấy thì định tiến lên giúp đỡ, đến khi nhận ra đó là tía con thằng Ninh thì chẳng ai dám đến gần nữa, cả cái làng này ai mà không biết tía nó là con nghiện, cứ lại gần thì thể nào cũng bị lây. Cả một đoạn đường, người bu lại xem ngày càng đông, nhưng chẳng có ai ra tay giúp đỡ.

Nó ngẩng đầu nhìn vào ánh mắt soi mói và bàn tay chỉ trỏ của họ, khẽ cười nhạt. Ánh mắt vô hồn, cố lê chân về hướng quầy thuốc của lão Ba Đồng.

"Cứu ông ấy..." Giọng nó đã khản đi, nó đặt tía nó trước cửa quầy, nó với lão Ba Đồng.

"Ba đồng, mày có ba đồng không?"

Nó dò tìm khắp người, không có. Rồi nó ngước mắt nhìn những người đang vây xem, ánh mắt họ lại lảng tránh, chẳng ai lên tiếng vào lúc này nữa. Nó ngước nhìn khuôn mặt vẫn chăm chú nhìn nó của lão Ba Đồng, nó cười nhạt rồi nói:

"Tôi đã bắt được ba con rắn cạp nong đen vàng, thế có đủ ba đồng không?"

Lão Ba Đồng thở dài thật sâu, nhìn nó rồi đáp: "Lão đã bảo với mày rồi đúng không, bị rắn cạp nong cắn, dù là ba mươi đồng lão cũng không thể cứu được."

Nó nuốt nước mắt vào trong, cố đáp: "Không phải rắn cắn, là mất máu."

Lão Ba Đồng sững người nhìn nó, lúc này mới quan sát kĩ lão tía nó đang nằm một bên, một cánh tay phải của ông ta đã đứt lìa, được một miếng vải to băng bó sơ qua, lão tiến lên xem xét, phần bị chặt kia được đắp lên một loại bột cầm máu mà lão đã từng bán cho thằng nhóc kia, thêm nữa có tác dụng cầm máu của rau tần, vừa hay có thể duy trì mạng của ông ta đến giờ.

Lão Ba Đồng cười khà khà nhìn thằng nhóc đã dần kiệt sức, thế mà đôi mắt nó vẫn cố mở to trân trân nhìn lão, lão nói: "Một con rắn cạp nong, lão chữa cho tía mày."

Nó mỉm cười, đoạn lịm đi mất.

...

Khi nó tỉnh lại đã là trưa ngày hôm sau, hoang mang một lúc nó mới nhận ra nó đang ở quầy thuốc của lão Ba Đồng, chợt nhớ đến tía nó, nó chạy vội ra quầy ngoài, liền đụng phải lão Ba Đồng đang bê thuốc vào.

Lão quát: "Chạy cái gì mà chạy, bệnh tình thế kia mà còn muốn đi đâu?"

Nó không thèm để ý đến lão, tìm kiếm khắp trong quầy cũng không tìm thấy tía nó đâu, nó vội hỏi: "Tía tôi đâu rồi?"

"Chết rồi."

Nó chết sững nhìn lão, đôi mắt trợn to đến mức muốn lọt đôi tròng ra ngoài. Nó chợt nhớ đến mấy năm trước, nó còn nhỏ, khi đấy nó cũng như lúc này, đứng trước mặt tía mà hỏi: "Má con đâu tía?". Lúc ấy lão cũng nhìn vào mắt nó rồi lạnh lùng bảo: "Chết rồi."

Nó không còn biết nói gì nữa, cổ họng cứ nghẹn ứ từng hồi, nước mắt cố kìm nén cuối cùng vẫn tuôn ra, nó ngồi xổm cuống đất rồi òa khóc tức tưởi. Giờ phút này nó mới giống với một đứa trẻ thật sự, không phải thằng quỷ nhỏ của thời gian trước, lúc nào cũng cười xởi lởi hoặc kiểu bất cần đời, khi đứng trước loài hung tợn như rắn, nó vẫn không thèm run sợ. Giờ nó khóc. Vì nó chợt nhận ra, trên đời này chỉ còn lại một mình nó, chỉ còn một mình nó thôi...

...

"Nghe nói bọn "ma" được thả ra rồi đấy, tôi đã nói rồi mà, bọn ấy chỉ ra vẻ thế thôi, đợi bọn người trên tỉnh về thì chẳng phải lại trả về như trước sao."

"Đúng rồi, tôi còn tưởng đợt này tụi nó giữ người luôn thì tốt rồi, cái làng này cũng bớt đi vài con nghiện. Ai da, chẳng biết bao giờ mới được yên bình đây."

"Ừ, nhớ cái vụ đầu chợ hôm trước mà đến giờ tôi còn rùng mình đây."

"Tôi chỉ thấy tội thằng nhỏ."

"Có gì mà tội, rồi nó cũng học theo tía nó thôi..."

Tiếng bàn tán vẫn vang vọng khắp ruộng đồng, thằng Ninh thẳng giò nằm trên ụ rơm trước cổng làng, miệng ngậm một cọng cỏ đuôi gà, mắt lim dim nhìn lên trời, cái nắng đầu hè vừa nóng vừa gắt khiến nó chẳng chợp mắt được, bỏ ngoài tai mấy lời bàn tán của họ, nó nghiêng đầu ngó về phía cổng làng, nó đang đợi chờ một bóng dáng quen thuộc...

Năm canh gió thổi, mười canh mẹ về

Canh chày cha hát, thức giấc đầu nôi

Gió ơi về đâu, bão giông còn đó

Thổi giấc mơ nào, mấy kiếp đời trôi...

Bạn có hạnh phúc với gia đình của mình chưa? Tôi chưa có. Ninh chưa có. Và có thể có rất nhiều người cũng chưa cảm nhận được hai chữ hạnh phúc từ gia đình mình.
Nhưng, tôi đã trưởng thành đủ để hiểu sự lo toan của ngoài xã hội đã cướp mất đi khá nhiều yêu thương chân thật.
Ninh cho dù là một đứa trẻ, cậu bé cũng chỉ khao khát tình thương từ gia đình của mình mà thôi, bất tri bất giác, cậu trưởng thành hơn ở cái lứa tuổi hãy còn thơ ngây này...
Và, gia đình thật sự là một cái nôi bảo vệ nhân cách của một đứa trẻ, nếu như gia đình không thể bảo bộc, những đứa trẻ như Ninh, chẳng biết sẽ tồn tại với những nhân cách thế nào...


Chuyện của người, 31/5/2018
 
Sửa lần cuối:
Tham gia
16/4/19
Bài viết
377
Điểm cảm xúc
543
Điểm
93
Trung Thu Kỉ Niệm
Tác giả: Lạc Mỹ Xuyên Thu
Thể loại: Truyện ngắn
***




Sài Gòn vào những ngày cuối thu, mưa rơi tầm tã, lắm lúc lại thoảng qua vài cơn gió, hơi lạnh như muốn thấm vào xương tủy của những người đi đường. Hôm nay tăng ca đến tối muộn, rời khỏi cơ quan đã hơn mười giờ đêm, tôi kéo chặt chiếc áo khoát mỏng trên người, chạy xe hướng về tổ ấm của mình.

Trời tối muộn, nhưng dòng xe trên đường lại càng lúc càng đông hơn, nếu là mọi hôm thì hẳn đã không đông như thế, khóe mắt khẽ nhìn thoáng qua những chiếc lồng đèn treo đầy trên các tiệm tạp hóa, chợt nhớ ra, hôm nay đã là đêm rằm trung thu rồi.

Chẳng biết nghĩ gì, tôi chuyển hướng xe chạy về hướng ngược lại, không vì gì khác, chỉ là bỗng nhiên muốn lang thang.

Trung thu...

Đã bao lâu rồi tôi không đón một ngày trung thu đúng nghĩa? Một năm, hai năm, hay là ba năm... hoặc có thể hơn thế, tôi cũng không nhớ rõ.

Từ năm mười tuổi đến hôm nay gần bước sang tuổi ba mươi, thời gian đằng đẵng, lâu đến mức từng dòng kí ức tựa như những mảnh ghép vụn, không cách nào hoàn thiện.

Từ lâu vốn đã quen rồi những lần như thế, chỉ là, giữa đêm đoàn viên thế này, tôi không muốn một mình lầm lũi trong căn phòng bé nhỏ của mình.

Đêm rằm tháng tám, nơi phố thị nhộn nhịp này lại đón trung thu bằng những ngọn đèn hoa đăng thay cho những chiếc lồng đèn bé nhỏ ở quê nhà...

***

"Ba ơi, ba dán kín một chút ở góc này đi... góc này nữa... sao chỗ này nó nhăn thế kia. Thế này thì chắc chắn sẽ không đoạt được giải lồng đèn ở trường đâu..."

"Rồi rồi, con đừng ồn nữa, ba đang dán này...". Ba tôi vừa cắm cúi trang trí cho chiếc lồng đèn sao năm cánh làm bằng tre nứa, vừa đưa tay khẽ xoa đầu trấn an tôi, cất giọng trầm ấm.

Tôi vẫn như cũ ngó đông ngó tây, chạy loay hoay chiếc lồng đèn cao gần đến đầu mình. Đây là năm đầu tiên tôi tham gia dự thi làm lồng đèn ở trường, cho nên tâm trạng luôn trong tình trạng vừa háo hức lại vừa nôn nóng không yên.

Mãi cho đến khi sắp đến giờ đem lồng đèn dự thi đến trường, ba tôi mới hoàn thành. Tôi lại gần ngắm nghía, chiếc lồng đèn sao năm cánh được bọc trong lớp giấy kính màu đỏ, những đường viền được trang trí bằng giấy màu vàng, ngoài lồng đèn là một vòng khung màu tròn được trang trí bằng những dây kim tuyến đầy màu sắc,... mười tuổi, đây là chiếc lồng đèn rước trung thu đầu tiên của tôi, chiếc đèn lồng đẹp nhất từ trước đến nay mà tôi nhìn thấy.

"Ba chắc là đúng kích thước mà cô giáo con nói không ạ..."

"Chắc mà..."

Vẫn là chiếc xe đạp cũ, ba đèo tôi chạy qua con đường đất đỏ, tôi ngồi ở yên sau, một tay cầm ôm ghì lấy lưng của ba, tay kia cầm chặt chiếc lồng đèn, trong lòng vừa háo hức vừa chờ mong.

Mãi cho đến khi ba cầm tay tôi dắt vào trường, đập vào mắt tôi là những chiếc đèn lồng đầy màu sắc, những kiểu dáng lạ lẫm và đẹp mắt cứ thế được treo đầy dọc theo các hành lang phòng học. Tôi tự tin nhìn chiếc đèn lồng do ba vất vả làm cho tôi được treo vào một nơi trên dãi lồng đèn đấy, cảm giác vui vẻ không gì bì được, tôi cầm chặt tay ba tôi, cất giọng đầy hào hứng: "Ba, đèn của mình chắc chắn sẽ đạt được giải nhất, ba ha?"

Ba kéo kéo tay tôi, cũng cười rồi đáp: "Ừm, chắc chắn đạt được giải nhất."

Tâm trạng vẫn luôn hồi hộp, ngay cả những phần bánh được cô giáo chia tôi cũng không thèm để tâm, chỉ mong ngóng nhìn các thầy cô giáo đang đi dọc hành lang chấm điểm cho những chiếc đèn dự thi, đợi chờ kết quả...

...

Vẫn là khung cảnh cũ, ba lại chở tôi về trên chiếc xe đạp cũ, đường phố lúc này đã sớm lên đèn, tiếng nhạc rước đèn ông sao vang lên từ các cửa hàng bách hóa, tôi thẩn thờ trông những chiếc đèn lồng xanh xanh đỏ đỏ treo dọc khắp phố phường. Lại nhìn chiếc đèn lồng trên tay...

"Con gái đừng khóc, năm nay không đạt giải thì năm sau, trung thu năm sau ba sẽ làm chiếc lồng đèn to thật to cho con, chắc chắn sẽ đạt được giải nhất...". Tiếng của ba hòa vào tiếng gió, hòa lẫn với hơi thở đứt quãng do đạp xe, tôi lại không nén được nước mắt mà khóc thút thít, rõ ràng chiếc đèn lồng của tôi đẹp như thế, vậy mà tại sao vẫn không đạt được giải chứ.

Mãi đến sau này tôi mới biết, chiếc lồng đèn năm đó sở dĩ không đạt giải là do ba tôi làm đèn lồng khá nhỏ so với kích thước mà cô giáo yêu cầu...

Đêm hôm đó về nhà tôi chẳng còn chút tinh thần để đi chơi cùng tụi bạn trong xóm, chỉ ngồi thẩn thờ trông chiếc đèn lồng được ba thắp nến rồi treo lên trước cửa nhà. Ánh nến trong đêm trung thu rộn ràng này lại có vẻ mờ nhạt đến lạ...

"Con không đi xem xe rước đèn ở đầu đường với các bạn sao? Sắp đến giờ xe chạy qua rồi đấy.". Chẳng biết ba đến bên cạnh tôi tự bao giờ, ông khẽ cười, đưa tay véo nhẹ cái mũi vẫn chun lên của tôi, cười nói: "Vẫn còn buồn à?"

Tôi phụng phịu lắc lắc đầu, buồn thiu nhìn ba, nhỏ giọng đáp: "Rõ ràng đèn của con đẹp như vậy mà..."

"Con gái, kết quả không phải lúc nào cũng là quan trọng nhất, quan trọng là quá trình chúng ta đã cố gắng như thế nào, và chúng ta đã nhận được những gì từ nó, hiểu không?" Thấy tôi nửa hiểu nửa không gật đầu, ông khẽ cười xoa đầu tôi rồi hỏi: "Vậy nói cho ba biết, trong quá trình chuẩn bị và cùng ba làm đèn lồng con có thấy vui không? Đây cũng là chiếc lồng đèn đầu tiên của con mà..."

Tôi khẽ gật đầu. Thế rồi ông cười và bảo: "Đấy, chỉ cần con thấy vui và ý nghĩa, thì kết quả sau cùng cũng đâu có gì quan trọng, đúng không?"

Tôi khẽ khàng nhìn ba, rất lâu, rồi lại chuyển mắt đến chiếc lồng đèn treo trước cửa. Bỗng nhiên hiểu ra được điều gì đó, mắt tôi lóe lên rồi khẽ cười với ba và nói: "Con muốn trung thu năm sau và năm sau nữa ba phải cùng con làm lồng đèn giống như năm nay!"

Ba tôi không nói gì, chỉ khẽ đưa cho tôi chiếc bánh trung thu nhân đậu, là phần bánh mà cô phát cho tôi lúc ở trường. Thật ra, trung thu năm nay tôi đã có phần thưởng tốt nhất rồi sao? Tôi khẽ nghĩ.

Tiếng ồn ào của bọn con nít trong xóm vang lên ở đầu ngõ - xe rước đèn tới rồi! Tôi vội vàng chuẩn bị chạy nhanh ra đầu đường, đi đến cửa lại bỗng nhiên chợt nhớ đến gì đó, lại quay vào chạy đến bên cạnh ba, hôn chụt một phát vào mặt ông rồi hớn hở chạy đi, chỉ nghe tiếng nói còn vọng lại nơi đầu ngõ.

"Hình như con đã nhận được phần thưởng xứng đáng nhất rồi. Cảm ơn món quà trung thu của ba..."

...

Đêm hôm đó vẫn như những đêm trung thu trước, đầu ngỏ chật nít người xem và xe cộ chạy trên đường, từng đám con nít tụm năm tụm ba reo hò vui sướng nhìn những chiếc xe rước những chiếc lồng đèn lớn nối đuôi nhau chạy trên đường, có kiểu dáng hình hoa sen lớn, có kiểu lồng đèn ông sao mười cánh được trang trí tinh xảo, lại có kiểu dáng hình con công đang xòe đuôi cao ngạo,... ánh sáng đèn trung thu leo lắt thắp sáng con đường đất nhỏ, thắp sáng cả những gương mặt tràn đầy niềm vui của mọi người...

Tôi ngẩng đầu trông thấy một chiếc xe chở một chiếc lồng đèn sao năm cánh đơn giản chạy ở cuối hàng, trông kiểu dáng chẳng khác gì chiếc đèn ba tôi làm cả, chỉ là nó to hơn mà thôi. Chẳng hiểu vì sao tôi lại cảm thấy vui vẻ đến lạ, xem đi, chiếc đèn của tôi vẫn đẹp nhất đấy thôi...

***

Nhìn những ngọn đèn hoa đăng, tôi thả trôi đi muộn phiền. Tôi chợt nhớ đến ngày còn nhỏ, có lần ba đèo tôi đi cả một quãng đường xa chỉ để cho tôi nhìn thấy những ngọn đèn hoa đăng sáng rực trên dòng sông Tiền bắt ngang con kênh đào ở trên trấn. Nhà cách đoạn sông ấy khá xa, phải chạy qua mấy con đường lớn, khi ấy tôi chỉ mới là một cô bé tám chín tuổi, cứ nằng nặc đòi ba cõng đi mua cho bằng được một chiếc đèn, chen qua dòng người tấp nập chỉ để tự tay thả trôi đi ngọn đèn ấy, lúc đó tôi chẳng bao giờ nghĩ đến ba tôi đã phải vất vả giữ tôi lại như thế nào, chỉ sợ tôi chồm người quá xa sẽ bị ngã. Ngày ấy tôi thấy ngọn đèn ấy là ngọn đèn đẹp nhất, đẹp nhất trong mắt của một đứa trẻ, hôm nay, trông thấy một dòng sông tràn ngập sắc đèn, tôi lại nhớ đến ngày xưa, chợt cảm thấy, hình ảnh đẹp nhất khi đó, chính là bóng dáng ba cõng tôi trên lưng, là bóng dáng ba đèo tôi đi cả một đoạn đường dài, là bàn tay ngày ấy luôn nắm chặt tay tôi, là khuôn mặt mỉm cười dịu dàng hiền hậu khi trông thấy tôi phấn khích reo hò.

Có rất nhiều thứ đã khiến tôi thay đổi, khiến tôi không còn là chính mình. Nhưng mãi mãi, có một nơi, tôi vẫn là chính mình. Ở nơi đó không có nhiều hoa mỹ, ở nơi đó từng chứa biết bao niềm vui xen lẫn nỗi buồn, ở nơi đó có tiếng mẹ bận rộn chuyện nhà, ở nơi đó có tiếng ba bận rộn kéo cưa làm chuồng, ở nơi đó có đám trẻ vẫn thường reo hò vào mỗi ban trưa. Nếu có một ngày quay ngược quá khứ, tôi không muốn thay đổi bất cứ điều gì, chỉ là mong muốn khoảnh khắc ấy kéo dài thêm một chút, chút thôi, và tôi sẽ lại trở về tôi của ngày hôm nay.

Có những thứ, dù biết là ảo mộng, nhưng vẫn khiến người khác luôn tâm niệm về nó. Âu cũng là do con người luôn muốn tìm thấy điều gì đó an ủi cho tâm hồn.


Ngày hôm nay con chỉ ước một điều, đó là cầu mong cho ba mẹ mãi luôn khỏe mạnh. Chỉ bấy nhiêu thôi, con đã cảm thấy đó là ước nguyện lớn nhất của con trên đời này.

Chẳng biết từ khi nào dòng người đã dần thưa thớt, tôi cũng không biết mình đã lang thang trên đường bao lâu, chỉ là bỗng chốc muốn về tổ ấm của mình, mặc dù nơi ấy không phải ngôi nhà ấm áp trong kí ức, không có chiếc đèn ông sao năm cánh, không có gia đình, nhưng mà, tôi lại cảm thấy, giữa dòng người tấp nập ở phố thị phồn hoa này, chỉ có nơi ấy là nơi thật sự thuộc về tôi mà thôi...

"Ba à, năm nay ba lại thất hứa rồi, chẳng có chiếc đèn trung thu nào như thế nữa..."

Gửi cho tôi của tuổi 30, tôi gần như đã nhìn thấy được một con người cô độc khác của mình ở những năm sau đó. Hoặc có thể, tôi đang ước mơ về một đoạn đường khác... không phải nơi này.

11/12/2018, Sài Gòn mưa
 
Top