Những nhà phát minh

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
Để có được cuộc sống đầy đủ, tiện nghi như ngày nay, chúng ta không thể quên những đóng góp to lớn của Các nhà phát mình, chính là là nhân tố quan trọng góp phần tô đẹp cuộc sống này.

1. Thomas Edison

Edison và hơn 10.000 lần thất bại để mang lại ánh sáng cho nhân loại

Từ đứa trẻ bị đuổi học vì "đần độn", Thomas Edison đã trở thành thiên tài thế kỷ nhờ được mẹ dạy dỗ và niềm đam mê khám phá của bản thân.

Thomas Alva Edison (1847-1931) được coi là một trong số ít nhà phát minh giàu ý tưởng nhất lịch sử. Ông là tác giả của nhiều thiết bị có ảnh hưởng lớn tới thế giới hiện đại như bóng đèn dây tóc, máy quay đĩa, máy điện báo.
Cậu bé ốm yếu với những câu hỏi ngớ ngẩn

Theo sách Kể chuyện tấm gương hiếu học, Edison là con thứ 7 trong gia đình bình thường. Ngay từ nhỏ, Edison thường xuyên bị ốm.
Sức khỏe không tốt nên hồi tiểu học, Edison thường xuyên đến lớp muộn, không tập trung học, không chịu trả lời những câu hỏi của thầy cô. Thay vào đó, cậu bé liên tục đặt ra những câu hỏi "Tại sao?", "Thế nào?".

Không chịu nổi cá tính khác thường của Edison, có lần, thầy giáo gọi cha mẹ ông đến trường và phàn nàn rằng: "Edison không chịu học hành, chỉ toàn làm phiền người khác bằng những câu hỏi không đâu. Hôm qua, cậu ta còn hỏi: Tại sao 2 cộng 2 lại bằng 4? 2 cộng 2 thì đương nhiên là bằng 4, lại còn hỏi vớ vẩn gì nữa. Cậu ta chỉ làm ảnh hưởng xấu đến các bạn khác mà thôi!".


Edison va hon 10.000 lan that bai de mang lai anh sang cho nhan loai hinh anh 1
Thomas Edison - người mang ánh sáng đến cho nhân loại. Ảnh: Getty.

Chính bởi những câu hỏi "chẳng đâu vào đâu", cậu bé Edison thường bị xếp hạng "đội sổ", bị các bạn trong lớp chế giễu là đần độn. Edison luôn được bố trí chỗ ngồi cạnh bàn giáo viên, nơi dành cho những đứa trẻ học yếu nhất lớp.
Tuy nhiên, ngoài giờ học ở lớp, lúc ở nhà, Edison cũng tỏ ra là cậu bé thích tìm tòi, suy nghĩ, quan sát, đặt ra những câu hỏi nhiều lúc người lớn không biết trả lời thế nào.
Edison cũng nổi tiếng là cậu bé hiếu kỳ. Cậu để ý thấy rất nhiều điều mới lạ, bí ẩn của thế giới xung quanh và luôn tự mình tìm cách để khám phá những bí mật ẩn chứa trong đó.
Sách Kể chuyện tấm gương hiếu học viết rằng: "Một lần, Edison thấy tổ ong trên hàng rào nhà mình. Tò mò muốn biết trong tổ ong có những gì, Edison liền lấy cây gỗ chọc mạnh vào tổ ong. Kết quả là ông bị cắn cho một trận sưng húp mặt mũi. Lần khác đọc sách về núi lửa, vì muốn trông thấy ngọn lửa lúc cháy rực sẽ thế nào, Edison lén đốt sạch kho thóc của nhà hàng xóm. Sau khi hàng xóm tố cáo với cha mẹ, Edison bị đánh tơi bời".
Dù gặp phải sự cố ngoài ý muốn như vậy, Edison vẫn không từ bỏ sở thích tìm tòi, khám phá của mình. Trong khi bạn bè cùng trang lứa miệt mài với những trò chơi của tuổi học trò, Edison vùi mình vào khám phá để tìm hiểu mọi sự vật, hiện tượng xung quanh.

Hơn 10.000 lần thí nghiệm để phát minh bóng đèn

Do kết quả học tập ở trường không tốt, Edison đã sớm bị đuổi học chỉ sau thời gian ngắn đến trường. Dù rất đau khổ, gia đình Edison đành phải chấp nhận.
Có mẹ là giáo viên, Edison được dạy học riêng ở nhà. Bà thường hướng dẫn, khuyến khích con trai làm một số thực nghiệm đơn giản giống như trong những cuốn sách bà thường đưa cho Edison đọc.
Một lần, mẹ mua cho Edison cuốn sách Nhập môn khoa học thực nghiệm và khoa học tự nhiên, cậu bé lập tức bị cuốn hút bởi phần khoa học thực nghiệm trình bày trong đó. Edison ay sưa nghiên cứu những điều viết trong cuốn sách và dành thời gian làm những thí nghiệm nhỏ.
Edison đã biến căn phòng hầm của gia đình thành phòng thí nghiệm nhỏ với rất nhiều dụng cụ như dây đồng, dây sắt, que thủy tinh, ống nhựa… Đây chính là nơi Edison đã làm những thí nghiệm đầu tiên về điện và hóa học.


Edison va hon 10.000 lan that bai de mang lai anh sang cho nhan loai hinh anh 2
Bên trong bảo tàng trưng bày phát minh về điện của Edison ở Florida. Ảnh: Getty.


Trong cuộc đời nghiên cứu khoa học của Edison, phát minh vĩ đại và nổi tiếng nhất của ông chính là bóng đèn dây tóc, mang lại ánh sáng cho nhân loại.
Để biến điện năng thành ánh sáng, Edison đã làm hàng nghìn thí nghiệm nhằm tìm ra vật liệu thích hợp làm dây tóc bóng đèn. Khi liên tục gặp thất bại, bị công kích là "người hoang tưởng", "quân lừa bịp", Edison vẫn không nản chí. Ông vẫn trung thành với khát vọng của bản thân.
Thomas Edison đã thất bại hơn 10.000 lần trước khi phát minh ra bóng đèn, nhưng ông không bao giờ gọi đó là thất bại, mà xem đó như những cơ hội để học hỏi.
Ông từng nói rằng: "Rất nhiều thất bại trong cuộc sống đều do người ta không nhận ra rằng họ đã gần với sự thành công tới chừng nào và họ chấp nhận từ bỏ công việc của mình".
Sau hàng nghìn lần thất bại, cho đến một ngày, Edison tình cờ sờ vào cái nút tòn ten ở trên khuy áo khoác rồi thốt lên: "Đây rồi! đây chính là cái mà ta sẽ dùng làm dây tóc!".
Tiếp theo, ông cho cái sợi chỉ vào một cái khuôn niken, nung trong lò lửa suốt 5 giờ đồng hồ để sợi chỉ biến thành than. Sau khi để nguội, ông lấy sợi chỉ ra, cho vào một vật chứa bằng thủy tinh đã được tạo chân không ở bên trong, để sợi chỉ không bị đốt cháy rồi cho dòng điện đi qua.
Edison hồi hộp, băn khoăn, không biết dòng điện sẽ chạy được trong bao lâu? Nhưng kết quả thật mỹ mãn, sợi dây tóc sáng liên tục được tới 45 tiếng. Giống như thí nghiệm của mình, mặt Edison cũng sáng lên vì sung sướng.
Nhờ sự nỗ lực không ngừng nghỉ, nhân loại đã có được ánh sáng của đèn điện như ngày hôm nay. Về sau, cùng các cộng sự của mình, Edison còn tạo tạo ra nhiều thiết bị để cải tiến và cách tân công nghệ.
Từ cậu bé sớm phải rời ghế nhà trường vì bị nghi ngờ đần độn đến trở thành nhà phát minh vĩ đại, nhà sáng chế hàng đầu của nhân loại, Edison đã chứng minh rằng "thiên tài không tự sản sinh ra".
Tính tò mò, sự hiếu kỳ, sở thích khám phá để giải đáp những điều xung quanh đã giúp Edison biến ý tưởng có phần không tưởng của ông thành hiện thực để giúp ích cho nhân loại.

Nguồn:Zing.vn
 

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
2. Nikola Tesla

Nikola Tesla - kẻ điên rồ vĩ đại là một nhà khoa học nối tiếng với các ý tưởng khó tin, điên rồ khiến giới khoa học xa lánh và cho rằng ông bị điên. Nhưng chính ông là nhà phát minh, nhà khoa học vĩ đại góp công lớn trong sự phát triển của nền công nghiệp, xã hội ngày nay.


Nhà khoa học Nikola Tesla



Nikola Tesla là một nhà phát minh, nhà vật lý, kỹ sư cơ khí và kỹ sư điện tử được biết đến với nhiều đóng góp mang tính cách mạng trong các lĩnh vực điện và từ trường trong cuối thế kỷ 19 đầu thế kỉ 20.


Dưới đây là những ý tưởng điên rồ, không thực tế nổi tiếng khiến người ta gán cho ông biệt danh "bác học điên".

1. Khai thác tia vũ trụ

Khai thác tia vũ trụ



Tesla từng nghĩ đến ý tưởng khai thác nguồn năng lượng miễn phí đến từ những hạt nguyên tử, các loài tia đầy rẫy trong vũ trụ. Đây là ý tưởng bị coi là khoa học giả tưởng với hầu hết các nhà nghiên cứu vì nó không thực tế.


Những Tesla lại tin rằng có thể thiết kế một chiếc máy khả thi để khai thác nguồn năng lượng này và chấm dứt vấn đề khan hiếm từ Trái Đất.


Các hạt vũ trụ siêu nhỏ này liên tục rơi xuống mặt đất với tốc độ nhanh hơn ánh sáng và ông nghĩ có thể "bắt" được chúng để chuyển đổi thành năng lượng sử dụng được. Rất tiếc, phát minh của ông chưa từng được sản xuất.

2. Điện cảm ứng

Điện cảm ứng



Tesla mơ ước một thế giới không tồn tại dây điện phức tạp. Ông đề xuất một hệ thống điện không dây bao gồm một tháp truyền điện và năng lượng không dây đến mọi ngõ ngách trên hành tinh. Ông đã chứng minh ý tưởng này qua thí nghiệm về sự truyền dẫn cảm ứng để đốt sáng một cái bóng đèn ở khoảng cách ngắn.


Ông bắt tay xây dựng tháp Wardenclyffe ở New York nhưng sau đó bị rút nguồn tài trợ của JP Morgan vì họ phát hiện ý đồ thật sự của ông chứ không phải xây dựng tháp viễn thông. Đây là bước cuối cùng trong hệ thống điện không dây của Tesla và được kết hợp với phát minh máy thu năng lượng vũ trụ. Nếu thành công, thế giới sẽ được sử dụng điện miễn phí và không giới hạn chỉ bằng một cái ăng-ten.


Phát minh của Tesla bị chính phủ phản đối kịch liệt vì nó không thu được lợi nhuận. Tuy nhiên, mới đây các nhà khoa học đã thắp sáng được bóng đèn bằng điện không dây ở khoảng cách 7 mét.

3. Đốt lạnh

Đốt lạnh



Phát minh này hy vọng sẽ thay thế được xà phòng và nước trong sinh hoạt. Tesla muốn thay thế điện với nước vì điện là kẻ thù lớn nhất của vi trùng.


Sự đốt lạnh nghĩa là đốt cháy nhưng không gây bỏng, người ta sẽ đứng trên một tấm kim loại và được phủ trong nguồn điện luân phiên đến 2,5 triệu volt giống như một ngọn lửa trùm lên cơ thể.


Phương pháp này hiệu quả vì da người có tính dẫn điện. Nó còn có tác dụng chữa bệnh vì nguồn điện mạnh có thể sinh ra lượng lớn khí ozon khử trùng có lợi cho sức khỏe.


Vấn đề chi phí và an toàn cho người sử dụng đã biến ý tưởng "đốt lạnh" thành mơ hồ.

4. Teslascope

Teslascope



Nỗ lực lớn nhất mà Nikola Tesla luôn cố gắng là tạo ra thiết bị giao tiếp với người ngoài hành tinh.


Ông tuyên bố có thể giao tiếp với những nền văn minh xa xôi bằng Teslascope nhưng chưa có ai xác minh những gì ông nói.


Ông đã nghe thấy nhiều âm thanh khác nhau không giống bất cứ thứ gì từng biết và những tiếng click tương tự bộ mã Morse.


Sử dụng chiếc kính Teslascope của mình, ông hy vọng chứng minh sự tồn tại của sự sống trên sao Hỏa.

5. Máy phát tia chết chóc

Máy phát tia chết chóc



Đây là phát minh nguy hiểm của Tesla trong nỗ lực chống lại chiến tranh. Death Ray - Tia chết chóc làm việc như một máy gia tốc hạt có khả năng bắn một chùm tia năng lượng cao tới khoảng cách 250 dặm để làm tan chảy mọi động cơ và máy bay chiến đấu.


Tesla đã đề xuất ý tưởng cho JP Morgan để xin tài trợ và khẳng định với dòng năng lượng 80 triệu volt, chùm tia có thể xuyên thủng bất cứ vật liệu gì.


Lập luận của ông khá thuyết phục nhưng chính phủ Anh và Mỹ đều từ chối. Nước Nga đã ủng hộ Tesla và cho chạy thử nghiệm phát minh này. Nhiều nhà lý thuyết âm mưu cho rằng chính hoạt động chế tạo này đã gây ra vụ nổ Tunguska (30/7/1908).



6. Điều khiển thời tiết

Điều khiển thời tiết



Một trong những thách thức lớn nhất của con người là khả năng kiểm soát thời tiết. Tesla nghĩ rằng ông có thể làm cho đất đai màu mỡ nhờ sử dụng sóng vô tuyến điện để thay đổi từ trường Trái Đất trong tầng điện ly của khí quyển, hình thành các sóng khí quyển cực mạnh điều khiển thời tiết.


Một lần nữa, thuyết âm mưu cho rằng phát minh của ông đã rơi vào tay kẻ xấu và đang được chúng sử dụng để thống trị nhân loại. Bằng chứng là sự thay đổi khí hậu, thời tiết cực đoan ngày một nhiều hiện nay.

7. Súng tia X

Súng tia X



Việc phát hiện ra tia X của William Roentgen thu hút giới khoa học, đặc biệt là Tesla. Ông mở rộng phát mình thành một khẩu sung bắn tia X - quang, lợi hại cùng với Mark Twain - họ trở thành đôi bạn thân sau khi Tesla chữa khỏi bệnh táo bón cho đại thi hào này.


Sử dụng khẩu súng này, 2 ông có thể nhìn xuyên thấu bất cứ vật gì mà chùm tia đi qua ở khoảng cách 12 mét. Sáng chế tưởng chừng bị lãng quên giờ lại trở thành một ứng dụng không thể thiếu trong y học ngày nay.

8. Dòng điện xoay chiều

Dòng điện xoay chiều



Nikola Tesla bắt đầu hợp tác với Thomas Edison năm 1882 khi ông chuyển tới Paris làm việc cho công ty Continetal Edison. Đây là thời gian đầu khi Tesla được giới khoa học công nhận tài năng. Edison đã gợi ý trả 50.000 đô cho Tesla để sửa chữa chiếc máy phát điện của mình mặc dù sau đó không thấy ông trả khoản tiền đó cho cộng sự.


Điều này buộc Tesla tách riêng và lập công ty, nơi ông phát triển loại điện mới gọi là dòng điện xoay chiều có khả năng truyền tải khoảng cách xa và tiết kiệm. Edison đã rất tức giận và kêu gọi mọi người biểu tình, thậm chí dọa đốt nhà xưởng.


Tesla đã chứng minh dòng điện của mình đủ thắp sáng bóng đèn mà không gặp bất cứ nguy hiểm nào ở triển lãm năm 1893.

9. Thắp sáng thế giới

Thắp sáng thế giới



Một lần nữa, Tesla muốn cho cả thế giới thấy tài năng của mình bằng sáng chế ra loại hạt khí loãng nhạy cảm với năng lượng để phát sáng cho cả hành tinh. Ông lên kế hoạch sử dụng một loại tia cực mạnh như tia cực tím bắn vào các hạt này để chúng phát sáng như hiện tượng cực quang. Ông khiến người ta cho rằng nếu thành công, con tàu Titanic sẽ chẳng bao giờ chìm xuống mãi mãi.

10. Máy giao động của Tesla

Máy giao động của Tesla



Tất cả vạn vật đều tạo từ nguyên tử và mỗi nguyên tử lại rung động ở tần số khác nhau. Nếu gặp phải tần số phù hợp thì sẽ cộng hưởng thành tần số rung có biên độ cao hơn. Gần giống như hiện tượng chiếc cầu treo rung lắc theo nhịp của một cơn gió nhẹ cũng đủ để nó sập.


Dựa vào lý thuyết ấy, Tesla phát minh chiếc máy phá hủy bỏ túi tạo ra những tần số rung khác nhau. Ông kể lại là khi bật chiếc máy đó lần đầu tiên, một tiếng động lạ vang lên và những vết nứt đầu tiên xuất hiện. Mọi thứ rung lên bần bật cho tới khi cảnh sát ập tới đạp vỡ cái máy trước khi tòa nhà sụp đổ.


Khi được hỏi về cách cái máy có thể phá hủy được tòa nhà Empire State không. Tesla trả lời rằng chỉ cần có đủ thời gian tìm ra tần số phù hợp, chiếc máy sẽ truyền một lượng lớn năng lượng cơ học để phá hủy bất cứ thứ gì.


Phát minh của ông được nhiều người ủng hộ vì chứa một sức mạnh to lớn trong chữa bệnh nếu nó tìm đúng tần số rung của khối u, của căn bệnh trong cơ thể để phá hủy hoàn toàn mà không ảnh hưởng đến những bộ phận khác.
 

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
3. Alexander Graham Bell

Alexander Graham Bell và đường dây điện thoại đầu tiên trên thế giới


ANTĐ Phát minh điện thoại của Alexander Graham Bell đã khơi nguồn cho một cuộc cách mạng viễn thông thay đổi thế giới.

Trước đó, công nghệ hiện đại nhất chính là bảng mã điện báo Morse. Từ niềm đam mê công việc dạy cho người khiếm thính và sự am hiểu bảng mã Morse, Alex đã phát minh ra ‘máy điện báo âm thanh’ và sau này đổi tên thành ‘điện thoại’.

Gia đình nhà Bell

Alexander Graham Bell sinh ngày 3-3-1847 tại Edinburgh, Scotland. Cha của ông là Alexander Melville Bell và mẹ là Eliza Grace Symonds Bell. Cậu bé Aleck là con thứ hai trong gia đình và tên của cậu được đặt theo tên ông nội và bố theo truyền thống thời đó. Không may là hai người anh em của Alex đều mất vì dịch viêm phổi làm cho hàng loạt trẻ em chết yểu vào thời đó.

Edinburgh, thủ đô của Scotland thời đó được mệnh danh là “Athen phương Bắc” vì đây là một thành phố của văn hóa, giáo dục và học tập. Sống trong không gian đó, cậu bé Aleck bắt đầu hình thành niềm đam mê khám phá khoa học và nghệ thuật. Aleck cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ ông mình- một giáo sư khả kính dạy môn diễn thuyết trước công chúng.

ảnh 1

Alexander Graham Bell

Mẹ của ông là một người khiếm thính nhưng bà vẫn là một nhạc công dương cầm rất thành công. Chính Alexander đã lấy người mẹ của mình làm động lực vượt qua khó khăn cũng như tìm ra phương thức chữa bệnh khiếm thính cho mẹ bằng cách phát minh ra điện thoại.

Alexander Graham Bell không đi học mà được mẹ dạy dỗ tại nhà. Họ cùng nhau khám phá và tìm tòi bất cứ điều gì hấp dẫn họ. Vì thế, từ nhỏ cậu bé Aleck đã có kiên thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực cũng như niềm đam mê tìm hiểu thế giới không ngừng. Sau này, ông có đi học trường tư trong vòng 1 năm để chuẩn bị cho khóa học chính quy hai năm tại trường trung học hoàng gia.

Năm 12 tuổi khi đang theo học tại trường hoàng gia, ông có phá minh đầu tiên. Khi đó Alex và một người bạn đang quan sát hoạt động của một nhà máy xay bột và ông nhận thấy quá trình tách trấu khỏi bột rất khó khăn. Alex đã phát triển thành công một hệ thống các mái chèo và đinh ốc hoạt động tự động để tách trấu một cách hiệu quả.


Nghiên cứu về sự truyền âm

Năm 16 tuổi, Alex bắt đầu những nghiên cứu đầu tiên về "cơ chế truyền âm". Ông cũng có được một vị trí giảng viên tại học viện Weston với môn âm nhạc và nghệ thuật diễn thuyết.

Ông tiếp tục phát triển công nghệ “Lời nói khả kiến” giúp người khiếm thính có thể học được vị trí của các cơ quan liên quan tới lời nói như môi, lưỡi và ngạc để tạo âm thanh dù họ không thể nghe được những gì mình vừa nói.

ảnh 2

Bản thiết kế điện thoại


Năm 1870, Alex cùng gia đình vượt đại dương để bắt đầu cuộc sống mới tại Canada. Một năm sau đó, ông chuyển tới Mỹ dạy học và tận hưởng bầu không khí bác học tại thành phố Boston. Tới năm 1872, Alex tìm thấy một trường dạy cho người khiếm thính sử dụng những công nghệ ông đã phát triển trước đó cho các giáo viên dạy người khiếm thính. Trường đào tạo sau đó được hợp nhất với đại học Boston. Vào thời điểm đó, học vị giáo sư bắt đầu được công nhận và Alexander Graham Bell trở thành giáo sư đầu tiên của bộ môn Sinh lý học lời nói năm 1873. Đến năm 1882, ông trở thành công dân vĩnh viễn hợp pháp của Hoa Kỳ.

Từ điện báo tới viễn thông

Phát minh điện thoại của Alex đã khơi nguồn cho một cuộc cách mạng viễn thông thay đổi thế giới. Trước đó, công nghệ hiện đại nhất chính là bảng mã điện báo Morse. Từ niềm đam mê công việc dạy cho người khiếm thính và sự am hiểu bảng mã Morse, Alex đã phát minh ra ‘máy điện báo âm thanh’ và sau này đổi tên thành ‘điện thoại’.

Ý tưởng thực sự truyền tiếng nói điện tử trong một khoảng cách xa luôn luôn là một khái niệm cuốn hút Alex. Từ công nghệ điện báo, ông đã suy nghĩ rất nhiều để phát triển điện thoại.

Năm 1875 ông sản xuất máy thu đơn giản đầu tiên của mình có khả năng chuyển các xung điện thành âm thanh. Alex cuối cùng tạo ra một máy tính mà có thể cả truyền và nhận âm thanh. Phát minh đáng chú ý và thay đổi thế giới này đã được ông đăng ký bằng sáng chế vào năm 1876.

ảnh 3

Gia đình nhà Bell năm 1885
Không giống như nhiều phát minh mới khác, điện thoại đã được thông qua một cách nhanh chóng. Chỉ sau một năm trạm trao đổi điện thoại đầu tiên đã được xây dựng ở Connecticut và Công ty Bell Telephone được thành lập. Alexander Graham Bell nhanh chóng trở thành một người đàn ông rất giàu có. Ông đã được trao một số giải thưởng uy tín và tiếp tục phát triển hơn nữa các thí nghiệm trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là công nghệ để giúp người khiếm thính.

Ông cũng thành lập The National Geographic Society và là một trong những chủ tịch và biên tập viên đầu tiên của tạp chí. Ông qua đời trong yên bình vào mùa xuân năm 1922.

Chiếc điện thoại đầu tiên

ảnh 4

Cuộc điện thoại đường dài đầu tiên được thực hiện.
Alex không bao giờ gọi được cho mẹ hay vợ ông vì họ đều là những người khiếm thính


Chiếc điện thoại đầu tiên do Alexander Graham Bell chế tạo gồm một nam châm điện đôi có màng căng phía trước như mặt trống. Giữa màng chắn là một dây làm bằng sắt. Có thêm một ống nghe hình như cái phễu tương tự như trong các máy hát thời xưa. Khi nói vào ống nghe, một chuỗi các rung động sẽ được tạo ra ở màng chắn, truyền tới dây sắt và tạo ra dòng điện dao động chạy qua dây dẫn. Thiết bị nhận ở đầu dây bên kia là một đĩa kim loại được nối với một đường ống và một nam châm điện khác. Các xung điện từ được truyền tới sẽ làm đĩa rung và tạo sóng âm tương ứng với những gì người gọi đã nói. Alexander đã gọi thiết bị của mình là “Máy điện báo âm thanh”.

Cuộc điện thoại đầu tiên cũng là do Alex tự tay thực hiện. Ông đã gọi cho trợ lý cơ điện của mình là Thomas Watson ở phòng bên cạnh và nói đơn giản “Anh Watson, sang đây đi, tôi muốn gặp anh!”. Nhiều năm sau, đường điện thoại đường dài đầu tiên được thiết lập giữa New York và Chicago.

 

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
4. Albert Einstein

Albert Einstein
(14/3/1879 – 18/4/1955)
www.tudiendanhngon.vn - Danh nhân - Albert Einstein

Albert Einstein (14/3/1879 – 18/4/1955) là nhà vật lý lý thuyết người Đức đoạt giải Nobel Vật lý năm 1921 cho "những cống hiến đối với vật lý lý thuyết", đặc biệt về việc khám phá định luật của hiệu ứng quang điện, một bước ngoặt quan trọng đối với lý thuyết lượng tử. Ông được biết tới nhiều nhất với phương trình E = mc2 về sự tương đương khối lượng – năng lượng, được coi là phương trình nổi tiếng nhất thế giới. Các công trình của Einstein cũng được biết đến vì ảnh hưởng của chúng lên nền triết lý khoa học.
Einstein là một người phản đối chiến tranh và đã gây được 6 triệu đô la tiền quỹ bằng việc bán đấu giá bản viết tay về thuyết tương đối hẹp của mình vào năm 1944. Khi Thế chiến II bắt đầu, ông viết thư gửi tới Tổng thống Franklin D. Roosevelt cảnh báo về khả năng phát triển "bom loại mới cực kỳ có sức tàn phá" và khuyến nghị Hoa Kỳ bắt đầu nghiên cứu tương tự. Điều này cuối cùng dẫn tới Dự án Manhattan, dự án đã tạo ra vũ khí hạt nhân đầu tiên trong Thế chiến II. Einstein ủng hộ việc bảo vệ Quân Đồng Minh, nhưng phản đối việc sử dụng phát kiến mới về phân hạch hạt nhân để làm vũ khí. Sau này, cùng với triết gia Bertrand Russell người Anh, Einstein ký Tuyên ngôn Russell–Einstein cảnh báo về sự nguy hiểm của vũ khí hạt nhân.
Einstein đã công bố hơn 300 báo cáo khoa học, cùng hơn 150 bài viết về các chủ đề khác. Vào ngày 5/12/2014, các trường đại học và thư viện cùng công bố các bài viết của Einstein với tập hợp lên tới hơn 30,000 tài liệu. Những thành tựu tri thức của ông khiến từ "Einstein" trở nên đồng nghĩa với "thiên tài".
Trong cuộc đời cống hiến nghiên cứu khoa học, Albert Einstein nhận được nhiều giải thưởng quốc tế như Giải Nobel Vật lý (1921), Huân chương Matteucci Medal của Ý (1921), Huân chương Copley của Hiệp hội Khoa học Hoàng gia (1925), Huân chương Max Planck của Hiệp hội Vật lý Đức (1929), Franklin Medal của Viện Franklin (1936).

Nguồn: www.tudiendanhngon.vn
Danh ngôn của Albert Einstein

Chỉ có hai điều là vô hạn: Vũ trụ và sự ngu xuẩn của con người và tôi không chắc lắm về điều đầu tiên.
Only two things are infinite, the universe and human stupidity, and I'm not sure about the former.

Người đọc quá nhiều và với bộ óc quá ít sẽ rơi vào thói quen suy nghĩ lười biếng.
Any man who reads too much and uses his own brain too little falls into lazy habits of thinking.

Không phải là tôi quá thông minh, chỉ là tôi chịu bỏ nhiều thời gian hơn với rắc rối.
It's not that I'm so smart, it's just that I stay with problems longer.

Sự khác biệt giữa quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là một ảo tưởng dai dẳng đến ngoan cố.
The distinction between the past, present and future is only a stubbornly persistent illusion.

Học từ ngày hôm qua, sống ngày hôm nay, hi vọng cho ngày mai. Điều quan trọng nhất là không ngừng đặt câu hỏi.
Learn from yesterday, live for today, hope for tomorrow. The important thing is not to stop questioning.

Đừng phấn đấu để thành công mà hãy phấn đấu để mình có ích.
Strive not to be a success, but rather to be of value.

Sự đơn điệu và cô độc của một cuộc sống yên lặng kích thích trí sáng tạo.
The monotony and solitude of a quiet life stimulates the creative mind.

Có một câu hỏi đôi khi khiến tôi thấy mơ hồ: Tôi điên hay người khác điên?
A question that sometimes drives me hazy: am I or are the others crazy?

Tôi không biết chiến tranh thế giới thứ 3 sẽ sử dụng vũ khí nào nhưng tôi biết rằng chiến tranh thế giới thứ 4 sẽ sử dụng gậy gộc và đá!
I know not with what weapons World War III will be fought, but World War IV will be fought with sticks and stones.

Kẻ ngu xuẩn nào cũng có thể khiến mọi thứ trở nên to hơn, phức tạp hơn và bạo lực hơn. Chỉ bàn tay của thiên tài - và thật nhiều dũng khí - để biến chuyển ngược lại.
Any fool can make things bigger, more complex, and more violent. It takes a touch of genius - and a lot of courage - to move in the opposite direction.

Logic sẽ đưa anh từ điểm A tới điểm B. Trí tưởng tượng sẽ đưa anh tới mọi nơi.
Logic will get you from A to B. Imagination will take you everywhere.

Sự khác biệt giữa thiên tài và kẻ ngu dốt là ở chỗ thiên tài luôn có giới hạn.
The difference between stupidity and genius is that genius has its limits.

Tôi nghĩ và nghĩ hàng năm hàng tháng. Chín mươi chín lần tôi đi tới kết luận sai lầm. Lần thứ một trăm tôi đúng.
I think and think for months and years. Ninety-nine times, the conclusion is false. The hundredth time I am right.

Tôi sống với sự cô đơn đau đớn trong tuổi trẻ nhưng lại ngọt ngào trong những năm tháng trưởng thành.
I live in that solitude which is painful in youth, but delicious in the years of maturity.
Chúa luôn chọn cách đơn giản nhất.
God always takes the simplest way.

Kẻ nào chưa từng mắc phải lỗi lầm cũng là kẻ chưa bao giờ thử làm việc gì cả.
A person who never made a mistake never tried anything new.
Nếu anh không thể giải thích đơn giản thì anh chưa hiểu đủ rõ.
If you can't explain it simply, you don't understand it well enough.

Quyền lực luôn luôn thu hút những kẻ không có đạo đức.
Force always attracts men of low morality.

Anh càng đi nhanh, anh càng đi được ít.
The faster you go, the shorter you are.

Trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức.
Imagination is more important than knowledge.

Không thể gìn giữ hòa bình bằng bạo lực. Nó chỉ có thể đạt được bằng sự thông hiểu lẫn nhau.
Peace cannot be kept by force; it can only be achieved by understanding.

Trước Chúa chúng ta đều thông thái và ngu xuẩn như nhau.
Before God we are all equally wise - and equally foolish.

Lực hấp dẫn không chịu trách nhiệm cho việc con người ta yêu nhau.
Gravitation is not responsible for people falling in love.

Đừng làm gì trái với lương tâm, ngay cả khi chính quyền yêu cầu bạn.
Never do anything against conscience even if the state demands it.

Sợ chết là nỗi sợ hãi phi lý nhất, vì người đã chết chẳng có nguy cơ bị tai nạn.
The fear of death is the most unjustified of all fears, for there's no risk of accident for someone who's dead.

Chính trị chỉ cho hiện tại, nhưng phương trình là mãi mãi.
Politics is for the present, but an equation is for eternity.

Tôi không những chỉ là một người chuộc hòa bình mà còn là một người chuộc hòa bình máu chiến. Tôi sẵn sàng chiến đấu vì hòa bình. Không gì có thể kết thúc chiến tranh nếu bản thân con người không từ chối tham gia chiến tranh.
I am not only a pacifist but a militant pacifist. I am willing to fight for peace. Nothing will end war unless the people themselves refuse to go to war.

Tôi không có tài năng đặc biệt nào, tôi chỉ có sự tò mò đầy nhiệt huyết.
I have no special talent. I am only passionately curious.

Tôi là người vô đạo tới sâu sắc - điều này có phần như là một thứ tôn giáo mới.
I am a deeply religious nonbeliever - this is a somewhat new kind of religion.

Khoa học mà thiếu tôn giáo thì khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng.
Science without religion is lame, religion without science is blind.

Đừng lo lắng về khó khăn của bạn trong toán học, tôi đảm bảo với bạn rằng những khó khăn toán học của tôi còn gấp bội.
Do not worry about your difficulties in Mathematics. I can assure you mine are still greater.

Thông tin không phải là kiến thức.
Information is not knowledge.

Môi trường là tất cả những gì không phải là tôi.
The environment is everything that isn't me.

Nếu thực tế không vừa với học thuyết, hãy thay đổi thực tế.
If the facts don't fit the theory, change the facts.

Tôi không bao giờ tin vào vị Chúa chơi xúc xắc với thế gian này.
I shall never believe that God plays dice with the world.

Nhiệm vụ của chúng ta là tự giải phóng bản thân bằng cách làm rộng vòng tròn của lòng trắc ẩn để ôm lấy mọi sinh vật sống và tất cả sắc đẹp của thiên nhiên.
Our task must be to free ourselves by widening our circle of compassion to embrace all living creatures and the whole of nature and its beauty.

Chúa trời rất khó hiểu, nhưng không ma mãnh.
God may be subtle, but he isn't plain mean.

Nỗ lực kết hợp giữa trí tuệ và quyền lực hiếm khi thành công, mà có thành công cũng chỉ trong chốc lát.
The attempt to combine wisdom and power has only rarely been successful and then only for a short while.

Tất cả những điều có giá trị trong xã hội con người đều dựa vào cơ hội phát triển hòa hợp trong mỗi cá nhân.
All that is valuable in human society depends upon the opportunity for development accorded the individual.

Chính là trải nghiệm về những điều bí ẩn - thậm chí ngay cả khi lẫn trong niềm kính sợ - đã sản sinh ra tôn giáo.
It was the experience of mystery - even if mixed with fear - that engendered religion.

25 câu nói của Albert Einstein cho thấy tư duy một thiên tài

Trong nhiều năm qua, tên tuổi của Albert Einstein đã trở thành một từ đồng nghĩa với thiên tài.
Trong cuộc đời mình, Einstein đã thay đổi cả thế giới, mô tả sự vận hành của thực tại tốt hơn bất cứ ai kể từ thời Isaac Newton, và hé mở tiềm năng của công nghệ bom nguyên tử. Vào năm 1999, ông được báo Time vinh danh là Con người của Thế Kỷ.
Sau đây là 25 câu nói của Einstein được nhiều người trích lại nhất, mỗi một câu đều cho bạn hiểu rõ thêm về tư duy của huyền thoại này.

Về quyền thế
(ảnh: Flickr/jeffmcneill)
(ảnh: Flickr/jeffmcneill)

Về quy mô


“Thiên nhiên chỉ cho chúng ta thấy cái đuôi của con sư tử. Nhưng tâm trí tôi không hề nghi ngờ rằng có con sư tử ở đó, ngay cả khi nó không thể xuất hiện toàn thân thể trước con mắt thịt của tôi bởi vì kích thước quá to lớn.” – Trích "Smithonian, 02/1979"

Về chính trị
(ảnh: Wikimedia)(ảnh: Wikimedia)
“Tôi thừa hưởng di sản của người Do thái, là công dân của Thụy Sĩ, và trưng diện như một con người, và chỉ một con người, không hề có gắn kết bất kỳ với nhà nước hay tổ chức quốc gia nào.” – Trích “The Yale Book of Quotations”

Về sự chắc chắn

“Quy luật của toán học càng liên hệ tới thực tế càng không chắc chắn, và càng chắc chắn thì càng ít liên hệ tới thực tế.” – Phát biểu tại Viện Khoa học Prussian, 01/1921

Về sự khiêm nhường


“Là con người, người ta được ban cho chỉ vừa đủ trí tuệ để có thể thấy rõ ràng trí tuệ ấy nhỏ bé thảm hại thế nào khi đứng trước thế giới này.” – Trích Thư gửi Nữ Hoàng Elisabeth tại Bỉ, 09/1932.

Thuyết tương đối
einstein-on-relativity
“Khi người đàn ông ngồi với một cô gái xinh đẹp trong một giờ, dường như đó chỉ là một phút. Nhưng nếu anh ta ngồi trên một cái bếp lò nóng trong một phút, thời gian đó còn dài hơn cả một giờ. Đấy là thuyết tương đối.” – Trích “The Yale Book of Quotations”

Về sự phát triển của bản thân
(ảnh: Wikipedia)
(ảnh: Wikipedia)

“Đúng là cha mẹ tôi đã rất lo lắng bởi tôi biết nói khá trễ, đến mức họ phải đi tư vấn bác sĩ. Tôi không thể khẳng định lúc đó mình bao nhiêu tuổi – nhưng chắc chắn là không dưới ba tuổi.” – Trích Thư năm 1954.

Về lẽ thường

“Lẽ thường chẳng khác nào một khoản định kiến đã nằm sẵn trong tâm trí từ trước khi bạn đủ 18 tuổi.” – Trích “The Universe and Dr. Einstein”

Về sự thành công

“Nếu đặt A là một sự thành công trong cuộc sống, vậy thì A bằng X cộng với Y cộng với Z. Làm việc chính là X, vui chơi chính là Y, còn biết giữ mồm giữ miệng chính là Z.” – Trích “The Yale Book of Quotations”

Về chủ nghĩa quốc gia
(ảnh qua imgur.com)
(ảnh qua imgur.com)

“Chủ nghĩa quốc gia là căn bệnh của trẻ con. Nó là bệnh sởi của loài người.” – Trích từ sách “Albert Einstein, the Human Side”

Về những điều huyền bí
(ảnh: Baby Boomer Talk)
(ảnh: Baby Boomer Talk)

“Trải nghiệm tươi đẹp nhất mà chúng ta có chính là những điều huyền bí. Nó là cảm xúc cơ bản đứng trong cái nôi của nghệ thuật và khoa học chân chính. Những ai không biết nó và cũng chẳng còn tự hỏi, chẳng còn lấy làm ngạc nhiên, thì cũng bằng như đã chết, và mắt họ đã bị mờ đi.” – Trích “The World As I See It,” 1930.

Về sự đơn độc
(ảnh: Apple)
(ảnh: Apple)

“Ý thức đam mê của tôi về trách nhiệm và công lý xã hội luôn luôn tương phản một cách kỳ quái với sự thiếu vắng nhu cầu phải tiếp xúc trực tiếp với người khác và cộng đồng. Tôi thực sự là “kẻ độc hành” và chưa bao giờ, với cả trái tim mình, thuộc về đất nước, tổ ấm, bạn bè của mình, thậm chí cả người thân ngay trong gia đình; khi đối diện với các mối ràng buộc này, tôi chưa bao giờ mất đi cảm giác cần có một khoảng cách và nhu cầu được đơn độc.” – Trích “The World As I See It,” 1930.

Về vẻ bề ngoài
(ảnh: Wikimedia)
(ảnh: Wikimedia)

“Nếu tôi bắt đầu quan tâm đến việc chải chuốt, tôi sẽ không còn là chính mình nữa.” – Trích Thư, 12/1913.

Về trí tưởng tượng
(ảnh: Getty)
(ảnh: Getty)

“Trí tưởng tượng còn quan trọng hơn cả kiến thức. Kiến thức thì hạn chế. Trí tưởng tượng lại bao quanh cả thế giới.” – Trích Smithsonian, 02/1979.

Về động lực
(ảnh: ebravolosada / Flickr)
(ảnh: ebravolosada / Flickr)

“Lý tưởng thắp sáng con đường của tôi, và nhiều lần cho tôi dũng khí mới để có thể đối diện cuộc sống một cách vui tươi, đó chính là Chân, Thiện, Mỹ. Nếu không có cảm giác thân hữu với những người cùng tư duy, không có sự hiện hữu với thế giới khách quan, sự bất tận vĩnh hằng trong lĩnh vực nghệ thuật và khoa học, thế giới sẽ dường như trống rỗng đối với tôi. Những mục tiêu nhàm chán của loài người – của cải, thành công bề ngoài, sự xa hoa – tôi luôn xem là đáng khinh thường.” – Trích “The World As I See It,” 1930.

Về giáo dục

“Mục đích [của giáo dục] phải là sự đào tạo ra những cá nhân biết hành động và tư duy một cách độc lập, tuy nhiên lại là những người xem việc phục vụ cộng đồng là vấn đề lớn nhất trong cuộc đời.” – 10/1936.

Về tham vọng
einstein-on-ambition
“Điều có giá trị thực sự sẽ không bao giờ phát sinh từ tham vọng hoặc từ ý thức bổn phận đơn thuần, nó bắt nguồn từ tình yêu và sự tận tâm đối với con người và những điều khách quan.” – Trích Thư, 07/1947.

Về sự học hỏi
(ảnh: Flickr/recuerdosdepandora)
(ảnh: Flickr/recuerdosdepandora)

“Hầu hết các giáo viên phí hoài thời gian bằng việc đặt những câu hỏi nhằm tìm những điều học sinh không biết, trong khi nghệ thuật đặt câu hỏi chính là để khám phá xem học sinh thực sự biết và có khả năng biết những gì.” – Trích trong một buổi đối thoại năm 1920..

Về việc suy nghĩ
(ảnh: Wikimedia commons)
(ảnh: Wikimedia commons)

“Tôi rất ít khi suy nghĩ bằng câu từ. Khi một ý nghĩ đến, về sau tôi mới cố gắng thể hiện nó ra thành lời nói.” – Trích “Productive Thinking,” 1959.

 

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
5. Alexander Fleming

Ngày này đúng 90 năm về trước: có phải Alexander Fleming đã mở ra kỷ nguyên kháng sinh?


Fleming không phải người đầu tiên khám phá ra đặc tính kháng khuẩn của nấm Penicillium.
Sự kiện Alexander Fleming phát hiện penicillin, vào đúng ngày này 90 năm trước, thường được kể lại như một may mắn tình cờ. Trước một kỳ nghỉ, Fleming quá mệt nên đã lười không rửa những đĩa thí nghiệm. Và sau khi trở về vào ngày 28 tháng 9 năm 1928, ông thấy một đĩa petri sạch bóng vi khuẩn.
Thì ra chủng nấm Penicillium sinh sôi trong đĩa thí nghiệm đó đã tiết ra kháng sinh, giết chết tất cả vi khuẩn xung quanh nó. Và nhờ sự lười biếng của chính mình – eureka - Fleming đã may mắn cứu cả thế giới.

Câu chuyện về nhà khoa học Scotland và đĩa petri bẩn đã được kể đi kể lại tới hàng ngàn lần. Đến nỗi năm 1985, chuyên gia bệnh truyền nhiễm Harold Neu phải tự hỏi trên tạp chí JAMA rằng: "Liệu chúng ta có thực sự cần viết một cuốn sách khác về Alexander Fleming hay không?".

Trên thực tế, cuốn sách mà Neu đề cập chứa một sự thật trái với câu chuyện thú vị mà mọi người được kể. "Alexander Fleming: Người đàn ông và huyền thoại" của nhà huyết học Robert Gwyn Macfarlane (nhà xuất bản Hogarth Press năm 1984) đưa ra một phiên bản xét lại, trong đó giới hạn những thành tựu của Fleming cũng như hình ảnh anh hùng của ông.

Trái với câu chuyện bắt đầu với Fleming và đĩa petri nổi tiếng, bức tranh lớn hơn về kháng sinh thực sự đã được vẽ lên từ rất lâu trước ngày 28 tháng 9 năm 1928. Nhiều tài liệu trích dẫn cho thấy nấm đã được sử dụng từ thời cổ đại để chữa lành vết thương.

Quan sát khoa học đầu tiên ghi nhận vi khuẩn không phát triển với sự hiện diện của nấm Penicillium cũng được thực hiện từ năm 1870, bởi nhà sinh lý học người Anh John Scott Burdon-Sanderson. Đó là khoảng gần 60 năm trước khi Fleming quên rửa những đĩa thí nghiệm của ông ấy.
Trong khoảng 6 thập kỷ tiếp theo, nhiều nhà khoa học như Joseph Lister, John Tyndall, Louis Pasteur và những đồng nghiệp khác của họ ở Ý, Pháp và Bỉ, cũng đã quan sát và nghiên cứu hiện tượng ức chế phát triển vi khuẩn tương tự.

Vậy là, Fleming không phải người đầu tiên khám phá ra đặc tính kháng khuẩn của nấm Penicillium. Mặc dù người ta có thể lập luận rằng, không ai trong số những nhà quan sát tiên phong trước đó thiết lập được một nghiên cứu liên tục và hiệu quả đưa đến thành công cuối cùng, về cơ bản điều đó cũng đúng với nghiên cứu của Fleming.

Xuất bản kết quả lần đầu vào năm 1929, Fleming gọi hỗn hợp kháng khuẩn ông tìm ra là "nước ép nấm mốc", một cách nói khiêm tốn về tính ứng dụng rất thấp của nó bởi sự bất ổn định của penicillin.

Fleming có đề cập đến "khả năng ứng dụng trong điều trị nhiễm khuẩn", nhưng trên hết, ông chỉ dám nhấn mạnh rằng thứ "nước ép" của mình "chắc chắn hữu ích" trong vai trò một công cụ kỹ thuật đơn thuần, dùng để tách vi khuẩn kháng thuốc khỏi những vi khuẩn nhạy cảm với penicillin.

Bất chấp mọi thứ, sẽ không công bằng khi công việc của Fleming chỉ được nhìn nhận như một may mắn ngẫu nhiên. Đúng hơn, đó là một phần thưởng từ cơ hội, thứ chỉ có được sau một nỗ lực kiên trì và bền bỉ.

Là một nhà vi trùng học, Fleming đã dành nhiều thập kỷ tìm kiếm các chất kháng khuẩn để khắc phục điểm yếu của các chất khử trùng ở thời điểm đó [thường có độc tính cao và nguy hiểm cho con người]. Trong công trình trước đây của mình, ông đã xác định được lysozyme, một loại enzyme có trong dịch tiết mũi của một bệnh nhân cảm lạnh, dường như ức chế được sự phát triển của vi khuẩn.

"Ngay cả khi không gắn tên tuổi của mình với penicillin, Fleming cũng sẽ không xuất hiện trong lịch sử ngành y vi sinh học chỉ như một chú thích dưới chân trang", Kevin Brown, người phụ trách Bảo tàng Phòng thí nghiệm Alexander Fleming ở St. Mary, cho biết. "Bên dưới sự kiện penicillin là một nền tảng vững chắc trong tư tưởng khoa học và phương pháp nghiên cứu của Fleming".

Mặc dù vậy, việc không đi đến thành công cuối cùng với penicillin [Fleming không phân lập và ổn định được nó ra khỏi thứ "nước ép" của mình, điều cần thiết để biến nó thành thuốc điều trị nhiễm trùng] đã khiến ông không nhận được sự chú ý của cộng đồng khoa học nữa.

Mặc dù nhiều nghiên cứu tiếp theo về penicillin đã được công bố bởi chính cha đẻ của nó suốt 10 năm, gần như không ai còn để ý đến Fleming. Và penicillin bị bỏ rơi. Trong một đánh giá cho cuốn sách của Macfarlane, được xuất bản vào năm 1984 trên Medical History, Norman Heatley tự hỏi liệu Fleming có phải là một nhà khoa học vĩ đại hay không?

"Theo quan điểm của người đánh giá hiện tại, câu trả lời phải là Không", ông ấy viết. Nhưng điều quan trọng cần lưu ý trong nhận định này là ai là người viết ra nó: Heatley là một thành viên của nhóm nghiên cứu đến từ Bệnh viện Bệnh viện Radcliffe, Oxford, những người đã thành công trong việc thanh lọc penicillin, biến nó thành thuốc để cứu sống hàng triệu người sau này.

Để khách quan hơn, hãy hỏi María Jesús Santesmases, một sử gia khoa học đến từ Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Tây Ban Nha. Bà đồng thời là tác giả của một số tác phẩm về lịch sử của penicillin, bao gồm cuốn "Lưu hành Penicillin ở Tây Ban Nha: Sức khỏe, Sự giàu có và Quyền lực" (nhà xuất bản Palgrave Macmillan, 2018).

Santesmases cho biết: "Fleming là một nhà khoa học giỏi". Thế nhưng, vai trò của ông ấy chỉ giới hạn trong việc "phát hiện hoạt tính của một tác nhân mà ông không thể cô lập được".

Cũng là tình cờ mà nhóm các nhà khoa học Oxford, dẫn đầu bởi Howard Florey và Ernst Boris Chain, lục lại các tài liệu từ một thập kỷ trước để tìm hiểu về công trình của Fleming. Nhưng cũng chính từ đây, mọi sự tình cờ với penicillin đã chấm dứt để bắt đầu một quá trình khoa học thực thụ.

Sử gia y học Bill Bynum viết trên tạp chí The Lancet năm 2007: "Sự khám phá đã đến từ khoa học cũ, nhưng bản thân thuốc [penicillin muốn ra đời] phải có những cách làm khoa học mới".

Khoa học mới đó sử dụng các phương pháp làm mới, và ý tưởng làm việc nhóm ra đời để lại phía sau hình ảnh quen thuộc của những nhà khoa học luôn đơn độc làm việc một mình. Nhà sử học Santesmases cũng nhận định:

"Nhóm Oxford là cần thiết [cho sự ra đời của thuốc kháng sinh], cả chuyên môn hóa sinh của Chain và sự khôn ngoan tích lũy được của Florey, cùng với công việc của nhiều người nữa [cũng đã góp phần vào đó]".

Người ta nói rằng vào năm 1940, khi Fleming đọc các bài báo khoa học đầu tiên công bố bởi nhóm Oxford, ông gọi điện cho Florey để sắp xếp một cuộc họp. Khi Chain biết về chuyến thăm của Fleming, ông phải thốt lên rằng: "Chúa ơi! Tôi nghĩ rằng ông ấy đã chết".

Quá trình thanh lọc và sản xuất penicillin diễn ra trong một thời gian dài và mất rất nhiều thời gian. Năm 1941, lần đầu tiên nó được sử dụng cho một bệnh nhân. Đó là viên cảnh sát Oxford Albert Alexander, bị nhiễm trùng nghiêm trọng trên mặt - dường như không phải bởi một đầu gai hoa hồng, mà là vì một vụ ném bom của quân đội Đức tại Southampton, nơi ông ấy đóng quân vào tháng 11 năm 1940.

Với một lượng penicillin ít ỏi và bị đào thải nhanh qua nước tiểu, Florey than thở rằng việc điều trị cho Alexander giống như "cố gắng đổ đầy một bồn tắm mà không có nút đậy nắp". Các nhà nghiên cứu thậm chí đã phải thu thập nước tiểu của Alexander, đạp xe qua lại phòng thí nghiệm và bệnh viện để chiết xuất lại thuốc. Nhưng cuộc đua bằng xe đạp chống lại nhiễm trùng máu đã kết thúc trong thất bại. Alexander tử vong.

Mặc dù vậy, sự hồi phục tạm thời của Alexander đã thuyết phục được các nhà khoa học, rằng trong trường hợp họ có đủ penicillin, Alexander sẽ được chữa khỏi hoàn toàn.

Cùng với Heatley, Florey đã tới Hoa Kỳ. Ở đây, ông đã thuyết phục được một số công ty dược phẩm lớn (bao gồm Merck, E R Squibb & Sons, Charles Pfizer & Co. và Lederle Laboratories) mở rộng quy mô sản xuất penicillin.

Một sự kiện quan trọng nữa, Thế chiến thứ 2 đã đặt ra cho chính phủ Anh và Mỹ một chiến lược, họ cần phải sản xuất kháng sinh để cứu sống các binh sĩ. Vậy là với sự thúc đẩy của cả khoa học và những toan tính chính trị, kỷ nguyên kháng sinh mới thực sự bắt đầu.

Năm 1945, chỉ có Fleming, Chain và Florey nhận giải Nobel Y học, những thành viên khác góp phần vào quá trình tạo ra kháng sinh penicillin đều không được công nhận. Hơn nữa, trong trí nhớ của tất cả công chúng, câu chuyện hấp dẫn kể về may mắn tình cờ của Fleming đã biến ông trở thành anh hùng, vị anh hùng duy nhất.
Nói vậy không phải để phủ nhận những đóng góp của Fleming, mà để tiết lộ một bức tranh lịch sử thực tế và toàn diện. Rằng với một mình Fleming thì không thể bắt đầu một kỷ nguyên kháng sinh rực rỡ của y học.

Thay cho lời kết, đây là một trích dẫn của sử gia khoa học Santesmases: "Những ảo tưởng về anh hùng giúp ích rất ít trong việc tìm hiểu lịch sử khoa học và bản thân khoa học". Trong mắt nhiều người, Fleming có thể vẫn là một anh hùng, nhưng chắc chắn ông không phải là anh hùng duy nhất giúp chúng ta có được kháng sinh ngày hôm nay.

Tham khảo Openmind, Mosaic, Wikipedia.
 

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
6. Leonardo da Vinci

Leonardo da Vinci, Cuộc đời và tác phẩm nghệ thuật của ông

Chân dung Leonardo Da Vinci


Leonardo da Vincilà một thiên tài thực sự, người đã tạo ra thế giới này với sự hiện diện của ông từ ngày 15 tháng 4 năm 1452 đến ngày 2 tháng 5 năm 1519. Ông là một trong những nghệ sĩ có ảnh hưởng nhất trong lịch sử, đã để lại một di sản đáng kể không chỉ trong lĩnh vực nghệ thuật mà còn trong khoa học cũng như, mỗi kỷ luật thông báo sự thông thạo của mình về người khác. Da Vinci sống trong một thời đại hoàng kim của sự sáng tạo giữa những người đương thời như Raphael và Michaelangelo, và đóng góp thiên tài độc đáo của mình cho hầu hết mọi thứ anh chạm vào. Giống như Athens trong thời đại của Pericles, Ý thời Phục hưng là một đỉnh cao trong lịch sử loài người. Ngày nay, không có cái tên nào có vẻ tượng trưng cho thời đại Phục hưng hơn Leonardo da Vinci.

Đầu năm: 1452 đến 1476
Leonardo da Vinci sinh ra ở một làng Tuscan gần Vinci. Ông bắt đầu học nghề 9 năm ở tuổi 14 cho Andrea del Verrocchio, một nhà điêu khắc, họa sĩ và thợ kim hoàn nổi tiếng, một nhân vật quan trọng trong thế giới nghệ thuật thời đó. Tại xưởng vẽ Florence bận rộn của Verrocchio, Leonardo trẻ tuổi có thể đã gặp những bậc thầy như Sandro Botticelli khi làm việc bên cạnh những người học việc Domenico Ghirlandaio, Pietro Perugino và Lorenzo di Credi.

Verrocchio, người đã học nghề của mình dưới thời bậc thầy Donatello, là nhà điêu khắc được công nhận chính thức cho gia đình Medici, những người cai trị nước Ý trong thời kỳ này. Dưới sự giám hộ của Verrocchio, da Vinci có lẽ đã tiến bộ từ thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau quanh xưởng vẽ đến pha trộn sơn và chuẩn bị bề mặt. Sau đó, anh ta đã tốt nghiệp để nghiên cứu và sao chép các tác phẩm của chủ mình. Cuối cùng, anh ta đã hỗ trợ Verrocchio, cùng với những người học việc khác, sản xuất các tác phẩm nghệ thuật của bậc thầy.

Da Vinci không chỉ phát triển kỹ năng vẽ, vẽ và điêu khắc trong thời gian học nghề, mà thông qua những người khác làm việc trong và xung quanh xưởng vẽ, anh đã tiếp thu kiến thức trong các lĩnh vực đa dạng như cơ khí, mộc, luyện kim, phác thảo kiến trúc và hóa học. Vào năm 1473, khi anh học được hơn nửa chừng với Verrocchio, anh đã hoàn thành Bản vẽ phong cảnh cho Santa Maria della Neve, một cây bút và mực miêu tả về thung lũng sông Arno. Đó là công việc sớm nhất rõ ràng là do da Vinci.

Những bức vẽ của Leonardo da Vinci sẽ trở thành một phần thiết yếu trong di sản của ông. Da Vinci đã phác thảo một cách sinh sôi nảy nở, lên kế hoạch phát minh, khám phá giải phẫu người, vẽ phong cảnh và ngăn chặn các kế hoạch cho các bức tranh như The Virgin of the Rocks và bức tranh tường duy nhất còn sót lại của ông, The Last Supper.

Phần lớn sản phẩm sáng tạo khác của anh ấy trong thời gian làm việc với Verrocchio đã được ghi nhận cho chủ nhân của xưởng vẽ mặc dù các bức tranh là những nỗ lực hợp tác. Trong những năm qua, các nhà sử học đã kiểm tra chặt chẽ những kiệt tác Verrocchio như Bí tích Rửa tội của Chúa Kitô và Truyền tin để cân nhắc về những nhân vật cụ thể mà da Vinci chịu trách nhiệm. Trong "Phép rửa của Chúa Kitô", xuất hiện từ năm 1475, các chuyên gia suy đoán rằng một trong những thiên thần là tác phẩm của da Vinci, trong khi trong "Truyền tin", được sản xuất trong cùng khoảng thời gian, các chuyên gia phát hiện ra tác phẩm của nghệ sĩ tập sự trong đôi cánh của thiên thần và nền. Trên thực tế, các nhà sử học đã chụp x-quang "Truyền tin" để phân biệt dứt khoát giữa những nét cọ nặng hơn của Verrocchio với sơn dựa trên chì từ những nét vẽ nhẹ hơn, dựa trên nước của da Vinci.

Mặc dù là thành viên của hội họa sĩ Florence vào năm 1472, họa sĩ vẫn tiếp tục nghiên cứu với Verrocchio với tư cách là trợ lý cho đến năm 1476. Những ảnh hưởng của chủ nhân của ông thể hiện rõ ở sức sống vượt trội và tính chính xác về mặt giải phẫu của các bức tranh và bản vẽ của Leonardo.

Trung niên: 1477-1499

Sau khi rời xưởng phim Verrocchio để thành lập công ty của riêng mình, da Vinci bắt đầu đặt nền móng cho di sản nghệ thuật của mình. Giống như những người cùng thời, ông tập trung vào các chủ đề tôn giáo, nhưng ông cũng lấy hoa hồng chân dung khi chúng xuất hiện. Trong khoảng 5 năm tiếp theo, ông đã sản xuất một số bức tranh đáng chú ý, bao gồm Madonna of the Carnation, Ginevra de 'Benci, Benois Madonna, Adanda of the Magi và St. Jerome in the Wild wild. Hai ảnh sau còn dang dở.

Leonardo da Vinci đã nhận được một ủy ban để vẽ "Chầu thánh pháp sư" của mình từ những người lớn tuổi trong nhà thờ Florence, người dự định sử dụng nó như một bàn thờ. Tác phẩm nghệ thuật này có ý nghĩa lịch sử nhờ vào sự đổi mới mà da Vinci đã tạo ra là duy nhất trong số các công ước nghệ thuật của những năm 1480. Anh ta tập trung đứa trẻ Trinh và Chúa Kitô trong cảnh trong khi các nghệ sĩ trước đó đã đặt chúng sang một bên. Da Vinci đã cải thiện các thực tiễn tiêu chuẩn về phối cảnh bằng cách thay đổi độ rõ nét và màu sắc khi các vật thể ngày càng trở nên xa vời. Thật không may, anh ta đã không hoàn thành hoa hồng do lời đề nghị tốt hơn từ Công tước Milan để trở thành nghệ sĩ thường trú tại tòa án của anh ta.

Khi ở Milan, nghệ sĩ đã kêu gọi những sở thích và kiến thức đa dạng của mình để tạo ra các bộ sân khấu và thiết kế quân sự cho Công tước cũng như các bức tranh. Đầu nhiệm kỳ tại tòa, da Vinci đã sản xuất phiên bản đầu tiên của Virgin of the Rocks, một bàn thờ cao sáu feet còn được gọi là "Madonna of the Rocks". Trong bức tranh này, xuất hiện từ năm 1483, họa sĩ thử nghiệm pha trộn các cạnh của vật thể trong ánh sáng không rõ ràng để tạo ra một hiệu ứng khói được gọi là sfumato, một kỹ thuật mà nghệ sĩ sẽ tiếp tục phát triển trong các tác phẩm tương lai của mình.

Có lẽ vì mong muốn điều chỉnh kỹ thuật này mà bức tranh còn sót lại khác của ông từ những năm ở Milan, Bữa ăn tối cuối cùng, đã xuống cấp rất nhanh. Nghệ sĩ đã sử dụng sơn gốc dầu trên thạch cao cho cảnh này của Chúa Jesus và các tông đồ của ông tại bàn vì sơn bích họa thông thường dựa trên nước của ông rất khó pha trộn cho hiệu ứng sfumato mà ông tìm kiếm. Chỉ trong vài thập kỷ, phần lớn bức tranh đã bong ra khỏi bức tường ở vị trí của nó tại tu viện Santa Maria del Grazie. Bức tranh vẽ "Bữa tối cuối cùng" của Leonardo da Vinci hiện đang treo ở Louvre, phần lớn, là một bản tái tạo của bức bích họa thất bại.

Những năm sau: 1500-1519
Khi Pháp xâm chiếm Milan, nghệ sĩ trở về nhà, qua Venice và Mantua, đến Florence. Danh tiếng của anh ấy đi trước anh ấy, và anh ấy đã được những người bạn cũ và những nghệ sĩ mới nổi say đắm với những sáng tạo trong nghệ thuật. Trong kỷ nguyên cuối cùng của cuộc đời, da Vinci đã hoàn thành số lượng tranh nhiều hơn so với trước đây. Khi ông tái định cư ở Florence vào năm 1500, họa sĩ đã đạt được tiến bộ sơ bộ về bức tranh của ông, Trinh nữ và trẻ em với Saint Anne , "ông sẽ gác lại những điều còn dang dở, không được hoàn thành trong 10 năm nữa.

Leonardo bắt đầu tạo ra tác phẩm nổi tiếng và được nhân rộng nhất của mình, Mona Lisa , một vài năm sau đó khi anh nhận được hoa hồng từ Francesco del Giocondo để vẽ vợ. Ngày hoàn thành chính xác cho "Mona Lisa" vẫn còn trong câu hỏi, nhưng nhiều nhà sử học đồng ý rằng da Vinci bắt đầu kiệt tác vào năm 1503.

Leonardo da Vinci cũng chấp nhận một ủy ban cho một bức tranh tường sẽ được lắp đặt trong Hội trường 500 tại Palazzo Vecchio ở Florence. Chủ đề là một cảnh chiến đấu tại Anghiari , và bức tranh mô tả một mớ ngựa và chiến binh cơ bắp. Đó là, tuy nhiên, định mệnh là chưa hoàn thành. Bậc thầy đương đại Michelangelo đã nhận được một ủy ban để vẽ Trận chiến Cascina trên bức tường đối diện, cũng là một công việc còn dang dở. Không có gì trong cảnh chiến đấu của da Vinci tồn tại, ngoại trừ một bản sao của họa sĩ Peter Paul Rubens và bản phác thảo sơ bộ của Leonardo.

Trong cùng khoảng thời gian đó, họa sĩ đã tạo ra phiên bản thứ hai của bức tranh, "Virgin of the Rocks", có khả năng là một ủy ban để lắp đặt trong một nhà nguyện tại nhà thờ San Francesco Maggiore của Milan. Sự khác biệt chính giữa hai phiên bản bao gồm lựa chọn màu sắc, ánh sáng và chi tiết về bố cục.

Trang web mộ Leonardo Da Vinci

Leonardo trở lại Milan vào năm 1506 để chấp nhận một ủy ban chính thức cho một bức tượng cưỡi ngựa. Trong quá trình cư trú bảy năm trong thành phố này, nghệ sĩ sẽ tạo ra một cơ thể các bản vẽ về các chủ đề từ giải phẫu người đến thực vật học, cộng với các bản phác thảo về phát minh vũ khí và nghiên cứu về chim trong chuyến bay. Sau này sẽ dẫn đến bản vẽ khám phá của ông về máy bay của con người. Tất cả các bản vẽ của ông trong thời gian này phản ánh sự quan tâm của da Vinci về cách mọi thứ được kết hợp với nhau và cách chúng hoạt động.

Khi rời Milan năm 1513, Leonardo dành thời gian ở Rome. Vào tháng 10 năm 1515, Vua Francis I của Pháp đã chiếm lại Milan. Quốc vương đã phong cho ông danh hiệu kiến trúc sư, nghệ sĩ và thợ cơ khí hàng đầu cho nhà vua. Năm 1516, ông tham gia phục vụ của Đức Phanxicô, và sau đó đi đến nơi cư trú cuối cùng gần tòa án Fontainebleau của Vua Pháp Francis I. Nhiều nhà sử học tin rằng Leonardo đã hoàn thành bức tranh cuối cùng của mình, Thánh John the Baptist , tại nhà ở vùng nông thôn của ông ở Cloux, Pháp. Kiệt tác này thể hiện sự hoàn hảo của mình về kỹ thuật sfumato. Leonardo qua đời tại Clos Lucé, vào ngày 2 tháng 5 năm 1519 ở tuổi 67. Nguyên nhân thường được cho là do đột quỵ tái phát. Francis I đã trở thành một người bạn thân thiết. Nó đã được ghi lại rằng nhà vua ôm đầu Leonardo khi chết, mặc dù câu chuyện này, được người Pháp yêu quý và được Ingres miêu tả trong những bức tranh lãng mạn, có thể là truyền thuyết hơn là thực tế. Ông được chôn cất tại Nhà nguyện Saint-Hubert, Amboise, Pháp.

Ảnh hưởng của Da Vinci đối với cuộc sống và nghệ thuật
Trong các tác phẩm nghệ thuật được tạo ra bởi chính đồng nghiệp của mình, ảnh hưởng của các tác phẩm của Leonardo da Vinci là điều hiển nhiên. Raphael và thậm chí đôi khi là đối thủ của Michaelangelo đã áp dụng các kỹ thuật đặc trưng của da Vinci để tạo ra các nhân vật hoạt động tương tự, thực tế về mặt giải phẫu.

Sự phá cách sáng tạo của anh ấy từ các tiêu chuẩn nghệ thuật trong thời đại của anh ấy sẽ hướng dẫn các thế hệ nghệ sĩ đi theo. Mặc dù da Vinci đã vẽ nên những khung cảnh tôn giáo thông thường trong thời đại của ông, như Magi và Madonna và trẻ em, vị trí độc nhất của ông về các nhân vật quan trọng, kỹ thuật chữ ký và những cải tiến của ông về viễn cảnh đều chưa từng thấy trước đây. Trong Bữa ăn tối cuối cùng, cách anh ta cô lập Chúa Kitô tại tâm chấn của cảnh và biến mỗi sứ đồ thành một thực thể riêng biệt, nhưng đồng thời hợp nhất tất cả họ trong lúc này, là một nét vẽ thiên tài mà các nghệ sĩ tiếp theo trong lịch sử sẽ phấn đấu để nhân rộng.

Cho đến ngày nay, những người đam mê nghệ thuật trên toàn thế giới coi "Mona Lisa" mang tính biểu tượng là một trong những bức tranh vĩ đại nhất mọi thời đại. Hình ảnh của cô tiếp tục xuất hiện trên các mặt hàng từ áo phông đến nam châm tủ lạnh, và thay vì tầm thường hóa việc nhập khẩu kiệt tác, sự phổ biến này phục vụ để bất tử các bức tranh và bản vẽ của Leonardo. Họ vẫn luôn đi đầu trong trái tim và khối óc của mọi người trong nhiều thế kỷ sau khi ông qua đời.

Giống như William Shakespeare về văn học và Sigmund Freud về tâm lý học, tác động của Leonardo đối với nghệ thuật là rất lớn. Trong suốt cuộc đời của mình, Leonardo da Vinci tránh được những mưu mô của tham vọng trần tục và phù phiếm. Ông là một người đàn ông dè dặt và thu mình, không quan tâm đến vinh quang, và hoàn toàn chắc chắn về giá trị của khả năng của mình. Cùng với một nhóm nhỏ gồm các nhân vật thời Phục hưng đương đại, Leonardo da Vinci trở thành trung tâm của một phong trào nghệ sĩ đã làm phong phú vĩnh viễn nền văn hóa phương Tây.
 

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
7. Thomas Newcomen

Thomas Newcomen
Kỹ sư và nhà phát minh người Anh

Thomas Newcomen , (báp têm ngày 28 tháng 2 năm 1664, Dartmouth , Devon , Eng. Đã chết ngày 5 tháng 8 năm 1729, Luân Đôn), kỹ sư người Anh và nhà phát minh động cơ hơi nước trong khí quyển, tiền thân của động cơ James Watt .
Là một thợ rèn sắt ở Dartmouth, Newcomen nhận thức được chi phí cao khi sử dụng sức mạnh của ngựa để bơm nước ra khỏi mỏ thiếc Cornish. Với trợ lý John Calley (hoặc Cawley), một thợ sửa ống nước, anh đã thử nghiệm hơn 10 năm với một bơm hơi. Nó vượt trội so với máy bơm thô Thomas Savery . Trong động cơ của Newcomen, cường độ áp suất không bị giới hạn bởi áp suất của hơi nước. Thay vào đó, áp suất khí quyển đẩy pít-tông xuống sau khi hơi nước ngưng tụ tạo ra chân không trong xi lanh.
Vì Savery đã có được bằng sáng chế rộng rãi cho máy bơm của mình vào năm 1698, Newcomen không thể cấp bằng sáng chế cho động cơ của mình. Do đó, anh đã hợp tác với Savery. Động cơ Newcomen được ghi nhận đầu tiên được dựng gần Lâu đài Dudley, Staffordshire, vào năm 1712.

Động cơ hơi nước mới, 1747.

Động cơ hơi nước mới, 1747. © Photos.com/Jupiterimages

Newcomen đã phát minh ra máy bay phản lực ngưng tụ bên trong để thu được chân không trong xi lanh và thiết bị van tự động. Bằng cách sử dụng hơi nước ở áp suất khí quyển, anh ta giữ trong giới hạn làm việc của vật liệu của mình. Trong một số năm, động cơ của Newcomen đã được sử dụng trong việc rút mìn và trong việc nâng nước để cung cấp năng lượng cho vòi nước.

Mô hình động cơ hơi nước Newcomen, 1856.

Mô hình động cơ hơi nước Newcomen, 1856. © Photos.com/Jupiterimages

Bài viết này được sửa đổi và cập nhật gần đây nhất bởi Amy Tikkanen, Correction Manager.
 

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
8. Isaac Newton
10 phát minh nổi tiếng của Isaac Newton

Nhắc tới nhà phát minh vĩ đại Isaac Newton, chắc chắn ai cũng nghĩ tới câu chuyện "quả táo rơi vào đầu" đã làm nên thuyết vạn vật hấp dẫn. Không chỉ vậy, ông còn sở hữu nhiều phát minh vĩ đại giúp thay đổi thế giới: ba định luật chuyển động, vi phân, tích phân, giả thuật kim...

Tại nhà thờ Westminster Abbey, một dòng chữ bằng tiếng Latin đã được khắc lên trên bia mộ của Newton "Hic depositum est, quod mortale fult Isaac Newtoni" với ý nghĩa là "Một con người đã từng tồn tại và trang hoàng cho sự phát triển của nhân loại".

Isaac Newton

Lời ca tụng trên không hề quá mức đối với những di sản mà thiên tài Newton đã để lại cho loài người. Cùng điểm lại 10 phát minh quan trọng và nổi tiếng nhưng cũng hết sức thú vị của Isaac Newton trong suốt sự nghiệp sáng tạo của ông mà có thể chúng ta ít khi chú ý đến.

1. Ý tưởng của Newton khẩu pháo bắn vào quỹ đạo
Khẩu pháo bắn vào quỹ đạo


Đối với một số ý kiến xuyên tạc sẽ cho rằng làm sao một người đàn ông đang ngáy ngủ và một quả táo vô tình rơi xuống lại làm nên một phát minh vĩ đại đến như vậy? Kết quả của quá trình "chờ sung rụng" chăng? Không hề, điều đó chỉ đến với một bộ óc thiên tài luôn suy nghĩ về các quy luật vật lý mà cụ thể là lực hấp dẫn. Không chỉ dừng lại ở trọng lực mà Newton còn đưa ra nhiều ý tưởng khác đi trước thời đại. Trong định luật hấp dẫn phổ quát, Newton đã diễn tả đến một ngọn núi khổng lồ mà đỉnh của nó là khoảng trên bầu khí quyển của Trái Đất, trên đỉnh có đặt một khẩu pháo vô cùng lớn có thể bắn một viên đạn theo chiều ngang ra ngoài không gian.

Newton không hề có ý định tạo ra một loại siêu vũ khí nhằm bắn những kẻ xâm lược ngoài hành tinh! Khẩu pháo của ông là một ý tưởng thí nghiệm nhằm giải thích làm thế nào để đưa một vật thể vào một quỹ đạo quay quanh Trái Đất.

Nếu lực hấp dẫn tác động lên quá pháo, nó sẽ bay theo đường tùy thuộc vào vận tốc ban đầu của nó .
  • Tốc độ thấp, nó chỉ đơn giản là sẽ rơi trở lại trên Trái đất. Nếu tốc độ là tốc độ quỹ đạo, nó sẽ đi lòng vòng xung quanh Trái đất theo một quỹ đạo tròn cố định giống như mặt trăng.
  • Tốc độ cao hơn so với vận tốc quỹ đạo, nhưng không đủ lớn để rời khỏi trái đất hoàn toàn (thấp hơn vận tốc thoát) nó sẽ tiếp tục xoay quanh Trái đất dọc theo một quỹ đạo hình elip.
  • Tốc độ rất cao, nó thực sự sẽ rời khỏi quỹ đạo và bay ra ngoài vũ trụ.
Thí nghiệm trên đã được trình bày trong Principia Mathematica vào năm 1687, theo đó, tất cả mọi hạt đều gây ra một lực hấp dẫn và bị hấp dẫn bởi những vật thể khác. Lực tương tác này phụ thuộc vào trọng lượng và khoảng cách của hạt hay vật thể đó. Quy tắc này chi phối tất cả các hiện tượng từ mưa rơi cho đến quỹ đạo của các hành tinh. Đây chính là tác phẩm nổi tiếng với nhiều đóng góp quan trọng cho vật lý học cổ điển và cung cấp cơ sở lý thuyết cho du hành không gian cũng như sự phát triển của tên lửa sau này. Sau đó, Einstein cùng các nhà vật lý thế kỷ 16, 17 đã tiếp tục củng cố học thuyết của Newton để cho chúng ta những hiểu biết về lực hấp dẫn như ngày nay.

2. Cánh cửa dành cho chó mèo

10 phát minh nổi tiếng của Isaac Newton


Không chỉ có tầm nhìn mang tính vĩ mô như khẩu pháo không gian và phát hiện ra mối liên hệ giữa vạn vật trong vũ trụ, Newton cũng dùng trí tuệ tuyệt vời của mình để giải quyết những vấn đề thường thức trong đời sống hàng ngày. Điển hình là phương pháp giúp các mèo không cần cào cấu vào cánh cửa nhờ vào tạo ra một lối đi dành riêng cho chúng.

Như chúng ta đã biết, Newton không kết hôn và cũng có ít các mối quan hệ bạn bè, đổi lại ông chọn mèo và chó làm bầu bạn trong căn phòng của của mình. Hiện nay, có nhiều giả thuyết và lập luận cho rằng ông dành nhiều mối quan tâm đến những "người bạn" bé nhỏ của mình. Một số sử gia đương đại cho rằng Newton là một người rất yêu động vật. Một số còn chỉ ra rằng ông đặt tên cho một con chó của mình là Diamond (kim cương). Dù vậy, một số nhà sử học vẫn nghi ngờ về giả thuyết trên.

Một câu chuyện kể rằng trong quá trình nghiên cứu của Newton tại Đại học Cambridge, các thí nghiệm của ông liên tục bị gián đoạn bởi một con mèo của ông luôn cào vào cánh cửa phòng thí nghiệm gây ra những âm thanh phiều toái. Để giải quyết vấn đề, ông đã mời một thợ mộc tại Cambridge để khoét 2 cái lỗ trên cửa ra vào phòng thí nghiệm: 1 lỗ lớn dành cho mèo mẹ và 1 lỗ nhỏ dành cho mèo con!

Dù câu chuyện trên là đúng hay sai thì theo các ghi chép đương thời sau khi Newton qua đời thì có một sự thật hiển nhiên rằng người ta đã tìm thấy 1 cánh cửa với 2 cái lỗ tương ứng với kích thước của mèo mẹ và mèo con. Cho tới ngày nay vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh câu chuyện trên. Tuy nhiên, nhiều ý kiến vẫn cho rằng chính Newton mới là tác giả của cánh cửa dành cho chó mèo vẫn còn được sử dụng ngày nay.

3. Ba định luật về chuyển động của Newton
Ba định luật về chuyển động của Newton


Trong khi các sử gia vẫn còn tranh cãi về những cánh cửa dành cho thú cưng có phải là của Newton hay không thì không một ai có thể phủ nhận đóng góp của Newton cho hiểu biết của con người trong vật lý học ngày nay. Tầm quan trọng tương đương với việc phát hiện ra định luật vạn vật hấp dẫn, 3 định luật về chuyển động được Newton giới thiệu vào năm 1687 trong tác phẩm Philosophiae Naturalis Principia Mathematica (Các nguyên lý toán học trong triết học tự nhiên). 3 định luật của ông đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của cơ học cổ điển (còn gọi là cơ học Newton) trong thời gian sau này.
3 định luật của ông được miêu tả ngắn gọn như sau:
  • Nếu một vật không chịu tác dụng của lực nào hoặc chịu tác dụng của các lực có hợp lực bằng không thì nó giữ nguyên trạng thái đứng yên hoặc chuyển động thẳng đều.
  • Gia tốc của 1 vật cùng hướng với lực tác dụng lên vật. Độ lớn của gia tốc tỷ lệ thuận với độ lớn của lực và tỉ lệ nghịch với khối lượng của vật.
  • Trong mọi trường hợp, khi vật A tác dụng lên vật B một lực, thì vật B cũng tác dụng lại vật A một lực. Hai lực này có cùng giá, cùng độ lớn nhưng ngược chiều.
Bìa quyển sách Philosophiae Naturalis Principia Mathematica

Bìa quyển sách Philosophiae Naturalis Principia Mathematica (Các nguyên lý toán học trong triết học tự nhiên) xuất bản năm 1687

Ngày nay, chúng ta có thể dễ dàng phát biểu và hiểu về 3 định luật nổi tiếng trên. Tuy nhiên, các học giả trong lịch sử đã phải vật lộn với những khái niệm cơ bản về chuyển động trong suốt nhiều thế kỷ. Nhà triết học Hy Lạp Aristotle từng nghĩ rằng sở dĩ khói có thể bay lên trên không là vì khói chứa nhiều không khí. Trước đó, các học giả khác lại nghĩ rằng khói bay lên trời để tụ hợp cùng với những đám khói "bạn bè" của chúng. Nhà triết học Pháp René Descartes đã từng nghĩ tới những lý thuyết về chuyển động tương tự như Newton nhưng cuối cùng, ông vẫn cho rằng Thiên Chúa mới chính là động lực của các chuyển động.
3 định luật Newton như một vẻ đẹp đến từ sự tối giản trong khoa học. Dù đơn giản như thế, nhưng đây chính là căn cứ để các nhà khoa học có thể hiểu được tất cả mọi thứ chuyển động từ của các hạt electron cho tới chuyển động xoắn ốc của cả thiên hà.

4. Hòn đá phù thủy của "nhà giả kim thuật" Newton
Hòn đá phù thủy của nhà giả kim thuật Newton


Trong một bức vẽ về một nhà giả kim thuật, chúng ta thấy các biểu tượng hành tinh diễn tả các kim loại trong một quyển sách đang mở ra dưới sàn nhà. Đây được cho là các biểu tượng mà Newton đã sử dụng trong các ghi chép của ông.

Newton đã cống hiến rất nhiều cho nhân loại với những khám phá khoa học của ông. Bên cạnh đó, người ta cũng nhắc đến ông như 1 trong những nhà giả kim học lỗi lạc nhất: huyền thoại giả kim thuật với hòn đá phù thủy. Các văn bản ghi chép lại còn được lưu trữ đến ngày nay đã có nhiều mô tả khác nhau về hòn đá này: từ khả năng tạo nên người từ đá cho tới khả năng chuyển hóa từ chì thành vàng. Thậm chí, những người bấy giờ còn cho rằng hòn đá của ông có thể chữa bệnh hoặc có thể biến một con bò không đầu thành một bầy ong.

Có lẽ các bạn sẽ thắc mắc tại sao một biểu tượng của khoa học lại trở thành một nhà giả kim thuật? Để trả lời câu hỏi đó, hãy nghĩ đến bối cảnh bấy giờ, cuộc cách mạng khoa học chỉ mới đạt được động cơ hơi nước vào những năm 1600. Các nhà giả kim thuật bấy giờ vẫn còn tồn tại cùng với những thủ thuật lỗi thời của họ cùng với các học thuyết và triết học huyền bí nhằm mê hoặc một số người. Dù vậy, các ghi chép giả kim thuật vẫn được cho là những thí nghiệm hóa học.

Bút tích còn lưu lại của Newton về nghiên cứu giả kim

Bút tích còn lưu lại của Newton về nghiên cứu giả kim

Tuy nhiên, những ghi chép trong suốt 30 năm làm thí nghiệm của Newton đã tiết lộ rằng ông cũng hy vọng về một cái gì đó hơn là những phản ứng hóa học bình thường, thậm chí là hứa hẹn về việc biến các nguyên tố khác thành vàng. Theo sử gia William Newman, ông cho rằng Newton muốn tìm kiếm những "quyền lực siêu hạn trong tự nhiên."

Đây chính là những căn cứ cho lập luận rằng Newton cũng đã có những nghiên cứu và để lại ghi chép về giả kim mà người đương thời gọi là "hòn đá phù thủy." Các ghi chép cho thấy ông đã tìm cách tạo nên những loại nguyên tố bí ẩn lúc bấy giờ. Trên thực tế, Newton đã có những nỗ lực nhằm tạo ra một loại hợp kim đồng màu tím. Dù vậy, nghiên cứu của ông đã thất bại.

Đây có thể không phải là một sáng chế của Newton, nhưng nó cũng cho chúng ta một cái nhìn về những suy nghĩ cũng như thời gian mà ông dành cho các nghiên cứu khoa học. Vào năm 2005, nhà sử học Newman cũng đã tạo nên một "hòn đá phù thủy" dựa trên các ghi chép 300 năm trước của Newton và dĩ nhiên, không có sự chuyển hóa tạo thành vàng xảy ra.

5. Cha đẻ của các phép tính vi phân
Bút tích của Newton còn lưu giữ đến ngày nay

Bút tích của Newton còn lưu giữ đến ngày nay

Nếu bạn đã hoặc đang đau đầu với môn toán học mà đặc biệt là tích phân và vi phân đã cày nát bộ não của bạn, bạn có thể đổ một phần lỗi cho Newton! Trên thực tế, hệ thống toán học chính là một công cụ để chúng ra có thể tìm hiểu được mọi thứ trong vũ trụ này. Giống như nhiều nhà khoa học cùng thời, Newton cũng đã nhận thấy rằng các lý thuyết đại số và hình học trước đó không đủ cho yêu cầu nghiên cứu khoa học của ông. Hệ thống toán học đương thời không đủ để phục vụ ông.
Các nhà toán học lúc bấy giờ có thể tính toán được vận tốc của một con tàu nhưng họ vẫn không thể tính toán được mối liên hệ với gia tốc của nó cũng như tỷ lệ của lực tác động. Họ vẫn chưa thể tính toán được góc bắn là bao nhiêu để viên đạn pháo bay đi xa nhất. Các nhà toán học đương thời vẫn cần một phương pháp để tính toán các hàm có nhiều biến.

Một sự kiện đã xảy đến trong quá trình nghiên cứu của Newton, một đợt bùng phát bệnh dịch hạch đã khiến hàng loạt người chết trên khắp các đường phố tại Cambridge. Tất cả các cửa hàng đều đóng cửa và dĩ nhiên, Newton cũng phải hạn chế đi ra ngoài. Đó là khoảng thời gian 18 tháng nghiên cứu của Newton để rồi ông xây dựng nên một mô hình toán học và đặt tên là "khoa học của sự liên tục".

Ngày nay, chúng ta biết đó chính là các phép tính vi-tích phân. Một công cụ quan trọng trong vật lý, kinh tế học và các môn khoa học xác suất. Vào những năm 1960, chính các hàm số vi-tích phân này đã cung cấp công cụ cho phép các kỹ sư phi thuyền Apollp có thể tính toán được các số liệu trong sứ mạng đặt chân lên Mặt Trăng.
Dĩ nhiên, một mình Newton không tạo nên phép toán mà chúng ta sử dụng ngày nay. Ngoài Newton, nhà toán học người Đức Gottfried Leibniz (1646-1716) cũng đã độc lập phát triển mô hình phép tính vi - tích phân trong cùng thời gian với Newton. Dù vậy, chúng ta vẫn phải công nhận tầm quan trọng của Newton trong sự phát triển toán học hiện đại với các đóng góp không nhỏ của ông.

6. "Sinh sự" với cầu vồng
Thí nghiệm của Newton

Thí nghiệm của Newton

Càua vồng? Cầu vồng là gì? Bạn nghĩ rằng Newton để yên cho những bí mật bên trong cầu vồng? Không hề! Thiên tài của chúng ta đã quyết tâm giải mã những điều ẩn chứa bên trong hiện tượng thiên nhiên này. Vào năm 1704, ông đã viết một quyển sách về vấn đề khúc xạ ánh sáng với tiêu đề "Opticks". Quyển sách đã góp một phần không nhỏ trong việc thay đổi cách nghĩ của chúng ta về ánh sáng và màu sắc.

Các nhà khoa học bấy giờ đều biết rằng cầu vồng được hình thành khi ánh sáng bị khúc xạ và phản xạ trong những hạt nước mưa trong không khí. Dù vậy, họ vẫn chưa thể lý giải rõ ràng được tại sao cầu vồng lại chứa nhiều màu sắc như vậy. Khi Newton bắt đầu nghiên cứu tại Cambridge, các lý thuyết phổ biến trước đó vẫn cho rằng các hạt nước bằng cách nào đó đã nhuộm nhiều màu sắc khác nhau lên tia sáng Mặt Trời.

Bằng cách sử dụng một lăng kính và một chiếc đèn, Newton đã thực hiện thí nghiệm bằng cách cho ánh sáng chiếu qua lăng kính. Và kết quả như tất cả chúng ra đều biết, ánh sáng bị tách ra thành các màu như cầu vồng.

7. Kính viễn vọng phản xạ
Một bản sao của chiếc kính viễn vọng phản xạ do Newton chế tạo và đã trình bày trước Hội đồng hoàng gia vào năm 1672

Một bản sao của chiếc kính viễn vọng phản xạ do Newton chế tạo và đã trình bày trước Hội đồng hoàng gia vào năm 1672

Newton được sinh ra trong thời kỳ mà sự hiện diện của kính viễn vọng vẫn còn khá mờ nhạt. Mặc dù vậy, các nhà khoa học đã có thể chế tạo nên các mô hình sử dụng một tập hợp các thấu kính thủy tinh để phóng to hình ảnh. Trong thí nghiệm với các màu sắc của Newton, ông đã biết được các màu sắc khác nhau sẽ khúc xạ với các góc độ khác nhau, từ đó tạo nên một hình ảnh lờ mờ cho người xem.

Để cải tiến chất lượng hình ảnh, Newton đã đề xuất sử dụng một gương khúc xạ thay cho các thấu kính khúc xạ trước đó. Một tấm gương lớn sẽ bắt lấy hình ảnh, sau đó một gương nhỏ hơn sẽ phản xạ hình ảnh bắt được tới mắt của người ngắm. Phương pháp này không chỉ tạo nên hình ảnh rõ ràng hơn mà con cho phép tạo nên một kính viễn vọng với kích thước nhỏ hơn.

Một số ý kiến cho rằng, nhà toán học người Scotland James Gregory là người đầu tiên đề xuất ý tưởng chế tạo kính viễn vọng phản xạ vào năm 1663 dù mô hình này vẫn chưa thể hoạt động hoàn chỉnh. Tuy nhiên, dựa trên các ghi chép còn lưu trữ lại, các nhà sử học cho rằng Newton mới là người đầu tiên có thể chế tạo một chiếc kính viễn vọng phản xạ dựa trên lý thuyết do ông đề xuất.

Trên thực tế, Newton đã tự mài các tấm gương, lắp ráp một mẫu thử nghiệm và trình bày nó với Hội đồng hoàng gia vào năm 1672. Đó chỉ đơn thuần là 1 thiết bị dài 15 cm, có khả năng loại bỏ sự khúc xạ và có độ phóng đại lên tới 40 lần. Đến ngày nay, gần như tất cả các đài thiên văn học đều sử dụng các biến thể của thiết kế ban đầu nói trên của Newton.

8. Đồng xu hoàn hảo
Những đồng 2 pound tại Anh với các khía 2 xung quanh cạnh

Những đồng 2 pound tại Anh với các khía 2 xung quanh cạnh

Vào những cuối những năm 1600, hệ thống tài chính tại Anh lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng. Bấy giờ, toàn bộ hệ thống tiền tệ trong cả nước Anh đều sử dụng các đồng xu bạc và dĩ nhiên, bản thân bạc có giá trị cao hơn so với giá trị định danh được in trên mỗi đồng xu. Lúc đó nảy sinh ra một vấn đề, có người sẽ cắt xén bớt hàm lượng bạc và thêm vào các kim loại khác trong quá trình nấu và đúc tiền. Lượng bạc cắt xén được sẽ bị "chảy máu" sang Pháp thông qua đường biên giới để bán được giá cao hơn.

Thậm chí, bấy giờ còn là cuộc khủng hoảng của việc tranh giành nhau nhận thầu đúc tiền. Do đó, lòng tin của người dân vào hệ thống tài chính suy giảm nghiêm trọng. Đồng thời, các tổ chức tội phạm làm tiền giả cũng mặc sức lan tràn do đã không còn một đồng tiền chuẩn đáng tin tưởng nào đang lưu thông. Mặt khác, sự gian lận cũng diễn ra ngay trong quá trình đúc tiền. Sau khi đúc mỗi mẻ tiền xu, người ta sẽ cân mỗi đồng xu lấy ra và xem nó lệch so với tiêu chuẩn là bao nhiêu. Nếu giá trị bạc dư ra lớn hơn so với giá trị in trên nó, những kẻ đầu cơ sẽ mua chúng, nấu chảy ra và tiếp tục bán lại cho chính xưởng đúc tiền để kiếm lời.

Trước tình hình đó, vào năm 1696, chính phủ Anh đã kêu gọi Newton giúp tìm ra giải pháp tìm ra giải pháp chống nạn sao chép và cắt xén đồng xu bạc. Newton đã có một bước đi hết sức táo bạo là thu hồi toàn bộ tiền xu trên khắp đất nước, tiến hành nấu lại và đúc theo một thiết kế mới của ông. Bước đi này đã khiến cho toàn bộ nước Anh không có tiền trong lưu thông trong suốt 1 năm.

Bấy giờ, Newton đã làm việc cật lực trong suốt 18 giờ mỗi ngày để rồi cuối cùng, thiết kế tiền xu mới cũng được ra đời. Những đồng tiền mới được đúc ra với chất lượng bạc cao hơn, đồng thời rìa mỗi đồng xu đều được khía các cạnh theo một công thức đặc biệt. Nếu không có các cỗ máy khía cạnh chuyên dụng thì sẽ không thể nào tạo ra được các đồng xu mang đặc trưng như do Hoàng gia đúc ra.

9. Sự mất nhiệt
Trong các nghiên cứu của mình, Newton cũng đã dành nhiều thời gian để tìm hiểu khía cạnh vật lý của hiện tượng lạnh đi của các chất. Vào cuối những năm 1700, ông đã tiến hành các thí nghiệm với quả cầu sắt nung đỏ. Ông đã lưu ý trong các ghi chép rằng có sự khác biệt giữa nhiệt độ của quả bóng sắt và không khí xung quanh. Cụ thể, nhiệt độ chênh lệch lên tới 10 độ C. Và ông cũng nhận ra rằng tốc độ mất nhiệt tỷ lệ thuận với sự khác biệt về nhiệt độ.

Từ đó, Newton hình thành nên định luật về trạng thái làm mát. Theo đó, tốc độ mất nhiệt của cơ thể tỷ lệ thuận với sự khác biệt về nhiệt độ giữa môi trường xung quanh so với nhiệt độ cơ thể. Sau này, nhà hóa học người Pháp Piere Dulong và nhà vật lý Alexis Prtot đã hoàn thiện định luật trên vào năm 1817 dựa trên nền tảng từ nghiên cứu của Newton. Nguyên tắc của Newton đã đặt nền móng cho nhiều nghiên cứu khác của vật lý hiện đại từ lò phản ứng hạt nhân an toàn cho tới việc thám hiểm không gian.

10. Dự đoán của Newton về ngày tận thế
Hình vẽ 4 loài thú dữ xuất hiện vào ngày tận thế mô tả trong Book of Daniel

Hình vẽ 4 loài thú dữ xuất hiện vào ngày tận thế mô tả trong Book of Daniel

Ngày tận thế luôn là nỗi ám ảnh của con người. Dù vậy, Newton không phải là dạng người có thể dễ dàng chấp nhận nỗi sợ hãi về ngày tận thế qua những câu chuyện hay những truyền thuyết. Bản thân Newton là một người thực tế và luôn tìm cách kiểm định, đưa ra các quan điểm của mình trong quá trình nghiên cứu Kinh Thánh.
Trong quá trình nghiên cứu, Newton đã không đặt nặng khía cạnh Thần học mà dùng các kiến thức của mình nhằm cố lý giải vấn đề. Theo các ghi chép cách đây 300 năm còn được lưu trữ đến ngày nay cho thấy Newton đã nghiên cứu Book of Daniel. Để phục vụ nghiên cứu, ông đã tự học tiếng Do Thái, tập trung nghiên cứu triết học Do Thái bí truyền.

Qua nghiên cứu, ông dự đoán ngày tận cùng của thế giới là vào năm 2060 hoặc có thể là sau đó nhưng không thể sớm hơn. Dù sao đi nữa, đó vẫn là những gì mà ông tuyên bố với mọi người vào thế kỷ 18. Dĩ nhiên, ngày nay, các nhà khoa học đã có một lời giải đáp hoặc dự đoán tốt hơn cho hiện tượng tận thế nói chung. Qua đó, chúng ta phần nào hiểu được thêm về quan điểm của 1 nhà khoa học vào thế kỷ 18 về ngày tàn của nhân loại.


Cập nhật: 09/05/2016 Theo Tinh Tế
 

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
9. John Logie Baird
Tiểu sử John Logie Baird

John Logie Baird (1888 - 1946) là một kỹ sư và nhà phát minh người Scotland, người đã trình diễn các vật thể chuyển động được truyền hình đầu tiên, truyền hình xuyên Đại Tây Dương đầu tiên và TV màu đầu tiên vào năm 1941.

Sinh học ngắn John Logie Baird

john-logie-baird


Baird được sinh ra ở Helensburgh, Argyll và Bute, Scotland, vào năm 1888. Ông học tại Đại học Glasgow trước khi Thế chiến thứ nhất can thiệp. Ông tình nguyện cho quân đội vào năm 1915, nhưng được tuyên bố là không phù hợp với sự phục vụ tích cực và dành chiến tranh tham gia vào công việc đạn dược.
Baird bắt đầu nghiên cứu về các vấn đề truyền hình các vật thể chuyển động ở tuổi 18 và tiếp tục thực hiện các thí nghiệm trong thời gian rảnh rỗi.
Năm 1923, ông chuyển đến Hastings ở Anh và thuê một xưởng sản xuất, nơi ông tiếp tục hoàn thiện các thiết kế thử nghiệm của mình để di chuyển hình ảnh trên TV. Để tạo ra chiếc tivi đầu tiên, anh đã sử dụng nhiều vật dụng thông thường trong gia đình như hộp đựng mũ cũ, một chiếc kéo, ống kính đèn xe đạp, rương trà đã qua sử dụng và keo dán mà anh đã mua. Ông cũng được hưởng lợi từ công việc của Arthur Korn trong việc phát triển truyền hình ảnh từ điều hòa tín hiệu. Bước đột phá của Baird là phát triển một tế bào quang điện mạnh hơn và cải thiện điều hòa tín hiệu cho hình ảnh.
Mặc dù phải chịu một cú sốc điện (làm bỏng tay và khiến bà chủ nhà yêu cầu anh ta rời đi), anh ta bắt đầu trình diễn thành công các nguyên mẫu của hình ảnh chuyển động.
Đến năm 1926, ông đã có thể hiển thị thành công các vật thể được truyền hình trực tiếp, sử dụng một điểm sáng để quét một ống tia âm cực. Ông đã trình diễn tv của mình cho Viện Hoàng gia vào ngày 26 tháng 1 năm 1926.
Đến năm 1928, ông đã có thể phát sóng truyền hình xuyên Đại Tây Dương đầu tiên
Năm 1929, bưu điện Đức bắt đầu sử dụng hệ thống của mình, nơi ông đã áp dụng thành công cho các vật thể chuyển động. Cũng trong năm 1929, BBC đã thông qua hệ thống của Baird trong năm đó và phát các chương trình từ Crystal Palace. Về lý thuyết, các chương trình phát sóng có sẵn cho mười triệu người.

Sơ đồ ban đầu của Baird TV
baird-tv

Nguồn: Cơ chế phổ biến nổi tiếng (1933)

hệ thống Baird. Năm 1937, BBC đã từ bỏ hệ thống của Baird cho hệ thống điện tử đối thủ của Công ty Marconi. Baird cũng sản xuất những hình ảnh truyền hình màu đầu tiên vào năm 1941.
Vào thời điểm phát minh ra TV, ít ai có thể đoán được tác động của nó đối với xã hội. Trước chiến tranh, nó vẫn là một điều mới lạ đối với chỉ một số người được chọn. Nhưng, sau thế giới thứ hai, truyền hình đã trở thành một phần thiết yếu của gần như tất cả các hộ gia đình. Nó đã trở thành hình thức giải trí phổ biến nhất dẫn đến sự suy giảm của nhiều hình thức giải trí thay thế như hội trường âm nhạc và đài phát thanh.
Ông đã thử sức mình với những phát minh khác, điều đó tỏ ra ít thành công hơn. Ở tuổi đôi mươi, ông đã cố gắng tạo ra những viên kim cương làm từ than chì, nhưng điều này đã thất bại và ông cũng đã quản lý được mạng điện ngắn mạch ở Glasgow. Anh ta tạo ra một chiếc dao cạo thủy tinh làm vỡ và giày khí nén vỡ ra. Đau khổ vì đôi chân lạnh, anh đã phát minh ra một chiếc tất tự sưởi ấm, mặc dù sau đó anh thấy việc đặt một lớp bông bên trong chiếc tất có hiệu quả hơn.

Thành công hơn, anh đã cố gắng tạo ra thiết bị quay video đầu tiên trên thế giới. Máy ghi âm của anh ấy có thể ghi tín hiệu video 30 dòng lên đĩa đen 78. Mặc dù nó không bao giờ bị bắt, nhưng nó cho thấy năng lực sáng tạo của mình.
Ông kết hôn với Margaret hiên năm 1931 và họ có hai con Diana Baird và Malcolm Baird.
Baird bị mắc kẹt trong suốt cuộc đời. Baird qua đời vào ngày 14 tháng 6 năm 1946 tại Bexhill-on-Sea ở Sussex.
Ông xếp hạng 44 trong danh sách 100 người Anh vĩ đại nhất và là một trong mười nhà khoa học vĩ đại nhất của Scotland .

John Logie Baird
 

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
10. James Watt
James Watt FRS FRSE ( / w ɒ t / ; 30 tháng 1 năm 1736 (19 tháng 1 năm 1736) - 25 tháng 8 năm 1819) [1] là một nhà phát minh , kỹ sư cơ khí và nhà hóa học người Scotland đã cải tiến trên động cơ hơi nước Newcomen 1712 của Thomas Newcomen với động cơ hơi nước Watt của ông vào năm 1776, đó là nền tảng cho những thay đổi do Cách mạng Công nghiệp mang lại ở cả Vương quốc Anh và phần còn lại của thế giới.
Chữ ký
James Watt
Watt James von Breda.jpg
Chân dung James Watt (1736 Hàng1819)
bởi Carl Frederik von Breda
Sinh ra 19 tháng 1 năm 1736
Greenock , Renfrewshire , Scotland, Vương quốc Anh
Chết 25 tháng 8 năm 1819 (ở tuổi 83) [1]
Handsworth , Birmingham, Anh, Vương quốc Anh
Nơi nghỉ ngơi Nhà thờ Thánh Mary, Handsworth
Nơi cư trú Glasgow , Scotland, rồi Handsworth , Anh
Quốc tịch Tiếng Scotland
Quyền công dân người Anh
Được biết đến với Động cơ hơi nước watt
Bình ngưng riêng
Chuyển động song song
Thiết bị mặt trời và hành tinh (với William Murdoch )
Thống đốc ly tâm
Biểu đồ chỉ số (với John Southern )
Người phối ngẫu Margaret Miller (m. 1764-1773, cái chết của cô)
Anne McGrigor (m.1776-1819 ông qua đời)
Bọn trẻ Margaret (1767-1796)
Gia-cơ (1769-1848)
Gregory (1777 Từ1804)
Janet (Jessy; 1779 Từ1794)
Sự nghiệp khoa học
Lĩnh vực kỹ sư cơ khí
Tổ chức Đại học Glasgow
Boulton và Watt
Ảnh hưởng Thomas Newcomen
Joseph Đen
Adam Smith
John Robison (nhà vật lý)
John Roebuck
James Keir
Chữ ký James Watt.svg

Tượng của watt.
( Bảo tàng Hunterian, Glasgow , bởi Francis Chantrey .)

Khi làm việc như một nhà sản xuất nhạc cụ tại Đại học Glasgow , Watt bắt đầu quan tâm đến công nghệ động cơ hơi nước . Ông nhận ra rằng các thiết kế động cơ hiện đại đã lãng phí rất nhiều năng lượng bằng cách liên tục làm mát và hâm nóng xi lanh . Watt đã giới thiệu một cải tiến thiết kế, thiết bị ngưng tụ riêng biệt , giúp tránh sự lãng phí năng lượng này và cải thiện triệt để sức mạnh, hiệu quả và hiệu quả chi phí của động cơ hơi nước. Cuối cùng, ông đã điều chỉnh động cơ của mình để tạo ra chuyển động quay, mở rộng đáng kể việc sử dụng nó ngoài việc bơm nước. Watt đã cố gắng thương mại hóa phát minh của mình, nhưng trải qua những khó khăn tài chính lớn cho đến khi ông bắt đầu hợp tác với Matthew Boulton vào năm 1775. Công ty mới của Boulton và Watt cuối cùng đã rất thành công và Watt trở thành một người đàn ông giàu có. Khi nghỉ hưu, Watt tiếp tục phát triển những phát minh mới mặc dù không có gì quan trọng bằng công việc động cơ hơi nước của ông. Ông đã phát triển khái niệm mã lực , [2] và đơn vị sức mạnh SI , watt , được đặt theo tên ông.




Giáo dục và giáo dục sớm

James Watt sinh ngày 19 tháng 1 năm 1736 tại Greenock , Renfrewshire , con cả trong số năm người con còn sống của Agnes Muirhead (1703 Lỗi1755) và James Watt (1698 Chuyện1782). [3] Mẹ anh xuất thân từ một gia đình danh giá, được giáo dục tốt và được cho là có tính cách mạnh mẽ, trong khi cha anh là một người đóng tàu , chủ tàu và nhà thầu, và từng là baillie trưởng của Greenock năm 1751. [3] [4] Cha mẹ của Watts là Trưởng lãoGiao ước mạnh mẽ, [5] tuy nhiên mặc dù có sự giáo dục tôn giáo, sau đó ông đã trở thành một vị thần . [6] [7] Ông nội của Watt, Thomas Watt (1642 Ném1734), là giáo viên toán học, khảo sát và điều hướng [3]baillie cho Nam tước Cartsburn . [số 8]
Ban đầu, watt được giáo dục tại nhà bởi mẹ của mình, sau đó tiếp tục theo học trường ngữ pháp Greenock. Ở đó, anh thể hiện năng khiếu toán học , trong khi tiếng Latintiếng Hy Lạp không làm anh hứng thú.
Anh ta được cho là đã trải qua những cơn đau ốm kéo dài khi còn nhỏ và thường xuyên bị đau đầu suốt đời. [3] [9]
Sau khi rời trường, watt làm việc trong các xưởng của các doanh nghiệp của cha mình, thể hiện sự khéo léo và kỹ năng đáng kể trong việc tạo ra các mô hình kỹ thuật. Sau khi cha anh phải chịu một số dự án kinh doanh không thành công, Watt đã rời Greenock để tìm việc làm ở Glasgow với tư cách là một nhà sản xuất dụng cụ toán học . [3]


Tiểu sử


James Watt của John Partridge , sau Sir William Beechey (1806) [10] [11]


Bức tượng bán thân của watt trong phòng trưng bày chân dung quốc gia Scotland

Khi anh 18 tuổi, mẹ anh qua đời và sức khỏe của cha anh bắt đầu thất bại. Watt đã tới Luân Đôn và có thể có được một thời gian đào tạo như một nhà sản xuất nhạc cụ trong một năm (1755/56), sau đó trở về Scotland, định cư tại thành phố thương mại lớn của thành phố Glasgow với ý định thành lập doanh nghiệp sản xuất nhạc cụ của riêng mình. Anh ta vẫn còn rất trẻ và chưa có thời gian học việc đầy đủ, không có các kết nối thông thường thông qua một bậc thầy cũ để thành lập mình như một nhà sản xuất nhạc cụ hành trình.
Watt đã được cứu khỏi tình trạng bế tắc này khi đến từ Jamaica các công cụ thiên văn được Alexander Macfarlane đưa đến Đại học Glasgow , công cụ cần sự chú ý của chuyên gia. [12] Watt đã khôi phục chúng trở lại trật tự làm việc và được trả thù lao. Những thiết bị này cuối cùng đã được cài đặt trong Đài thiên văn Macfarlane . Sau đó, ba giáo sư đã cho anh cơ hội thành lập một hội thảo nhỏ trong trường đại học. Nó được khởi xướng vào năm 1757 và hai trong số các giáo sư, nhà vật lýhóa học Joseph Black cũng như Adam Smith nổi tiếng, đã trở thành bạn của Watt. [13]
Đầu tiên, ông làm việc để duy trì và sửa chữa các dụng cụ khoa học được sử dụng trong trường đại học, giúp trình diễn và mở rộng sản xuất các góc phần tư . Ông đã chế tạo và sửa chữa đồng thau phản xạ góc phần tư , thước kẻ song song , cân, bộ phận cho kính thiên văn và phong vũ biểu, trong số những thứ khác.
Đôi khi người ta nói sai rằng anh ta đấu tranh để thành lập chính mình tại Glasgow do sự phản đối của Nhà giao dịch, nhưng huyền thoại này đã được nhà sử học Lumsden vạch trần triệt để. Các hồ sơ từ thời kỳ này đã bị mất nhưng được biết rằng anh ta có thể làm việc và giao dịch hoàn toàn bình thường như một công nhân kim loại lành nghề, vì vậy, Thành lập của Hammermen phải hài lòng rằng anh ta đáp ứng các yêu cầu của họ để trở thành thành viên [14] . Người ta cũng biết rằng những người khác trong ngành kim loại đã được theo đuổi để làm việc mà không phải là thành viên của Thành lập vào thế kỷ 19, vì vậy các quy tắc chắc chắn được thực thi khi Watt giao dịch tự do trên toàn thành phố.
Năm 1759, ông thành lập một quan hệ đối tác với John Craig, một kiến trúc sư và doanh nhân, để sản xuất và bán một dòng sản phẩm bao gồm các nhạc cụ và đồ chơi. Sự hợp tác này đã kéo dài trong sáu năm tiếp theo và sử dụng tới mười sáu công nhân. Craig qua đời vào năm 1765. Một nhân viên, Alex Gardner, cuối cùng đã tiếp quản công việc kinh doanh, kéo dài đến thế kỷ XX. [15]
Năm 1764, Watt kết hôn với anh em họ Margaret (Peggy) Miller, người có 5 người con, hai người sống đến tuổi trưởng thành: James Jr. (1769 Chuyện1848) và Margaret (1767 Chuyện1796). Vợ ông qua đời khi sinh con vào năm 1772. Năm 1777, ông kết hôn lần nữa, với Ann MacGregor, con gái của một nhà sản xuất thuốc nhuộm ở Glasgow, người có hai con: Gregory (1777 ném1804), người đã trở thành nhà địa chất và nhà khoáng vật học, [16 ] và Janet (1779 Từ1794). Ann qua đời vào năm 1832. Từ năm 1777 đến 1790, ông sống ở Regent Place, Birmingham.

Oát và ấm đun nước
Có một câu chuyện phổ biến rằng Watt đã được truyền cảm hứng để phát minh ra động cơ hơi nước bằng cách nhìn thấy một ấm đun nước sôi, hơi nước buộc nắp tăng lên và do đó cho thấy sức mạnh của hơi nước. Câu chuyện này được kể dưới nhiều hình thức; ở một số watt là một chàng trai trẻ, ở những người khác, anh ta lớn tuổi hơn, đôi khi đó là ấm đun nước của mẹ anh ta, đôi khi là của dì anh ta. James Watt tất nhiên không thực sự phát minh ra động cơ hơi nước, như câu chuyện ngụ ý, nhưng đã cải thiện đáng kể hiệu quả của động cơ Newcomen hiện tại bằng cách thêm một bộ ngưng tụ riêng. Điều này rất khó để giải thích cho một người không quen thuộc với các khái niệm về nhiệt và hiệu quả nhiệt. Dường như câu chuyện về Watt và ấm đun nước đã được tạo ra, có thể là bởi con trai của Watt, James Watt Jr., và vẫn tồn tại bởi vì trẻ em dễ hiểu và dễ nhớ. [17] Trong ánh sáng này, nó có thể được xem giống như câu chuyện về Isaac Newton , quả táo rơi và khám phá về lực hấp dẫn của ông.
Mặc dù nó thường bị coi là một huyền thoại, giống như hầu hết các câu chuyện hay, câu chuyện về James Watt và ấm đun nước có cơ sở trên thực tế. Khi cố gắng tìm hiểu nhiệt động lực học của nhiệt và hơi nước, James Watt đã thực hiện nhiều thí nghiệm trong phòng thí nghiệm và nhật ký của ông ghi lại rằng khi thực hiện chúng, ông đã sử dụng ấm đun nước làm nồi hơi để tạo ra hơi nước. [18]

Thử nghiệm sớm với hơi nước

James Eckfordinois : James Watt và Steam Engine: Dawn of the Nineteenth Century , 1855


Bình ngưng gốc của Watt ( Bảo tàng Khoa học )

Vào năm 1759, người bạn của John , John Robison , đã kêu gọi sự chú ý của mình đến việc sử dụng hơi nước như một nguồn động lực . [19] Thiết kế của động cơ Newcomen , được sử dụng trong gần 50 năm để bơm nước từ các mỏ, hầu như không thay đổi so với lần đầu tiên thực hiện. Watt bắt đầu thử nghiệm với hơi nước, mặc dù anh chưa bao giờ thấy một động cơ hơi nước hoạt động. Ông đã cố gắng xây dựng một mô hình; nó không hoạt động tốt, nhưng anh tiếp tục thí nghiệm và bắt đầu đọc mọi thứ có thể về chủ đề này. Anh ta nhận ra tầm quan trọng của nhiệt năng tiềm ẩn nhiệt năng được giải phóng hoặc hấp thụ trong quá trình nhiệt độ không đổi nhiệt độ trong việc tìm hiểu động cơ, mà không biết đến Watt, người bạn Joseph Joseph của anh ta đã phát hiện ra vài năm trước. Sự hiểu biết về động cơ hơi nước ở trạng thái rất nguyên thủy, vì khoa học nhiệt động lực học sẽ không được chính thức hóa trong gần 100 năm nữa.
Năm 1763, Watt được yêu cầu sửa chữa một động cơ Newcomen kiểu mẫu của trường đại học. [19] Ngay cả sau khi sửa chữa, động cơ hầu như không hoạt động. Sau nhiều thử nghiệm, Watt đã chứng minh rằng khoảng 3/4 năng lượng nhiệt của hơi nước đã được tiêu thụ để làm nóng xi lanh động cơ trên mỗi chu kỳ. [20] Năng lượng này bị lãng phí vì sau đó trong chu kỳ, nước lạnh được bơm vào xi lanh để ngưng tụ hơi nước để giảm áp suất. Do đó, bằng cách liên tục làm nóng và làm mát xi lanh, động cơ đã lãng phí phần lớn năng lượng nhiệt của nó thay vì chuyển đổi thành năng lượng cơ học .
Cái nhìn sâu sắc quan trọng của watt, đến vào tháng 5 năm 1765, [21] là làm cho hơi nước ngưng tụ trong một buồng riêng biệt ngoài piston và để duy trì nhiệt độ của xi lanh ở cùng nhiệt độ với hơi được bơm bằng cách bao quanh nó với một "áo khoác hơi nước." [20] Do đó, rất ít năng lượng được hấp thụ bởi xi lanh trên mỗi chu kỳ, giúp sẵn sàng hơn để thực hiện công việc hữu ích. Watt đã có một mô hình làm việc vào cuối năm đó.


Sự tàn phá của xưởng sản xuất nhà tranh của Watt tại Kinneil House [22]


Mảnh xi lanh của động cơ hoạt động đầu tiên của Watt tại Carron Works , Falkirk

Mặc dù có khả năng thiết kế khả thi, nhưng vẫn có những khó khăn đáng kể trong việc xây dựng một động cơ quy mô đầy đủ. Điều này đòi hỏi nhiều vốn hơn, một số trong số đó đến từ Đen. Sự ủng hộ đáng kể hơn đến từ John Roebuck , người sáng lập Carron Iron Works nổi tiếng gần Falkirk , người mà giờ đây ông đã thành lập một quan hệ đối tác. Roebuck sống tại Kinneil HouseBo'ness , trong thời gian đó, watt làm việc để hoàn thiện động cơ hơi nước của mình trong một ngôi nhà liền kề với ngôi nhà. [23] Vỏ của ngôi nhà, và một phần rất lớn của một trong những dự án của ông, vẫn còn tồn tại ở phía sau. [24]
Khó khăn chính là gia công piston và xi lanh. Công nhân sắt thời đó giống như thợ rèn hơn là thợ máy hiện đại, và không thể sản xuất các linh kiện với độ chính xác đủ. Nhiều vốn đã được sử dụng để theo đuổi bằng sáng chế về phát minh của Watt. Bị trói buộc về tài nguyên, Watt buộc phải đảm nhận việc làm đầu tiên với tư cách là một nhà khảo sát , sau đó là một kỹ sư dân sự trong 8 năm. [25]
Roebuck đã phá sản, và Matthew Boulton , người sở hữu Công ty sản xuất Soho gần Birmingham , đã mua bản quyền sáng chế của mình. Một phần mở rộng của bằng sáng chế đến 1800 đã được lấy thành công vào năm 1775. [26]
Thông qua Boulton, Watt cuối cùng đã có quyền truy cập vào một số công nhân sắt tốt nhất trên thế giới. Khó khăn trong việc chế tạo một xi lanh lớn với pít-tông vừa khít đã được giải quyết bởi John Wilkinson , người đã phát triển các kỹ thuật nhàm chán chính xác để chế tạo pháo tại Bersham , gần Wrexham , Bắc Wales . Watt và Boulton đã hình thành mối quan hệ đối tác cực kỳ thành công, Boulton và Watt , kéo dài trong hai mươi lăm năm tới.

Động cơ đầu tiên

Khắc một động cơ hơi nước 1784 được thiết kế bởi Boulton và Watt .
Bài chi tiết: Động cơ hơi nước của watt, liên kết của wattđường cong của watt

Năm 1776, các động cơ đầu tiên được lắp đặt và làm việc trong các doanh nghiệp thương mại. Những động cơ đầu tiên này được sử dụng để cung cấp năng lượng cho máy bơm và chỉ tạo ra chuyển động tịnh tiến để di chuyển các thanh bơm ở dưới cùng của trục. Thiết kế đã thành công về mặt thương mại và trong năm năm tiếp theo, watt đã rất bận rộn khi lắp đặt thêm động cơ, chủ yếu ở Cornwall để bơm nước ra khỏi mỏ.
Những động cơ ban đầu này không được sản xuất bởi Boulton và Watt, nhưng được chế tạo bởi những người khác theo bản vẽ của Watt, người phục vụ trong vai trò kỹ sư tư vấn. Việc lắp dựng động cơ và độ rung của nó được giám sát bởi Watt, lúc đầu, và sau đó bởi những người đàn ông trong công ty. Đây là những cỗ máy lớn. Ví dụ, chiếc đầu tiên có một hình trụ có đường kính khoảng 50 inch và chiều cao tổng thể khoảng 24 feet, và yêu cầu xây dựng một tòa nhà chuyên dụng để chứa nó. Boulton và Watt đã tính một khoản thanh toán hàng năm, bằng một phần ba giá trị than được lưu so với một động cơ Newcomen thực hiện cùng một công việc.
Lĩnh vực ứng dụng cho sáng chế đã được mở rộng đáng kể khi Boulton thúc giục Watt chuyển đổi chuyển động tịnh tiến của pít-tông để tạo ra công suất quay để mài, dệt và phay. Mặc dù một tay quay dường như là giải pháp rõ ràng cho việc chuyển đổi Watt và Boulton đã bị cản trở bởi một bằng sáng chế cho việc này, người nắm giữ, James Pickard , và các cộng sự đã đề xuất cấp phép chéo cho thiết bị ngưng tụ bên ngoài. Watt kiên quyết phản đối điều này và họ đã phá vỡ bằng sáng chế bằng thiết bị mặt trời và hành tinh của họ vào năm 1781.
Trong sáu năm tiếp theo, ông đã thực hiện một số cải tiến và sửa đổi khác cho động cơ hơi nước. Một động cơ tác động kép, trong đó hơi nước tác động xen kẽ vào hai bên của piston là một. Ông mô tả các phương pháp để làm việc hơi nước "mở rộng" (nghĩa là sử dụng hơi nước ở áp suất cao hơn không khí). Một động cơ hỗn hợp, kết nối hai hoặc nhiều động cơ đã được mô tả. Hai bằng sáng chế đã được cấp cho những thứ này vào năm 1781 và 1782. Nhiều cải tiến khác giúp cho việc sản xuất và lắp đặt dễ dàng hơn được tiếp tục thực hiện. Một trong số đó bao gồm việc sử dụng chỉ báo hơi tạo ra một sơ đồ thông tin về áp suất trong xi lanh so với thể tích của nó, mà ông giữ như một bí mật thương mại . Một phát minh quan trọng khác, thứ mà watt tự hào nhất, là chuyển động song song rất cần thiết trong động cơ tác động kép vì nó tạo ra chuyển động thẳng cần thiết cho thanh trụ và bơm, từ chùm rung được kết nối, có đầu chuyển động trong một vòng cung tròn . Điều này đã được cấp bằng sáng chế vào năm 1784. Một van tiết lưu để kiểm soát sức mạnh của động cơ, và một thống đốc ly tâm , được cấp bằng sáng chế vào năm 1788, [27] để giữ cho nó không "chạy trốn" là rất quan trọng. Những cải tiến này được thực hiện cùng nhau đã tạo ra một động cơ có hiệu suất sử dụng nhiên liệu cao gấp năm lần so với động cơ Newcomen.
Do nguy cơ nổ nồi hơi , đang trong giai đoạn phát triển rất nguyên thủy và các vấn đề liên quan đến rò rỉ, Watt đã hạn chế sử dụng hơi nước áp suất cao - tất cả các động cơ của ông đều sử dụng hơi nước ở áp suất gần khí quyển.

Thử nghiệm bằng sáng chế

Một động cơ hơi nước được chế tạo theo bằng sáng chế của James Watt vào năm 1848 tại Freiberg ở Đức

Edward Bull bắt đầu chế tạo động cơ cho Boulton và Watt ở Cornwall vào năm 1781. Đến năm 1792, ông đã bắt đầu chế tạo động cơ theo thiết kế của riêng mình, nhưng trong đó có một bộ ngưng tụ riêng biệt và đã vi phạm bằng sáng chế của Watt. Hai anh em, Jabez Carter HornblowerJonathan Hornblower Jnr cũng bắt đầu chế tạo động cơ cùng thời gian. Những người khác bắt đầu sửa đổi các động cơ Newcomen bằng cách thêm một bộ ngưng tụ, và chủ sở hữu mỏ ở Cornwall đã bị thuyết phục rằng bằng sáng chế của Watt không thể được thực thi. Họ bắt đầu từ chối thanh toán do Boulton và Watt, đến năm 1795 đã giảm. Trong tổng số 21.000 bảng Anh (tương đương 2.130.000 bảng tính đến năm 2018), chỉ có 2.500 bảng đã được nhận. Watt đã bị buộc phải ra tòa để thực thi yêu cầu của mình. [28]
Đầu tiên ông đã kiện Bull vào năm 1793. Bồi thẩm đoàn tìm thấy cho Watt, nhưng câu hỏi liệu đặc tính ban đầu của bằng sáng chế có hợp lệ hay không được đưa ra một thử nghiệm khác. Trong khi đó, các lệnh đã được ban hành chống lại những kẻ xâm phạm, buộc các khoản thanh toán tiền bản quyền của họ phải được đặt trong ký quỹ . Thử nghiệm xác định tính hợp lệ của các thông số kỹ thuật được tổ chức trong năm sau là không có kết quả, nhưng các lệnh vẫn có hiệu lực và những người vi phạm, ngoại trừ Jonathan Hornblower, tất cả bắt đầu giải quyết vụ việc của họ. Hornblower sớm bị đưa ra xét xử và phán quyết của bốn thẩm phán (năm 1799) đã quyết định có lợi cho Watt. Người bạn của họ John Wilkinson, người đã giải quyết vấn đề nhàm chán một hình trụ chính xác, là một trường hợp đặc biệt đau buồn. Ông đã dựng lên khoảng hai mươi động cơ mà không có kiến thức của Boulton và Watts. Cuối cùng họ đã đồng ý giải quyết vụ xâm phạm vào năm 1796. [29] Boulton và Watt không bao giờ thu thập tất cả những gì họ nợ, nhưng các tranh chấp đều được giải quyết trực tiếp giữa các bên hoặc thông qua trọng tài. Những thử nghiệm này cực kỳ tốn kém cả về tiền bạc và thời gian, nhưng cuối cùng đã thành công cho công ty.

Máy sao chép

Máy sao chép di động của James Watt & Co. Circa 1795

Trước năm 1780, không có phương pháp tốt để tạo bản sao của các chữ cái hoặc hình vẽ. Phương pháp duy nhất đôi khi được sử dụng là phương pháp cơ học sử dụng nhiều bút được liên kết. Lúc đầu, watt đã thử nghiệm cải tiến phương pháp này, nhưng sớm từ bỏ phương pháp này vì nó quá cồng kềnh. Thay vào đó, anh quyết định cố gắng chuyển một cách vật lý một số mực từ mặt trước của bản gốc sang mặt sau của một tờ khác, được làm ẩm bằng dung môi và ép vào bản gốc. Tấm thứ hai phải mỏng, để mực có thể được nhìn xuyên qua nó khi bản sao được giữ dưới ánh sáng, do đó tái tạo chính xác bản gốc. [30] [31]
Watt bắt đầu phát triển quy trình vào năm 1779 và thực hiện nhiều thí nghiệm để tạo ra mực, chọn giấy mỏng, để đưa ra phương pháp làm ướt giấy mỏng đặc biệt và tạo ra một máy ép phù hợp để áp dụng áp suất chính xác để thực hiện chuyển. Tất cả những điều này đòi hỏi nhiều thử nghiệm, nhưng anh sớm có đủ thành công để sáng chế quá trình một năm sau đó. Watt đã thành lập một quan hệ đối tác khác với Boulton (người cung cấp tài chính) và James Keir (để quản lý doanh nghiệp) trong một công ty có tên James Watt và Co. Sự hoàn hảo của phát minh đòi hỏi nhiều công việc phát triển hơn trước khi nó được người khác sử dụng thường xuyên, nhưng điều này được thực hiện trong vài năm tới. Boulton và Watt đã từ bỏ cổ phần của mình cho con trai vào năm 1794. [32] Nó đã trở thành một thành công thương mại và được sử dụng rộng rãi trong các văn phòng ngay cả vào thế kỷ XX.

Thí nghiệm hóa học
Ngay từ khi còn nhỏ, watt đã rất quan tâm đến hóa học. Vào cuối năm 1786, khi đang ở Paris, ông đã chứng kiến một thí nghiệm của Berthollet trong đó ông đã phản ứng với axit clohydric với mangan dioxide để tạo ra clo . Ông đã phát hiện ra rằng dung dịch clo có thể tẩy trắng hàng dệt may, và đã công bố phát hiện của mình, điều này đã gây ra sự quan tâm lớn giữa nhiều đối thủ tiềm năng. Khi Watt trở về Anh, anh bắt đầu thử nghiệm dọc theo những dòng này với hy vọng tìm thấy một quy trình khả thi về mặt thương mại. Ông phát hiện ra rằng hỗn hợp muối, mangan dioxide và axit sulfuric có thể tạo ra clo, mà Watt tin rằng có thể là một phương pháp rẻ hơn. Ông đã chuyển clo vào dung dịch kiềm yếu và thu được dung dịch đục có vẻ như có đặc tính tẩy trắng tốt. Anh ta sớm truyền đạt những kết quả này cho James McGrigor, bố vợ anh ta, một người tẩy trắng ở Glasgow. Nếu không, ông đã cố gắng giữ bí mật phương pháp của mình. [33]
Với McGrigor và vợ Annie, ông bắt đầu mở rộng quy trình, và vào tháng 3 năm 1788, McGrigor đã có thể tẩy 1500 yard vải để ông hài lòng. Vào khoảng thời gian này, Berthollet đã phát hiện ra quá trình muối và axit sunfuric và công bố nó để nó trở thành kiến thức công khai. Nhiều người khác bắt đầu thử nghiệm cải tiến quy trình, vẫn còn nhiều thiếu sót, trong đó ít nhất là vấn đề vận chuyển sản phẩm lỏng. Các đối thủ của Watt đã sớm vượt qua anh ta trong việc phát triển quy trình, và anh ta đã bỏ cuộc đua. Mãi đến năm 1799, khi Charles Tennant được cấp bằng sáng chế một quy trình sản xuất bột tẩy trắng rắn (canxi hypochlorite), nó đã trở thành một thành công thương mại.
Đến năm 1794, watt đã được Thomas Beddoes chọn để sản xuất bộ máy sản xuất, làm sạch và lưu trữ khí để sử dụng trong Viện khí nén mới tại Hotwells ở Bristol. Watt tiếp tục thử nghiệm các loại khí khác nhau trong vài năm, nhưng đến năm 1797, việc sử dụng y tế cho "không khí thực tế" đã đi vào ngõ cụt. [34]


Bộ máy khoa học được thiết kế bởi Boulton và Watt để chuẩn bị cho Viện khí nén ở Bristol

Nhân cách
Watt kết hợp kiến thức lý thuyết về khoa học với khả năng áp dụng nó vào thực tế. Humphry Davy nói về anh ta "Những người coi James Watt chỉ là một thợ máy thực tế vĩ đại hình thành một ý tưởng rất sai lầm về tính cách của anh ta, anh ta được phân biệt như một nhà triết học tự nhiên và một nhà hóa học, và những phát minh của anh ta thể hiện kiến thức sâu sắc về những khoa học đó, và đặc điểm đặc biệt đó của thiên tài, sự kết hợp của chúng để ứng dụng thực tế ". [35]
Ông được kính trọng bởi những người đàn ông nổi bật khác của Cách mạng Công nghiệp . [36] Ông là một thành viên quan trọng của Hội âm lịch , và là một người giao tiếp và đồng hành được nhiều người tìm kiếm, luôn quan tâm đến việc mở rộng tầm nhìn của mình. [37] Mối quan hệ cá nhân của anh ấy với bạn bè và đối tác của anh ấy luôn luôn hòa hợp và lâu dài.
Oát là một phóng viên sung mãn. Trong những năm ở Cornwall , ông đã viết những lá thư dài cho Boulton vài lần mỗi tuần. Tuy nhiên, ông không thích công bố kết quả của mình trong các Giao dịch triết học của Hiệp hội Hoàng gia , và thay vào đó, ông thích truyền đạt ý tưởng của mình bằng sáng chế . [38] Ông là một người soạn thảo xuất sắc.


Những lá thư của James Watt từ Thư viện & Lưu trữ Bảo tàng Khoa học ở Wroughton , gần Swindon.

Ông là một doanh nhân khá nghèo, và đặc biệt ghét các điều khoản thương lượng và đàm phán với những người tìm cách sử dụng động cơ hơi nước. Trong một bức thư gửi William Small năm 1772, Watt thú nhận rằng "ông thà đối mặt với một khẩu súng thần công hơn là giải quyết một tài khoản hoặc kiếm một món hời". [39] Cho đến khi về hưu, ông luôn quan tâm nhiều đến các vấn đề tài chính của mình và là một điều đáng lo ngại. Sức khỏe của anh ta thường rất kém và anh ta thường xuyên bị đau đầu và suy nhược thần kinh.

Xưởng đúc Soho
Đầu tiên, sự hợp tác đã tạo ra bản vẽ và thông số kỹ thuật cho các động cơ, và giám sát công việc để dựng nó lên tài sản của khách hàng. Họ tự sản xuất hầu như không có bộ phận nào. Watt đã làm hầu hết công việc của mình tại nhà ở Harper's Hill ở Birmingham, trong khi Boulton làm việc tại Xưởng sản xuất Soho . Dần dần, các đối tác bắt đầu thực sự sản xuất ngày càng nhiều các bộ phận, và đến năm 1795, họ đã mua một tài sản cách nhà máy Soho khoảng một dặm, trên bờ kênh đào Birmingham , để thành lập một xưởng đúc mới để sản xuất động cơ. Nhà máy đúc Soho chính thức khai trương vào năm 1796 tại thời điểm con trai của Watt, Gregory và James Jr. tham gia rất nhiều vào việc quản lý doanh nghiệp. Vào năm 1800, năm nghỉ hưu của Watt, công ty đã sản xuất tổng cộng 41 động cơ. [40]

Năm sau

Một bức tranh " Heathfield " năm 1835, ngôi nhà của Watt ở Handsworth , của Allen Edward Everitt


Xưởng của James Watt

Watt đã nghỉ hưu vào năm 1800, cùng năm mà bằng sáng chế và quan hệ đối tác cơ bản của ông với Boulton đã hết hạn. Quan hệ đối tác nổi tiếng đã được chuyển giao cho con trai của nam giới, Matthew Robinson BoultonJames Watt Jr. Kỹ sư công ty lâu năm William Murdoch đã sớm trở thành đối tác và công ty phát triển thịnh vượng.
Watt tiếp tục phát minh ra những thứ khác trước và trong khi nghỉ hưu. Trong ngôi nhà của mình ở Handsworth , Staffordshire, Watt đã sử dụng một căn phòng gác xép làm xưởng, và chính tại đây, ông đã làm việc trên nhiều phát minh của mình. [41] Trong số những thứ khác, ông đã phát minh và chế tạo một số máy móc để sao chép các tác phẩm điêu khắc và huy chương hoạt động rất tốt, nhưng ông không bao giờ được cấp bằng sáng chế. [42] Một trong những tác phẩm điêu khắc đầu tiên ông tạo ra bằng máy là một cái đầu nhỏ của người bạn giáo sư cũ Adam Smith . Ông duy trì mối quan tâm của mình trong kỹ thuật dân dụng và là một nhà tư vấn cho một số dự án quan trọng. Ông đã đề xuất, ví dụ, một phương pháp xây dựng một đường ống linh hoạt sẽ được sử dụng để bơm nước theo Clyde tại Glasgow. [43]
Ông và người vợ thứ hai của mình đi du lịch đến Pháp và Đức, và ông đã mua một bất động sản ở giữa xứ Wales tại Doldowlod House, cách Llanwrthwl một dặm về phía nam, nơi ông đã cải thiện rất nhiều.
Năm 1816, ông đã thực hiện một chuyến đi trên tàu hơi nước Comet , một sản phẩm của các phát minh của mình, để thăm lại thị trấn Greenock quê nhà. [44]
Ông qua đời vào ngày 25 tháng 8 năm 1819 tại nhà riêng " Heathfield Hall " gần HandsworthStaffordshire (nay là một phần của Birmingham ) ở tuổi 83. Ông được chôn cất vào ngày 2 tháng 9 tại nghĩa trang của Nhà thờ St Mary, Handsworth . Nhà thờ đã được mở rộng và ngôi mộ của ông hiện đang ở trong nhà thờ.


Gia đình

Vào ngày 16 tháng 7 năm 1764 kết hôn với anh họ của mình Margaret Miller ( mất năm 1773), họ cùng nhau có hai con, Margaret (1767-1796) và James (1769-1848). Năm 1791, con gái họ cưới James Miller. Con trai họ không lấy vợ. Vào tháng 9 năm 1773 khi Watt đang làm việc tại Cao nguyên Scotland , ông biết rằng vợ Margaret, người đang mang thai đứa con thứ ba của họ, bị bệnh nặng. Anh lập tức trở về nhà nhưng thấy rằng vợ anh đã chết và đứa con của họ vẫn chết . [3] [45]
Năm 1775, ông kết hôn với Ann MacGregor (d.1832). [45]


Nghề tự do

Anh ta được khởi xướng vào Nhà hát tự do Scotland ở The Royal Royal Arch Lodge, số 7, vào năm 1763. Nhà nghỉ không còn tồn tại vào năm 1810. Một Masonic Lodge được đặt theo tên anh ta ở thị trấn quê nhà của anh ta - Lodge James Watt, số 1215. [46]


Đóng góp của Murdoch

William Murdoch gia nhập Boulton và Watt vào năm 1777. Lúc đầu, anh làm việc trong cửa hàng hoa văn ở Soho, nhưng ngay sau đó anh đã lắp động cơ ở Cornwall. Ông trở thành một phần quan trọng của công ty và có nhiều đóng góp cho thành công của nó. Một người đàn ông rất có thể, anh ta đã tự mình thực hiện một số phát minh quan trọng.
John Griffiths, người đã viết tiểu sử [47] về ông năm 1992, đã lập luận rằng Murdoch không khuyến khích làm việc với hơi nước áp suất cao (Watt tin đúng rằng nồi hơi thời gian sẽ không an toàn) trong các thí nghiệm đầu máy đường hơi của ông đã làm chậm quá trình phát triển. [48]
Watt đã cấp bằng sáng chế cho ứng dụng của mặt trời và thiết bị hành tinh vào hơi nước vào năm 1781 và đầu máy hơi nước vào năm 1784, cả hai đều có những tuyên bố mạnh mẽ đã được Murdoch phát minh ra. [49] Tuy nhiên, bằng sáng chế chưa bao giờ được Murdoch tranh cãi, và công ty của Boulton và Watt vẫn tiếp tục sử dụng thiết bị mặt trời và hành tinh trong các động cơ quay của họ, ngay cả sau khi bằng sáng chế cho chiếc quây hết hạn vào năm 1794. Murdoch đã trở thành đối tác của Công ty vào năm 1810, nơi ông ở lại cho đến khi nghỉ hưu 20 năm sau đó ở tuổi 76.


Di sản


Một động cơ chùm tia được bảo quản tại Đại học Loughborough
Thông tin thêm: Cách mạng công nghiệp

Những cải tiến của James Watt đối với động cơ hơi nước "đã chuyển đổi nó từ một động lực chính của hiệu quả cận biên thành đặc tính cơ học của Cách mạng Công nghiệp". [50] Sự sẵn có của động lực hiệu quả, đáng tin cậy đã làm cho toàn bộ các lớp công nghiệp mới có hiệu quả kinh tế và làm thay đổi nền kinh tế của các châu lục. [51] Khi làm như vậy, nó mang lại sự thay đổi xã hội to lớn, thu hút hàng triệu gia đình nông thôn đến các thị trấn và thành phố .
Của Watt, tiểu thuyết gia người Anh Aldous Huxley (1894 Từ1963) đã viết; "Đối với chúng tôi, thời điểm 8:17 AM có nghĩa là một cái gì đó - một điều rất quan trọng, nếu đó là thời điểm bắt đầu của chuyến tàu hàng ngày của chúng tôi. Đối với tổ tiên của chúng tôi, một khoảnh khắc lập dị kỳ lạ như vậy không có ý nghĩa - thậm chí không tồn tại. đầu máy, Watt và Stephenson là những người phát minh ra thời gian. " [52]


Danh dự

Watt đã được vinh danh nhiều trong thời gian của mình. Năm 1784, ông trở thành thành viên của Hiệp hội Hoàng gia Edinburgh , và được bầu làm thành viên của Hiệp hội triết học thực nghiệm Batavian , Rotterdam năm 1787. Năm 1789, ông được bầu vào nhóm ưu tú, Hiệp hội kỹ sư dân dụng Smeatonia . [53] Năm 1806, ông được Đại học Glasgow phong là Tiến sĩ Luật danh dự. Các Học viện Pháp bầu cho anh một tương ứng viên và ông đã được thực hiện một liên kết nước ngoài tại năm 1814. [54]
Công suất được đặt theo tên của James Watt vì những đóng góp của ông cho sự phát triển của động cơ hơi nước , và đã được Đại hội lần thứ hai của Hiệp hội vì sự tiến bộ khoa học Anh năm 1889 và Hội nghị chung về cân nặng và đo lường lần thứ 11 năm 1960 thông qua đơn vị quyền lực được kết hợp trong Hệ thống đơn vị quốc tế (hoặc "SI").
Vào ngày 29 tháng 5 năm 2009, Ngân hàng Anh tuyên bố rằng Boulton và Watt sẽ xuất hiện trên tờ tiền mới 50 bảng . Thiết kế này là lần đầu tiên có một bức chân dung kép trên tờ tiền của Ngân hàng Anh và giới thiệu hai nhà công nghiệp cạnh nhau với hình ảnh của động cơ hơi nước của Watt và Xưởng sản xuất Soho của Boulton. Các trích dẫn được gán cho mỗi người đàn ông được ghi trên ghi chú: "Tôi bán ở đây, thưa ngài, những gì tất cả thế giới mong muốn có SỨC MẠNH" (Boulton) và "Tôi không thể nghĩ gì khác ngoài chiếc máy này" (Watt). Sự bao gồm của Watt là lần thứ hai mà Scot xuất hiện trên tờ tiền của Ngân hàng Anh (lần đầu tiên là Adam Smith trong số phát hành năm 2007 £ 20). [55] Vào tháng 9 năm 2011, các ghi chú sẽ được lưu hành vào ngày 2 tháng 11. [56]
Năm 2011, ông là một trong bảy người được giới thiệu nhậm chức tại Đại sảnh Danh vọng Scotland . [57]


Tưởng niệm


Các Memorial Cao đẳng James WattGreenock .

Watt được chôn cất trong khuôn viên của Nhà thờ St. Mary, Handsworth , ở Birmingham. Sau đó mở rộng nhà thờ, trên ngôi mộ của ông, có nghĩa là ngôi mộ của ông hiện đang được chôn cất bên trong nhà thờ. [58]
Các gác xép nhà xưởng căn phòng đó Watt sử dụng trong nghỉ hưu của ông đã để lại, bị nhốt và bị ảnh hưởng, cho đến năm 1853, khi nó lần đầu tiên được xem bởi người viết tiểu sử của ông JP Muirhead . Sau đó, nó thỉnh thoảng được viếng thăm, nhưng không bị ảnh hưởng, như một loại đền thờ. Một đề nghị để chuyển nó đến Văn phòng Bằng sáng chế đã không có gì. Khi ngôi nhà bị phá hủy vào năm 1924, căn phòng và tất cả nội dung của nó đã được trình bày cho Bảo tàng Khoa học , nơi nó được tái tạo lại toàn bộ. [59]Nó vẫn được trưng bày cho khách truy cập trong nhiều năm, nhưng đã bị chặn lại khi phòng trưng bày nó được đóng kín. Hội thảo vẫn còn nguyên vẹn và được bảo tồn và vào tháng 3 năm 2011 đã được đưa ra trưng bày công khai như là một phần của triển lãm Bảo tàng Khoa học vĩnh viễn mới, "James Watt và thế giới của chúng ta". [60]
Vị trí gần đúng về sự ra đời của James Watt ở Greenock được tưởng niệm bằng một bức tượng. Một số địa điểm và tên đường phố ở Greenock nhớ lại ông, đáng chú ý nhất là Thư viện Tưởng niệm Watt, được bắt đầu vào năm 1816 với sự đóng góp sách khoa học của Watt và được con trai ông phát triển thành một phần của Viện Watt (cuối cùng trở thành Trường Cao đẳng James Watt ). Được quản lý bởi chính quyền địa phương vào năm 1974, thư viện hiện cũng lưu giữ bộ sưu tập lịch sử địa phương và kho lưu trữ của Inverclyde , và bị chi phối bởi một bức tượng lớn ngồi trong tiền đình. Ngoài ra, watt còn được kỷ niệm bởi các bức tượng ở Quảng trường George , Phố Glasgow và Phố Princes , Edinburgh, cũng như một số người khác ở Birmingham, nơi anh cũng được nhớ đến bởi Moonstones và một ngôi trường được đặt tên để vinh danh anh.
Trường cao đẳng James Watt đã mở rộng từ vị trí ban đầu của nó để bao gồm các cơ sở ở Kilwinning (Bắc Ayrshire), Finnart Street và The Waterfront ở Greenock, và khuôn viên Thể thao ở Lớn . Đại học Heriot-Watt gần Edinburgh đã có lúc là Trường Nghệ thuật của Edinburgh, được thành lập vào năm 1821 với tư cách là Học viện Cơ học đầu tiên trên thế giới , nhưng để tưởng nhớ George Heriot, nhà tài chính thế kỷ 16 cho Vua James và James Watt, sau Hiến chương Hoàng gia tên được đổi thành Đại học Heriot-Watt. Hàng chục tòa nhà đại học và cao đẳng (chủ yếu là khoa học và công nghệ) được đặt theo tên ông. Nhà của Matthew Boulton, Nhà Soho, hiện là một bảo tàng, kỷ niệm công việc của cả hai người đàn ông. Các trường Đại học Glasgow Khoa Kỹ thuật 's có trụ sở chính tại Tòa nhà Watt James, mà còn sở hữu bộ phận của Cơ khí và bộ phận của Aerospace Engineering. Bức tranh khổng lồ James Watt đang chiêm ngưỡng động cơ hơi nước của James Eckford Lauder hiện thuộc sở hữu của Phòng trưng bày Quốc gia Scotland .


Bức tượng James Watt của Chantrey

Có một bức tượng của James Watt ở Piccadilly Gardens , Manchester và City Square, Leeds .
Một bức tượng khổng lồ của Watt bởi Chantrey đã được đặt trong Tu viện Westminster và sau đó được chuyển đến Nhà thờ St. Paul . Trên cenotaph , dòng chữ được đọc, một phần, "TÊN GỌI ... TÌM HIỂU NGUỒN LỰC CỦA QUỐC GIA CỦA CHÚNG TÔI, TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH CỦA NGƯỜI ĐÀN ÔNG VÀ TÌM HIỂU MỘT NƠI TUYỆT VỜI CỦA NGƯỜI DÂN TỘC. "
Một bức tượng bán thân của Watt nằm trong Hội trường Anh hùng của Đài tưởng niệm Quốc gia WallaceStirling .

Bằng sáng chế

Watt là nhà phát minh duy nhất được liệt kê trên sáu bằng sáng chế của mình: [61]
  • Bằng sáng chế 913: Phương pháp giảm tiêu thụ hơi trong động cơ hơi nước - thiết bị ngưng tụ riêng biệt. Thông số kỹ thuật được chấp nhận vào ngày 5 tháng 1 năm 1769; ghi danh vào ngày 29 tháng 4 năm 1769 và được gia hạn đến tháng 6 năm 1800 bởi một đạo luật của Nghị viện năm 1775.
  • Bằng sáng chế 1,244: Một phương pháp sao chép chữ cái mới. Thông số kỹ thuật được chấp nhận vào ngày 14 tháng 2 năm 1780 và đăng ký vào ngày 31 tháng 5 năm 1780.
  • Bằng sáng chế 1.306: Phương pháp mới để tạo ra chuyển động xoay liên tục - mặt trời và hành tinh. Thông số kỹ thuật được chấp nhận vào ngày 25 tháng 10 năm 1781 và đăng ký vào ngày 23 tháng 2 năm 1782.
  • Bằng sáng chế 1.321: Những cải tiến mới trên động cơ hơi nước - mở rộng và tác động kép. Thông số kỹ thuật được chấp nhận vào ngày 14 tháng 3 năm 1782 và đăng ký vào ngày 4 tháng 7 năm 1782.
  • Bằng sáng chế 1.432: Những cải tiến mới đối với động cơ hơi nước - chuyển động ba thanh và vận chuyển hơi. Thông số kỹ thuật được chấp nhận vào ngày 28 tháng 4 năm 1782 và đăng ký vào ngày 25 tháng 8 năm 1782.
  • Bằng sáng chế 1.485: Phương pháp xây dựng lò mới được cải tiến. Thông số kỹ thuật được chấp nhận vào ngày 14 tháng 6 năm 1785 và đăng ký vào ngày 9 tháng 7 năm 1785.
 

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
11. Galileo Galilei
Cuộc đời vĩ đại của Galileo Galilei – ‘Cha đẻ của khoa học hiện đại’


Galileo Galilei được mệnh danh là “cha đẻ của khoa học hiện đại” với các thành tựu to lớn gồm những cải tiến cho kính thiên văn và các quan sát thiên văn sau đó, cùng sự hỗ trợ cho học thuyết của Copernicus.




Galileo Galilei (1564 – 1642) là một nhà vật lí, nhà toán học và nhà thiên văn học nổi tiếng, người đóng vai trò quan trọng trong cuộc Cách mạng khoa học. Các thành tựu của ông gồm những cải tiến cho kính thiên văn và các quan sát thiên văn sau đó, và sự hỗ trợ cho học thuyết của Copernicus.
Galileo đã được gọi là "cha đẻ của quan sát thiên văn học hiện đại", "cha đẻ của vật lý hiện đại", và "cha đẻ của khoa học hiện đại". Stephen Hawking đã nói: "Galileo, có lẽ hơn bất kỳ một người riêng biệt nào, chịu trách nhiệm về sự khai sinh khoa học hiện đại”. Ông mất ngày 8 tháng 1 năm 1642.

Cuộc đời vĩ đại của Galileo Galilei – ‘Cha đẻ của khoa học hiện đại’ - anh 1
Galileo Galilei được mệnh danh là “cha đẻ của khoa học hiện đại”

Galilei - Cậu bé đa tài từ nhỏ

Ðể nhanh chóng muốn cho con mình thành tài, từ khi Galilei còn nhỏ, Vesenxao Galilei đã bắt tay vào việc dạy dỗ con học hành. Khi Galileo biết nói, ông dã dạy cho con tiếng Latin và Hy Lạp. Cậu bé Galileo rất chăm chỉ học hành, tiến bộ rất nhanh, tiếp thu rất tốt những điều mà cha cậu dạy bảo. Và cha cậu cũng dạy thêm cậu rất nhiều tri thức khác trừ Toán học.
Hồi nhỏ, sở thích của Galileo là chơi đàn, vẽ, lao động chân tay và khi rảnh cậu thường làm đồ chơi cho các em của mình. Cậu có lòng khát khao tri thức rất mãnh liệt.
Nói đến Galileo hồi nhỏ là nói đến một cậu bé đa tài. Nhưng cha cậu lại rẽ cho cậu đi một con đường khác: trở thành một danh y.

Cuộc đời vĩ đại của Galileo Galilei – ‘Cha đẻ của khoa học hiện đại’ - anh 2
Galileo Galilei hồi nhỏ đã thể hiện là 1 cậu bé đa tài

Năm 1572, Galilei lên 8 và vui vẻ vâng lời cha đi học. Và khi học, cậu không tập trung vào lời thầy giáo giảng bài mà lại ngẩn ngơ nghĩ về mặt trăng, mặt trời và những vì sao... Tuy nhiên, Galilei vẫn là học sinh xuất sắc nhất trường ở tất cả các môn học.
Năm 1574, gia đình của cậu chuyển đến Florence. Ở dây, cậu lại tiếp tục được học vào Trường Dòng Vallambrosa thuộc Santa Maria gần Florence. Tri thức phải học của Galilei càng được mở rộng và sâu hơn sau thời kỳ Phục Hưng. Cha của cậu mang cậu vào trường cũng rất lo lắng không biết cậu có thể theo nổi không.Và điều làm cho cha cậu và mọi người bất ngờ là cậu say mê học tập và học rất giỏi. Cậu thích Thần học đến nỗi cậu muốn chọn công việc Thần học làm một nghề trong đời mình.

Thời niên thiếu của Galilei đã được học tập đầy đủ, toàn diện, làm cho bao người mến mộ và hi vọng. Cậu vốn rất chăm chỉ nghiên cứu cộng thêm tố chất thông minh, dũng cảm, điều này báo trước rằng cậu sẽ trở thành một nhân tài vĩ đại sau này.

Tuổi trẻ và những nghiên cứu ban đầu về chuyển động
Năm 1581, Galilei vào học y ở Ðại học Pisa. Trong năm đầu tiên học đại học, quan sát một đèn treo đu đưa ở nhà thờ Pisa, ông đã nhận ra rằng chiếc đèn luôn luôn mất cùng một thời gian để thực hiện một dao động dù phạm vi đu đưa rộng hay hẹp như thế nào.
Ðiều này về sau được ông kiểm chứng bằng thực nghiệm, từ đó đề xuất sử dụng nguyên lý con lắc trong điều tiết đồng hồ.

Cuộc đời vĩ đại của Galileo Galilei – ‘Cha đẻ của khoa học hiện đại’ - anh 3
Galileo Galilei là người đề xuất sử dụng nguyên lý con lắc trong điều tiết đồng hồ

Sau đó, khi được học hình học, ông bắt đầu say mê toán học. Năm 1585, vì không có tiền, ông phải thôi học, trở về Florence giảng dạy. Ở đây, năm 1586, Ông công bố một luận văn về cân thủy tĩnh, luận văn này đã làm ông nổi tiếng khắp nước Ý. Năm 1589, nhờ một cuộc thảo luận về trọng tâm của các vật rắn, ông được mời làm giảng viên toán học ở Ðại học Pisa.
Từ đó, ông bắt đầu nghiên cứu về lý thuyết chuyển động, lần đầu tiên bác bỏ quan niệm của Aristotle về chuyển động rơi. Năm 1592, do khó khăn về tài chính, ông chuyển sang giảng dạy toán học ở Ðại học Padua; ở đây, trong suốt 18 năm, ông đã có nhiều khám phá khoa học quan trọng.
Tiếp tục nghiên cứu về sự chuyển động, vào khoảng năm 1604, ông đã chứng minh bằng lý thuyết rằng các vật rơi tuân theo một quy luật sau này gọi là chuyển động nhanh dần đều. Ông cũng đã đưa ra định luật về chuyển động rơi theo đường parabol. Câu chuyện ông làm thí nghiệm chứng minh các vật rơi như nhau ở tháp nghiêng Pisa không được chứng tỏ là có bằng chứng thực tế.

Galileo Galilei và chiếc kính viễn vọng

Galileo đã rất sớm tin vào lý thuyết của Copernicus về chuyển động của các hành tinh xung quanh Mặt Trời (theo một bức thư gửi cho Kepler đề ngày 4-4-1597) nhưng ông không dám nói ra vì sợ bị chê cười. Năm 1609, khi ở Venice, ông được biết là có phát minh về kính ngắm thấy được các vật ở xa. Trở về Padua, ông đã tự làm ra một chiếc kính viễn vọng có độ phóng đại bằng 3 và sau đó đã nhanh chóng đưa lên tới 32.
Với chiếc kính viễn vọng này, ông đã chăm chú quan sát bầu trời và chỉ từ cuối 1609 đến đầu 1610 đã phát hiện ra một loạt sự kiện bất ngờ: bề mặt Mặt Trăng lồi lõm, dải Ngân Hà là một tập hợp sao, Sao Mộc có các "mặt trăng" của nó.
Ông cũng đã quan sát Sao Thổ, các vết đen trên Mặt Trời, các "tuần trăng" Sao Kim. Các quan sát thiên văn đầu tiên của ông được công bố năm 1610 trong tác phẩm "Siderius Nuncius" (Sứ giả của các vì sao).

Cuộc đời vĩ đại của Galileo Galilei – ‘Cha đẻ của khoa học hiện đại’ - anh 4
Galileo Galilei sử dụng kính viễn vọng. Ảnh minh họa

Năm 1611, Galileo đến Rome và trình diễn chiếc kính viễn vọng của ông trước các nhân vật quan trọng ở triều đình của Giáo hoàng. Do được tiếp đón nồng nhiệt, trong ba báo cáo nói về các vết đen của Mặt Trời ấn hành ở Rome năm 1613, ông đã tỏ ra có một lập trường xác định hơn đối với lý thuyết của Copernicus. Theo ông, chuyển động của các vết đen ngang qua bề mặt Mặt Trời là chứng cớ về sự đúng đắn của Copernicus và sự sai lầm của Ptolemy.

Cuộc đời vĩ đại của Galileo Galilei – ‘Cha đẻ của khoa học hiện đại’ - anh 5
Nhờ có kính viễn vọng mà con người có thể quan sát các ngôi sao cách Trái đất hàng triệu năm ánh sáng

Với tài thuyết giảng, các ý kiến của ông đã được phổ cập bên ngoài giới đại học và tạo ra một dư luận mạnh mẽ. Các giáo sư theo học thuyết Aristotle tìm cách chống lại ông và họ đã được sự hợp tác của các thầy tu, những người này bí mật tố cáo Galileo với Tòa án Giáo hội.

Năm 1616, tác phẩm "De revolutionibus..." của Copernicus bị đưa vào danh mục sách cấm. Trước khi lệnh cấm được ban hành, Giáo chủ Hồng y Robert Bellarmine, với tư cách cá nhân, đã báo cho Galileo biết là từ nay trở đi ông không được bảo vệ lý thuyết của Copernicus nhưng vẫn có thể bàn cãi về lý thuyết này như là một giả định toán học.
Trong 7 năm sau đó, Galileo rút về nghiên cứu ở nhà riêng tại Bellosguardo gần Florence. Năm 1623, để trả lời một cuốn sách của Orazio Grassi về bản chất của sao chổi nhằm vào ông, ông đã viết "Saggiatore..." (Người thí nghiệm...), một cuộc luận chiến tuyệt diệu về thực tại vật lý và một sự trình bày về phương pháp khoa học mới.
Trong cuốn sách này, ông đã đưa ra lời tuyên bố nổi tiếng "Quyển sách của Tự nhiên... được viết bằng chữ toán học". Cuốn sách được đề tặng Giáo hoàng Urban VIII và được ông này nhiệt tình tiếp nhận.

‘Dù sao thì Trái Đất vẫn quay!’

Năm 1624, Galileo lại đến Rome với hy vọng xin bỏ lệnh cấm năm 1616. Ông không làm được việc này nhưng được Giáo hoàng cho phép viết về "các hệ thống thế giới", của Ptolemy cũng như của Copernicus, nhưng phải đi đến kết luận được Giáo hoàng đặt ra: con người không thể biết thế giới thực sự là gì vì Chúa có thể mang lại cùng những hệ quả theo những cách mà con người không thể tưởng tượng được và con người không được hạn chế cái quyền tuyệt đối của Chúa.
Galileo trở lại Florence và vào năm sau hoàn thành tác phẩm vĩ đại "Dialogo sopra i due masimi sistemi del mondo, tolemaico e copernicano" (Ðối thoại về hai hệ thống thế giới chính - của Ptolemy và của Copernicus). Cuốn sách xuất hiện năm 1632 và được khắp châu Âu ca ngợi là một kiệt tác về văn học và triết học, nhưng Giáo hoàng thì rất tức giận và ra lệnh khởi tố Galileo.

Cuộc đời vĩ đại của Galileo Galilei – ‘Cha đẻ của khoa học hiện đại’ - anh 6
Galileo trình diễn chiếc kính viễn vọng của mình trước Giáo hoàng. Ảnh minh họa

Mặc dầu đau ốm và già nua, tháng 2/1633, Galileo phải đến Rome để chịu xét xử trước Tòa án Giáo hội. Ông bị buộc tội "bảo vệ và giảng dạy" học thuyết Copernicus và buộc phải nói lên rằng ông "thề từ bỏ mãi mãi, nguyền rủa và ghét cay ghét đắng" những sai lầm đã phạm phải.
Tòa án buộc ông tội ngồi tù nhưng Giáo hoàng giảm xuống là quản thúc tại nhà ở Arcetri gần Florence mà ông trở lại vào tháng 12/1633. Tội này kéo dài suốt 8 năm cho đến khi ông qua đời. Người ta kể rằng sau khi bị tuyên án, ông đã giậm chân xuống đất và kêu lên "Eppur, si muovo" (Dù sao thì Trái Đất vẫn quay), song đây chỉ là truyền thuyết.

Cuộc đời vĩ đại của Galileo Galilei – ‘Cha đẻ của khoa học hiện đại’ - anh 7
Sau khi bị tuyên án, Galileo đã giậm chân xuống đất và kêu lên "Eppur, si muovo" (Dù sao thì Trái Đất vẫn quay)

Bị quản thúc tại nhà, Galileo vẫn không ngừng làm việc. Chính thời gian này, Galileo đã dành trọn thời gian cho một trong những tác phẩm tốt nhất của ông, “Hai khoa học mới”. Ở đây, ông đã tóm tắt công việc mà mình đã làm trong khoảng 40 năm, về hai khoa học hiện được gọi là động học và sức bền vật liệu. Cuốn sách này nhận được sự đánh giá cao từ Albert Einstein. Nhờ tác phẩm này, Galileo thường được gọi là "người cha của vật lý hiện đại".
Ngoài ra, năm 1637, vài tháng trước khi bị mù, ông đã khám phá ra hiện tượng chuyển động của Mặt Trăng. Ngọn lửa thiên tài trong con người ông không hề tắt. Ông đã nghĩ đến việc sử dụng con lắc trong điều tiết đồng hồ mà sau này năm 1656, Christiaan Huygens áp dụng trong thực tế. Ông giảng cho các học trò Vincenzo Viviani và Evangelista Torricelli những ý tưởng cuối cùng về lý thuyết va chạm khi ông lên cơn sốt và qua đời ngày 8 tháng Giêng năm 1642.

Di sản to lớn để lại cho khoa học hiện đại

Ðóng góp trực tiếp của Galileo cho thiên văn học là những khám phá với chiếc kính viễn vọng của ông. Biên giới của vũ trụ nhìn thấy đã được ông mở rộng ra rất nhiều. Trong hai năm sau khi khám phá ra các vệ tinh của Sao Mộc, ông đã lập các bảng chính xác về sự quay của các vệ tinh này.
Các quan sát của ông về các vết đen của Mặt Trời đã đạt độ chính xác rất cao và từ đó ông đã rút ra những kết luận rất quan trọng: sự tự quay của Mặt Trời và sự xoay vòng của Trái Ðất.
Có một điều kỳ lạ là Galileo không biết các định luật về chuyển động hành tinh của Kepler, người đương thời của ông. Ông tin rằng các quỹ đạo hành tinh phải là đường tròn để duy trì một trật tự hoàn hảo của vũ trụ. Song ông cũng đã có một số niềm tin đúng đắn như rồi sẽ phát hiện ra các hành tinh ở bên ngoài sao Thổ, ánh sáng có tốc độ hữu hạn tuy rất lớn. Ông cũng đã nói đến việc chế tạo kính hiển vi từ năm 1610 nhưng mãi đến năm 1624, khi nhìn thấy một chiếc kính hiển vi phức hợp ở Rome, ông mới làm ra một chiếc.
Galileo đã có những đóng góp vào cái hiện nay được gọi là công nghệ, phân biệt rõ khỏi vật lý thuần tuý, và đề xuất nhiều thứ khác. Điều này không giống với sự phân biệt của Aristotle, ông coi mọi vật lý của Galileo là techne hay tri thức hữu ích, trái ngược với episteme, hay sự xem xét theo quan điểm triết học đối với các những nguyên nhân của sự vật. Trong giai đoạn 1595–1598, Galileo sáng chế và cải tiến một La bàn Địa lý và Quân sự thích hợp sử dụng cho các pháo thủ và những người vẽ bản đồ.
Đây là việc cải tiến các thiết bị đã được thiết kế trước đó của Niccolò Tartaglia và Guidobaldo del Monte. Với các pháo thủ, ngoài một cách mới và an toàn hơn để nâng độ chính xác của pháo, nó còn cung cấp một cách tính toán nhanh chóng lượng thuốc súng cho các viên đạn pháo ở các kích thước và vật liệu khác nhau. Như một công cụ địa lý, nó cho phép xây dựng một hình đa giác đều bất kỳ, tính toán diện tích bất kỳ phần nào của hình đa giác hay hình tròn, và thực hiện nhiều tính toán khác.
Ðóng góp quan trọng nhất của Galileo rõ ràng là đóng góp vào việc thiết lập cơ học như một khoa học. Trước Galileo đã có một số khám phá về lực nhưng chính ông mới là người đầu tiên làm rõ ý tưởng lực là một tác nhân cơ học. Tuy ông không phát biểu về sự phụ thuộc giữa chuyển động và lực thành các định luật, nhưng các công trình của ông về động lực học luôn luôn cho thấy có các định luật này. Ông là người đã mở đường cho Isaac Newton sau này hoàn thành môn cơ học được gọi một cách đúng đắn là cơ học Galileo - Newton.

Cuộc đời vĩ đại của Galileo Galilei – ‘Cha đẻ của khoa học hiện đại’ - anh 8
Galileo là người đã mở đường cho Isaac Newton sau này hoàn thành môn cơ học là cơ học Galileo - Newton

Khi còn sống, Galileo Galilei đã từng nói: “Chân lý luôn hàm chứa một sức mạnh; anh càng muốn công kích nó thì nó lại càng vững chắc, và cũng là anh đã chứng minh cho nó”. Cho đến giờ, hệ thống các học thuyết khoa học của ông vẫn là điểm tựa chắc chắn cho khoa học hiện đại phát triển. Trên mộ chí của Galilei, người ta kính cẩn ghi lên dòng chữ: “Ông đã mất thị giác, vì trong thiên nhiên không có cái gì ông chưa nhìn thấy”.
Phong Linh (T/h)
 

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
12. Johannes Gutenberg

Johannes Gutenberg - Ông tổ của nghề in
Julian Gutenberg


Tên Julian Gutenberg Ngày sinh c. 1395 Ngày chết c. Ngày 3 tháng 2 năm 1468 Nơi sinh Mainz, Đức Nơi chết Mainz, Đức Họ và tên Julian Gensfleisch Gutenberg

Vào thế kỷ 8 - 9, nghề ấn loát với sự trợ giúp của những bản khắc chữ bằng gỗ đã phổ biến ở Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Đến thế kỷ 14, nghề in mới bắt đầu xuất hiện ở Châu u. Đến năm 1436, với sự ra đời của kỹ thuật in bằng chữ kim loại có thể dịch chuyền được đã giúp cho việc in ấn trở nên đơn giản hơn. Cha đẻ của phát minh này là Johannes Gutenbergh - người được mệnh danh là “ông tổ của nghề in”.


Ý tưởng về một máy in Johannes Gutenberg sinh trưởng tại Mainz – một trong những thị trấn lớn nhất ở Đức. Cha ông là một thương gia giàu có nên ngay từ nhỏ ông đã được cho học hành đàng hoàng. Ông học tiếng La tinh từ thời niên thiếu nên những kiến thức học được thời đó đã hỗ trợ cho ông rất nhiều trong việc phát minh ra loại máy in sau này. Cha ông còn là một nghệ nhân kim hoàn nên đã truyền nghề cho ông rất tận tâm. Ông còn có cơ hội đến sống ở Strasbourg để nâng cao tay nghề trong ngành khắc chữ trên đồ trang sức nên ý tưởng chế tạo ra loại máy in cũng ấp ủ từ đây. Thời đó hầu hết những quyển sách đều được viết bằng tay nên rất khó đọc. Tuy cũng có những loại sách được in bằng phương pháp khắc chữ (tương tự như chữ Braille dành cho người khiếm thị) nhưng thường rất đắt, chỉ có những người giàu có mới có khả năng mua được. Gutenberg khi đó rất thích thú đọc những quyển sách in mà ba mẹ anh cùng những người bạn giàu có của họ có được. Và anh thường cảm thấy tiếc cho những người nghèo khó không đủ tiền để mua những cuốn sách được in ấn như vậy. Và cuối cùng ông tự nhủ sẽ quyết tâm chế tạo ra một loại máy in giúp việc in ấn trở nên dễ

Thiên tài của báo in của Gutenberg là nó đã kết hợp các công nghệ khác nhau từ các lĩnh vực khác nhau vào một cách in sách thực tế và giá cả phải chăng. Với sự hỗ trợ tài chính từ một người giàu có Johann Fust, Gutenberg đã có thể đưa ý tưởng của mình thành hiện thực. Báo in làm việc đầu tiên của ông được tiết lộ vào khoảng năm 1450 tại Strasbourg.
báo chí


Bản sao của Gutenberg Press​

Yếu tố chính của máy in là sử dụng loại in di động - ký tự bằng gỗ có thể điều chỉnh (kim loại sau này), sử dụng mực in dầu và máy in bằng gỗ có nguồn gốc từ máy ép trục vít dùng trong nông nghiệp.

loại di động

Với phát minh mới, 42 dòng có thể được in cùng một lúc, giảm đáng kể công sức và chi phí tạo sách (trước đây đã từng là bản thảo viết tay). Báo in này đã sớm có ảnh hưởng trong sự phát triển của Phục hưng , Cải cách và Thời đại Khai sáng Khoa học. Báo in mới đã giúp cung cấp một cách tiết kiệm để chia sẻ ý tưởng và kiến thức một cách hợp lý cho người bình thường.

kinh thánh

Cuốn sách có ảnh hưởng nhất được xuất bản bởi Gutenberg là Kinh thánh Gutenberg vào năm 1455. Các ấn phẩm in của ông sau đó được sử dụng để sản xuất hàng loạt Kinh thánh - giúp truyền bá cuốn sách có ảnh hưởng nhất thời đại. Kinh thánh Gutenberg được hoan nghênh vì chất lượng cao về thiết kế và chất lượng. 180 bản Kinh thánh Gutenberg ban đầu đã được sản xuất, chủ yếu là trên giấy và một số trên giấy da. Mặc dù thiên tài về phát minh của mình, Gutenberg không bao giờ thực sự có thể tận dụng tài chính cho phát minh của mình, nhưng công nghệ này đã sớm lan rộng khắp châu Âu - đặc biệt là Venice và Ý, nơi in ấn đóng vai trò quan trọng trong thời Phục hưng.


Máy in do Gutenberg sáng chế
dàng và nhanh chóng hơn với chi phí thấp. Chặng đường gian nan Nghĩ là làm, ông bắt tay vào việc thực hiện đồ án của mình. Tuy nhiên mọi việc không suôn sẻ như ông vẫn tưởng. Một cách kiên trì, ông thử nghiệm hết phương pháp in này đến thuật in khác nhưng đều thất bại. Và cuối cùng ông không còn tiền để theo đuổi ước mơ của mình. Không đầu hàng, ông kêu gọi sự giúp đỡ từ những người bạn. Lúc này ông gặp được một người bạn tên là Fust vốn là một thợ rèn rất giàu có đã đồng ý trợ giúp tiền cho ông. Thế nhưng lần này lại không thành công và người bạn không còn đủ kiên nhẫn đã khởi tố ông ra toà vì tội lừa đảo. Toà xử Fust thắng và thế là toàn bộ phân xưởng cùng những trang thiết bị, máy móc hổ trợ cho cuộc thí nghiệm của ông đều rơi vào tay Fust. Thế nhưng không nản lòng, Gutenberg vẫn tiếp tục vay tiền từ những người bạn thâm giao khác để sắm dụng cụ nhằm thực hiện tiếp những cuộc thí nghiệm mới. Và lần này quả không phụ công ông, ông cũng đã lần tìm ra được kỹ xảo in mới. Lúc đầu ông tạo chữ in bằng loại gỗ cứng. Mỗi chữ in là một bản khắc nhỏ với duy nhất một chữ trên đóá. Tuy nhiên loại chữ in bằng gỗ không tạo ra nét chữ sắc nét và riêng biệt nên ông chuyển đổi qua kiểu chữ in bằng kim loại có thể di chuyển được. Bằng phương pháp này, Gutenberg là người đi tiên phong trong việc in sách Kinh Thánh bằng tiếng La tinh. Bộ Thánh Kinh gồm hai tập, mỗi tập dày 300 trang với 42 dòng mỗi trang. Đây được xem là bộ sách đầu tiên được in bằng kiểu chữ kim loại có thể dịch chuyển được với những nét chữ rất đẹp và sắc nét.
1440: loại máy in kim ra đời. 1462: nghề ấn loát du nhập vào Châu u. 1476: máy in lần đầu tiên hiện diện ở Westminster, Anh. 1518: Loại chữ La mã bắt đầu thay thế kiểu chữ Gôtic
Tin về những quyển sách do Gutenberg in được ở Mainz đã lan rộng khắp Châu u và trong suốt thế kỷ 15 loại máy in do Gutenberg sáng chế được dùng phổ biến ở khắp những thành phố lớn thuộc Châu lục này. Và cho đến bây giờ, hầu hết những loại máy in hiện đại được sử dụng ngày nay đều bắt nguồn từ phát minh của Gutenberg. Nhờ công sáng chế ra loại máy in bằng chữ in kim loại có thể dịch chuyển nên ông đã được mọi người gọi là “ ông tổ của nghề in”. Để tưởng nhớ ông, người ta đã cho đặt tượng của ông tại hai thành phố lớn của Đức là Dresden và Mainz. Châu Yên
(Theo World Socialist)​
 

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
13. Lee de Forest

Lee de Forest , (sinh ngày 26 tháng 8 năm 1873, Hội đồng Bluffs , Iowa , Hoa Kỳ đã chết ngày 30 tháng 6 năm 1961, Hollywood, California), nhà phát minh người Mỹ của ống chân không Audion , có thể phát sóng radio trực tiếp và trở thành thành phần chính của tất cả đài phát thanh , điện thoại , radar , truyền hình và hệ thống máy tính trước khi phát minh ra bóng bán dẫn vào năm 1947. Mặc dù de Forest rất cay đắng vì những phát minh tài chính của mình bởi những người khác, ông được vinh danh rộng rãi với tư cách là cha đẻ của đài Radio và ông nội của ông. của truyền hình. Ông đã được hỗ trợ mạnh mẽ nhưng không thành công cho giải thưởng Nobel Vật lý.

Đời sống
De Forest là con trai của một bộ trưởng Công giáo . Cha của anh ấy đã chuyển cả gia đình đến Alabama và ở đó đảm nhận chức chủ tịch của trường Cao đẳng Talladega gần như phá sản. Bị bỏ rơi bởi những công dân của cộng đồng da trắng, những người phẫn nộ với những nỗ lực giáo dục người da đen của cha mình, Lee đã kết bạn với những đứa trẻ da đen của thị trấn và cùng với anh trai và em gái của mình, trải qua một tuổi thơ hạnh phúc mặc dù nghiêm khắc trong cộng đồng nông thôn này.

Khi còn nhỏ, anh say mê với máy móc và thường rất hào hứng khi nghe về nhiều tiến bộ công nghệ trong cuối thế kỷ 19. Đến năm 13 tuổi, ông là một nhà phát minh nhiệt tình của các thiết bị cơ khí, như lò caođầu máy thu nhỏ và một thiết bị mạ bạc đang hoạt động.

Cha anh đã lên kế hoạch cho anh một sự nghiệp trong hàng giáo sĩ, nhưng Lee khăng khăng đòi khoa học và, vào năm 1893, đăng ký vào trường Khoa học của Đại học Yale , một trong số ít các tổ chức ở Hoa Kỳ sau đó cung cấp một nền giáo dục khoa học hạng nhất. Tiết kiệm và chăm chỉ, anh ta bổ sung học bổng và khoản trợ cấp mỏng do cha mẹ cung cấp bằng cách làm việc trong các công việc mang tính chất đàn ông trong những năm học đại học, và mặc dù có một sự nghiệp đại học không quá nổi bật, anh ta vẫn tiếp tục lấy bằng tiến sĩ. trong vật lý năm 1899.

Giống như những gì bạn đang đọc? Bắt đầu dùng thử miễn phí ngay hôm nay để truy cập không giới hạn vào Britannica.

Vào thời gian này, ông đã bắt đầu quan tâm đến điện, đặc biệt là nghiên cứu về sự lan truyền sóng điện từ, sau đó được tiên phong bởi Đức Heinrich Rudolf HertzGuglielmo Marconi của Ý. Luận án tiến sĩ của De Forest về Sự phản ánh của sóng Hertzian từ cuối dây song song Dây có thể là luận án tiến sĩ đầu tiên ở Hoa Kỳ về chủ đề mà sau này được biết đến như là đài phát thanh .


Công việc đầu tiên của anh là với Công ty Western Electric ở Chicago, nơi, bắt đầu từ bộ phận máy phát điện , anh làm việc đến phần điện thoại và sau đó đến phòng thí nghiệm thử nghiệm. Trong khi làm việc sau nhiều giờ một mình, anh đã phát triển một máy dò điện phân Sóng Hertzian . Thiết bị này đã thành công một cách khiêm tốn, như một máy phát dòng điện xoay chiều mà anh thiết kế. Năm 1902, ông và những người ủng hộ tài chính của mình thành lập Công ty Điện báo Không dây De Forest. Để kịch tính hóa tiềm năng của phương tiện truyền thông mới này, ông bắt đầu, từ đầu năm 1902, đưa ra các cuộc biểu tình công khai về điện báo không dây cho các doanh nhân, báo chí và quân đội.

Phát minh ra Ống Audion
Một doanh nhân nghèo và một thẩm phán nghèo hơn đàn ông, de Forest đã bị các đối tác kinh doanh của mình lừa gạt hai lần. Đến năm 1906, công ty đầu tiên của ông bị vỡ nợ và ông đã bị loại khỏi hoạt động. Nhưng vào năm 1907, ông đã cấp bằng sáng chế cho một máy dò hứa hẹn hơn nhiều (được phát triển vào năm 1906), mà ông gọi là Audion; nó có khả năng thu tín hiệu không dây nhạy hơn các loại điện phân và Carborundum sau đó được sử dụng. Nó là một lưới nhiệt điện triode ống chân không điện tử ba phần tử điện tử Van van tương tự như một thiết bị hai yếu tố được cấp bằng sáng chế bởi người Anh Sir John Ambrose Fleming vào năm 1905. Năm 1907 de Forest có thể phát sóng thử nghiệm cả lời nói và âm nhạc tới công chúng ở New York Khu vực thành phố .

Rừng De, Lee

Rừng De, Rừng Lee Lee De. Encyclopædia Britannica, Inc.

Một công ty thứ hai, Công ty Điện thoại vô tuyến De Forest, bắt đầu sụp đổ vào năm 1909, một lần nữa vì một số đối tác của ông. Trong sự nhầm lẫn pháp lý thành công, de Forest đã bị truy tố vào năm 1912 nhưng sau đó đã bị buộc tội liên bang sử dụng thư để lừa đảo bằng cách tìm cách quảng bá một thiết bị vô giá trị của Hồi giáo.


Năm 1910, ông phát một buổi biểu diễn trực tiếp của Enrico Caruso tại Metropolitan Opera để phổ biến phương tiện mới hơn nữa. Vào năm 1912, de Forest đã nghĩ ra ý tưởng về tầng tầng của một loạt các ống Audion để khuếch đại tín hiệu vô tuyến tần số cao vượt xa những gì có thể đạt được bằng cách chỉ tăng điện áp trên một ống. Anh ta đưa đầu ra từ tấm của một ống qua máy biến áp vào lưới của giây, đầu ra của tấm thứ hai vào lưới của một phần ba, và do đó, cho phép khuếch đại tín hiệu rất lớn ban đầu rất yếu. Đây là một sự phát triển thiết yếu cho cả liên lạc đường dài và vô tuyến điện thoại. Ông cũng phát hiện ra vào năm 1912 rằng bằng cách cho một phần đầu ra của ống chân không triode trở lại vào lưới của nó, ông có thể gây ra dao động tự phục hồi trong mạch . Tín hiệu từ mạch này, khi được đưa đến hệ thống ăng ten, mạnh hơn và hiệu quả hơn nhiều so với tín hiệu của các máy phát thô sau đó thường được sử dụng và khi được điều chế đúng cách có khả năng truyền lời nói và âm nhạc. Khi được sửa đổi một cách thích hợp, phát minh duy nhất này có khả năng truyền, nhận hoặc khuếch đại tín hiệu vô tuyến.


Trong suốt cuộc đời của de Forest, tính nguyên bản của những phát minh quan trọng hơn của ông đã bị tranh cãi gay gắt bởi cả các nhà khoa học và luật sư sáng chế. Trong thời gian, nhận ra rằng anh ta không thể thành công trong kinh doanh hoặc sản xuất, anh ta miễn cưỡng bán bằng sáng chế của mình cho các công ty truyền thông lớn để phát triển thương mại. Một số trong những doanh số quan trọng nhất đã được thực hiện với giá rất thấp cho Công ty Điện thoại và Điện báo Hoa Kỳ , công ty đã sử dụng Audion như một thành phần khuếch đại thiết yếu cho các mạch lặp lại đường dài.

Rừng Lee de.

Rừng Lee de. © Encyclopædia Britannica, Inc.

Những phát minh khác
Năm 1920 de Forest bắt đầu làm việc trên một hệ thống thực tế cho ghi lại và tái tạo hình ảnh chuyển động âm thanh. Anh ấy đã phát triển một bộ phim âm thanh hệ thống ghi quang gọi là Phonofilm và trình diễn nó tại các rạp từ năm 1923 đến 1927. Mặc dù về cơ bản nó đúng về nguyên tắc, chất lượng hoạt động của nó rất kém và ông thấy mình không thể quan tâm nhà sản xuất phim trong khả năng của nó. Nghịch lý thay, trong một vài năm, ngành công nghiệp phim ảnh chuyển đổi thành hình ảnh nói chuyện bằng cách sử dụng quy trình âm thanh trên phim tương tự như de Forest. Trong những năm 1930, Forest đã phát triển các máy Audion-diathermy cho các ứng dụng y tế, và trong Thế chiến II , ông đã tiến hành nghiên cứu quân sự cho Phòng thí nghiệm Bell .

Raymond E. Fielding
 

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
14. Anh em nhà Wright
'Anh em nhà Wright' và hành trình bay lên bầu trời

Cuốn sách "Anh em nhà Wright" không chỉ kể hành trình làm cho máy bay bay trên bầu trời mà còn bộc lộ khao khát, khắc khoải của những người tiên phong.


Ước mơ bay vào bầu trời, từng bị loài người xem là ước mơ xa xôi, hoang đường, nhưng cũng không thiếu những con người luôn nhiệt huyết khám phá những điều bí ẩn và tin vào sức mạnh của sự chinh phục.
Anh em nhà Wright chính là những người như vậy. Họ là hai anh em người Mỹ gồm Orville Wright và Wilbur Wright, là những người đầu tiên thử nghiệm thành công cho máy bay bay được.
Bằng sự say mê hiếm thấy, sự thông minh, nhiệt huyết và tận tụy, họ đã trở thành những người đầu tiên bay lên bầu trời, mở ra một kỷ nguyên mới cho sự phát triển của nhân loại.

Những kẻ mộng mơ lập dị
Trong cuốn sách Anh em nhà Wright, tác giả David McCullough đã khai thác triệt để mọi nguồn tư liệu, nhân chứng có thể để tạo nên một câu chuyện sinh động, hấp dẫn về anh em nhà Wright trong quá trình hình thành, phát triển và thành công khi chế tạo máy bay.

'Anh em nha Wright' va hanh trinh bay len bau troi hinh anh 1
Sách Anh em nhà Wright.

Wilbur Wright và Orville Wright sinh ra trong gia đình có 5 anh chị em, tại thành phố Dayton, bang Ohio của Mỹ. Mẹ Wright mất sớm, nhưng hai anh em Wright cùng với những người anh em khác trong gia đình đều nhận được sự giáo dục tận tụy, và đầy yêu thương từ người cha, tổng giám mục Milton Wright.
Chính ông là người luôn khích lệ, ủng hộ và kiên trì theo dõi hành trình chinh phục khao khát của Wilbur và Orville.
Dưới ngòi bút của McCullough hai anh em nhà Wright thể hiện những cá tính khác biệt, nhưng vô cùng hài hòa, bổ trợ lẫn nhau khi cộng tác trong công việc.
Trong khi Wilbur là người trầm lặng, bình tĩnh, có phần nguyên tắc, đặc biệt yêu thích sách vở, viết lách thì người em Orville lại là người ưa hoạt động, và yêu thích máy móc.
Vì một sự cố nghiêm trọng, phải từ bỏ giấc mơ vào Đại học Yale, Wilbur đã cùng Orville khởi nghiệp với ngành sửa chữa, sản xuất xe đạp. Công việc của họ đã đạt được những thành tựu đáng kể, và mở ra thời kỳ tiến sâu hơn nữa khám phá sự kì diệu của kỹ thuật, là bước đệm cho họ dấn thân vào nghiên cứu, chế tạo máy bay.
Hai anh em khởi đầu với công việc làm những chiếc diều dựa trên cơ chế bay của loài chim mà họ đã quan sát, rồi sau đó cải thiện thành tàu lượn có người lái. Đã có biết bao nhiêu người nhìn họ bằng ánh mắt nghi hoặc, cho rằng họ là chỉ là những kẻ hoang đường, hão huyền.
Nhưng hai anh em đã làm việc cả ngày lẫn đêm trong căn phòng nhỏ phía sau của cửa hiệu xe đạp, suốt nhiều năm trời. Ngày 17/12/1903, Orville trèo vào khoang lái của chiếc máy bay lúc đó được đặt tên “Flyer 1” rồi cất cánh từ mặt đất tại Kitty Hawk lên bầu trời.
Đó chính là khoảnh khắc được mong đợi nhất. Nó bay được khoảng 12 giây trước khi hạ cánh sau một tiếng huỵch ở cách đó 120 fit.
Chuyến bay đầu tiên tại Kitty Hawk vào năm 1903 được McCullough mô tả đầy kịch tích, thú vị, giữa nắng và gió trên một bãi biển mênh mông. Khi Orville bay lên, cô đơn trên bầu trời, tuyệt đẹp, khiến lịch sử ngành hàng không bước sang một hướng khác.
Việc con người có thể bay trên bầu trời đã không còn là một giấc mơ hoang đường nữa, nó có thể, hoàn toàn có thể trở thành hiện thực. Hiện nay chiếc máy bay đầu tiên này đang được đặt tại Viện bảo tàng Hàng không và Không gian Quốc gia Hoa Kỳ tại Washington, D. C.

Vinh quang và câu chuyện về sự nỗ lực
Cuốn sách Anh em nhà Wright không tập trung vào miêu tả những kỹ thuật cơ khí, mà dành nhiều dung lượng để bộc lộ khao khát, khắc khoải của hai anh em nhà Wright. Không một chút khoa trương, McCullough đã trình bày tất cả những câu chuyện của họ một cách chi tiết.

'Anh em nha Wright' va hanh trinh bay len bau troi hinh anh 2
Khi đã đưa được chiếc máy bay bay lượn trên bầu trời, anh em nhà Wright vẫn nỗ lực làm việc.

Từ chuyến bay đầu tiên được thực hiện trong lặng lẽ năm 1903, họ đã liên tục thực hiện những thử nghiệm vào các năm tiếp theo, nhưng cũng hầu như không thu hút được sự chú ý nào.
Cho đến ngày 5/8/1908, sau rất nhiều căng thẳng, mệt mỏi lắp đặt, sửa chữa, cân nhắc, trước sự chứng kiến của nhiều người, trong đó có cả giới chức Pháp, Wilbur Wright đã lái 9 lần với các vòng lượn rộng và biểu diễn kỹ năng điều khiển máy bay. Lần lượn lâu nhất kéo dài 8 phút 13 giây. Thành tích của anh em Wright lần đầu tiên được nhìn nhận ngoài phạm vi nước Mỹ
Từ lúc ấy, liên tiếp những vinh quang đã đến với anh em nhà Wright, họ được cả thế giới chào đón, với những bữa tiệc, những danh hiệu anh hùng được trao. Trước những vinh quang ấy, họ vẫn giữa thái độ bình tĩnh, khiêm nhường, và tích cực làm việc. Điều này được tác giả cuốn sách đặc biệt nhấn mạnh.
Trong phần viết về việc tổ chức đại tiệc cho anh em nhà Wright ở khắp thành phố Dayton, khi người người tham gia diễu hành trên đường phố, tiệc tùng suốt hai ngày, thì Wilbur và Orville đã “bí mật tách khỏi buổi lễ, đi đi về về làm việc tại cửa hàng của họ trên đường West Third”.
Anh em nhà Wright đã trở thành những người hùng của Dayton, họ là niềm tự hào của cả nước Mỹ, nhưng họ vẫn không ngừng làm việc, với mong muốn hoàn thiện hơn nữa kỹ thuật của mình, với khao khát được cống hiến cho sự phát triển vượt bậc của ngành hàng không thế giới.

Gia đình là nguồn an ủi

'Anh em nha Wright' va hanh trinh bay len bau troi hinh anh 3
Chiếc máy bay do anh em Wright điều khiển.

Trong cuốn sách Anh em nhà Wright, McCullough cho độc giả cơ hội được tiếp cận Wilbur và Orville, trong mối quan hệ thân thiết với gia đình. Gia đình không những là nơi thân thương để trở về, đó còn là nguồn an ủi, tận tụy, đã giúp họ vượt qua những giai đoạn khó khăn nhất.
Khi Orville trong một chuyến bay thử nghiệm tại Washington đã bị thương nghiêm trọng, đồng thời suy sụp tinh thần thì người em gái Katharine đã vội vã lập tức xin nghỉ việc vô thời hạn để chăm sóc ông, cận kề bên cạnh ông, cho đến khi ông dần bình phục. Katharine khắc họa vai trò của một người em gái thân thiết, luôn hết mình ủng hộ các anh.
Ngày 30/5/1912, Wilbur qua đời bởi bệnh thương hàn khi mới 45 tuổi. Người em Orville một mình điều hành công ty Wright. Câu chuyện kịch tính và hấp dẫn nhất cũng dừng lại ở đó, nhường chỗ cho những người nối tiếp tương lai. Họ đã hoàn thành sứ mệnh của mình, là những người đầu tiên bay trên bầu trời.
“Với phát minh này, nhân loại đột nhiên được mở rộng tầm mắt, con người đạt được khả năng của loài chim, có thể bay cao trên bầu trời bao la, đến những vùng đất xa xôi vô hạn” - bài phát biểu ngắn của giám mục Wright có lẽ đã nói được đủ đầy vai trò vĩ đại của hai anh em nhà Wright.
Tác giả McCullough là người kể chuyện, giảng viên, nhà sử học người Mỹ. Ông là người chiến thắng giải Pulitzer hai lần cho cuốn sách Truman năm 1992 và John Adams năm 2001. Ông cũng là một trong số ít các sử gia nhận được Huân chương Tự do Tổng thống.
Anh em nhà Wright là cuốn sách thứ mười trong sự nghiệp của ông.
 

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
15. Alfred Nobel

Alfred Nobel và lịch sử giải Nobel huyền thoại


ANTĐ Nhắc tới giải thưởng Nobel, không thể nhắc tới người đã khai sinh ra nó – nhà khoa học và nhà phát minh nổi tiếng người Thụy Điển, Alfred Nobel.

Alfred Nobel sinh ngày 21-10-1833 tại Stockholm, Thụy Điển. Cha của ông là một kỹ sư đồng thời cũng là một nhà phát minh có tài. Không may là việc làm ăn của ông không mấy thuận lợi và không lâu sau khi Alfred ra đời, ông bị buộc phải thôi việc.

Quyết tâm cứu gia đình mình, ông cùng vợ và ba người con trai chuyển tới Nga sinh sống bằng việc cung cấp các trang thiết bị cho quân đội Nga. Công việc trở nên vô cùng thuận lợi và nhờ đó, cậu bé Alfred được hưởng sự giáo dục tốt nhất từ các gia sư riêng mà cha mẹ thuê về dạy học.

Thời thơ ấu

ảnh 1

Chân dung Nobel


Khi còn nhỏ, Alfred Nobel học về 3 chuyên ngành là khoa học, văn học và ngoại ngữ. Ông có thể đọc viết thông thạo nhiều ngôn ngữ như tiếng mẹ đẻ là Thụy Điển, tiếng Nga, Anh, Pháp, Đức vào năm 17 tuổi. Sau này, cha ông quyết định cho ông theo học ngành kỹ sư và đã gửi ông sang Pháp, nơi hiện đứng đầu thế giới về lĩnh vực cơ khí tại thời điểm đó, để theo học.

Ông theo học ngành kỹ sư hóa. Trong quá trình theo học ông gặp một nhà hóa học trẻ người Ý tên là Ascanio Sobrero, anh này đã sáng chế ra một loại chất nổ dễ bay hơi tên là nitroglycerine. Sobrero đã giới thiệu chất này với Nobel, đồng thời giải thích cho ông hiểu ràng nếu sản xuất được chất này sẽ là một đề tài nghiên cứu thú vị nhưng đồng thời cũng sẽ là mối nguy lớn nếu sử dụng nó trong thực tế.

Tuy nhiên, Alfred không nghĩ vậy và ông bắt đầu tiến hành các thí nghiệm với chất này. Những thí nghiệm của ông đã dẫn tới việc sáng tạo một loại chất có ảnh hưởng to lớn tới các ứng dụng quân sự và dân sự sau này: thuốc nổ.


Trở lại Thụy Điển

Sau khi hoàn thành việc học tại Paris, ông trở lại Nga. Tại đây, ông đã giải thích cho cha mình về chất nổ mà người bạn Ý đã nghiên cứu. Họ đã cùng nhau làm các thí nghiệm và khám phá tác dụng của loại chất này với hy vọng chế tạo một thứ gì đó có tính thương mại cao. Trong quá trình tiến hành các thí nghiệm này, họ đã gặp phải khá nhiều sự cố nghiêm trọng, đặc biệt là cái chết của người em trai út, Emil.

ảnh 2

Phòng thí nghiệm của Alfred Nobel


Không lâu sau cái chết thương tâm của em trai, hai người anh cả trong gia đình Nobel ở lại Nga để tiếp tục việc kinh doanh phát triển. Cha, mẹ và Alfred quay trở lại Thụy Điển sinh sống.

Chính thức phát minh ra thuốc nổ
Bất chấp những hậu quả từ các thí nghiệm tại Nga, Alfred tiếp tục thí nghiệm với chất nitroglycerine. Sau cùng, ông chế tạo thành công một loại chất nổ khó bay hơi và dễ kiểm soát hơn trong khi vẫn duy trì được hiệu quả như ở dạng ban đầu. Năm 1886, ông công bố các kết quả thí nghiệm và gọi chất này là dynamite (thuốc nổ). Sau đó ông tiếp tục sáng chế ra kíp nổ để có thể kích nổ từ xa một cách an toàn.

Học được những kiến thức kinh doanh từ cha, Alfred Nobel nhanh chóng xin cấp bằng sáng chế cho thuốc nổ và phát triển một doanh nghiệp chuyên kinh doanh sản phẩm này. Quân đội các nước rất mong muốn sử dụng loại vũ khí mới này, tuy nhiên họ cũng gặp phải nhiều bất tiện vì thuốc nổ phải được đặt đúng tại vị trí mong muốn sau đó mới dùng dây dẫn cháy để cho nổ. May mắn là chỉ vài năm sau, những cải tiến đã được thực hiện và Alfred nhanh chóng trở thành một thương nhân giàu có.

ảnh 3

Phát minh ra thuốc nổ


Nhu cầu thuốc nổ tăng cao không ngừng. Nó được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực như khai thác đá, khai quật, xây dựng đường hầm và phá đá để mở đường cao tốc và đường sắt phục vụ cho giao thông và vận chuyển hàng hóa nặng cũng như các nhu yếu phẩm khác.

Việc kinh doanh thuận lợi giúp Alfred mở tới 90 nhà máy sản xuất thuốc nổ tại 20 quốc gia trên thế giới. Trước khi ông qua đời tại nhà riêng ở San Remo, phía Bắc Italia, ông đã tích lũy được một khối tài sản đáng kinh ngạc. Ông không kết hôn và dành cả cuộc đời mình làm các thí nghiệm hóa học. Ông qua đời trong yên bình vào ngày 10-12-1896.

ảnh 4

Huy chương Nobel


Trong di chúc của mình ông mong muốn sẽ có một giải thưởng được trao cho những người có đóng góp quan trọng trong lĩnh vực Vật lý, Hóa học và Dược phẩm. Thêm vào đó, ông cũng muốn trao giải thưởng trong lĩnh vực Văn học và Hòa bình cho những cá nhân có đóng góp trong việc phát triển mối quan hệ hòa bình giữa các quốc gia. Giải Nobel đầu tiên được trao năm 1901, 5 năm sau ngày Nobel qua đời.

Lễ trao giải Nobel

Lễ trao giải Nobel được diễn ra tại Thụy Điển vào ngày 10-12 hàng năm, nhân dịp kỷ niệm ngày mất của ông. Đức vua Thụy Điển sẽ là người trao giải. Những người nhận giải sẽ được nhận một huy chương có khắc chân dung Alfred Nobel, một bằng chứng nhận và một khoản tiền tính bằng đồng tiền Kronor của Thụy Điển. Giải Nobel Hòa bình cũng được trao vào cùng ngày nhưng là tại Oslo, Na-uy.

ảnh 5

Lễ trao giải Nobel


Dù không nằm trong danh sách ban đầu nhưng sau này, giải Nobel về Kinh tế cũng được thêm vào danh sách trao thưởng. Các giải thưởng chỉ không được trao trong thời kỳ 2 cuộc chiến tranh thế giới khi mâu thuẫn của các quốc gia lên tới đỉnh điểm. Người đoạt giải Nobel trẻ nhất là Lawrence Bragg - 25 tuổi khi ông nhận giải Nobel Vật lý vào năm 1915. Người đoạt giải cao tuổi nhất là Leonid Hurwicz, được trao giải Nobel Kinh tế năm 2007 ở tuổi 90. Tổng thống Mỹ Barack Obama cũng giành giải Nobel Hòa bình năm 2009 vì những nỗ lực của mình để củng cố ngoại giao quốc tế và hợp tác giữa các dân tộc.
 

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
16. Henry Ford

Cuộc đời của Henry Ford

Ford-timeline-1.jpg

Trung tâm thành phố Detroit, c. 1880, Lịch sự: Thư viện Công cộng Detroit, Bộ sưu tập Burton

Ngày 30 tháng 7 năm 1863
Henry Ford được sinh ra tại một trang trại để William và Mary Ford trong Springwells Township, Michigan, nằm chín dặm bên ngoài của Detroit.

Tháng 12 năm 1879
Henry Ford rời trang trại của gia đình để theo đuổi sở thích về máy móc ở Detroit. Một trong những công việc đầu tiên của anh là tại Cửa hàng máy hoa anh em, với mức lương 2,50 đô la một tuần, anh định hình các van bằng đồng trên máy phay.

Ngày 11 tháng 4 năm 1888
Vào sinh nhật lần thứ 22 của mình, Clara Bryant ở Greenfield Town kết hôn với Henry Ford. Bryant lớn lên trên một trang trại vài dặm về phía đông bắc của homestead Ford.

Ford-timeline-2.jpg

Clara Ford bế bé Edsel, lịch sự: Bảo tàng Henry Ford

Ngày 6 tháng 11 năm 1893
Clara sinh con trai, Edsel Bryant Ford. Gia đình đang sống trong một ngôi nhà thuê trên đại lộ Bagley ở Detroit.

Ngày 4 tháng 6 năm 1896
Sau hai năm dành gần như mỗi phút rảnh rỗi để tinh chỉnh động cơ của mình trong nhà kho nhỏ phía sau nhà, cũng như trong một căn phòng dưới tầng hầm tại Edison Illuminating, Ford đã hoàn thành chiếc ô tô đầu tiên của mình, "Quadricycle" và lái nó qua đường phố Detroit .

Ford-timeline-3.jpg

Henry Ford lái xe tứ giác 1896, lịch sự: Bảo tàng Henry Ford

Ngày 5 tháng 8 năm 1899
Với các nhà đầu tư tài chính mà anh ta đã thu hút với xe bốn bánh của mình, Ford thành lập Công ty ô tô Detroit. Trong vài năm tới, Ford sẽ có một số người ủng hộ tài chính, những người cuối cùng trở nên bực tức với những nỗ lực liên tục để cập nhật và cải tiến các mẫu xe của mình.

Ngày 10 tháng 10 năm 1901
Ford đi vào một trong những chiếc xe của mình trong cuộc đua xe 10 dặm ở Grosse Pointe, mà anh thắng. Chiến thắng của anh ấy làm cho anh ấy nói về vòng tròn ô tô. Ngay sau đó, ông xây dựng một, mạnh mẽ hơn tay đua mới - 999 - trong đó đặt một kỷ lục tốc độ của Mỹ năm dặm trong vòng năm phút 28 giây.

Ford-timeline-4.jpg

Đua xe trên đường đua Grosse Pointe, Lịch sự: Bảo tàng Henry Ford

Ngày 16 tháng 6 năm 1903
Henry Ford và đối tác Alexander Malcomson, đại lý than lớn nhất của Detroit, đã kết hợp Công ty Ford Motor với 28.000 đô la tiền mặt và 21.000 đô la tiền hứa từ 10 nhà đầu tư khác - chủ yếu là bạn bè, người thân hoặc liên hệ kinh doanh của Malcomson.

Ford-timeline-5.jpg

Ford Model N, Lịch sự: Bảo tàng Henry Ford

1903 - 1908
Từ năm 1903 đến năm 1908 của Model T, công ty của Ford sản xuất chín chiếc xe khác nhau: Model A, B, AC, C, F, K, N, R và S. Thành công nhất, Model N, được mô tả trong các quảng cáo như "một chiếc ô tô cao cấp, thực tế [nâng cao] ra khỏi danh sách xa xỉ." Doanh số tăng vọt của nó báo trước sự thành công của Model T.

Tháng 10 năm 1908
Ford giới thiệu Model T, hay "Tin Lizzie", như đã được biết đến. Trong vòng vài tháng, nhu cầu rất cao đến nỗi công ty đặt đơn hàng mới tạm thời gián đoạn.

Mùa thu năm 1913
Nhà máy công viên vùng cao của Ford bắt đầu vận hành dây chuyền lắp ráp ô tô di chuyển đầu tiên trên thế giới. Đến cuối năm, Công viên vùng cao sẽ thuê khoảng 13.000 người.

Ford timeline 6.jpg

Thông báo của Ford đã đưa ra tiêu đề, Lịch sự: Báo lịch sử của Mỹ

Ngày 5 tháng 1 năm 1914
Ford Motor công bố mức lương 5 đô la / ngày cho một ngày làm việc tám giờ. Thay thế mức thanh toán trước đó là 2,34 đô la trong một ngày chín giờ, nó gấp đôi số tiền có thể kiếm được ở bất kỳ công ty ô tô nào khác. Ngày hôm sau, 10.000 người tìm việc kêu gọi tìm việc tại Công viên Cao nguyên.

Tháng 4 năm 1914
Sau khi xem một công ty điện ảnh bên ngoài quay một bản tin trong nhà máy của mình, Ford trở nên bị thu hút bởi khả năng công khai và thành lập bộ phận hình ảnh chuyển động của riêng mình. Đội ngũ nhân viên hai người của nó nhanh chóng phát triển thành một công ty sản xuất dịch vụ đầy đủ hơn 25, với đội máy ảnh 35mm hiện đại và phòng thí nghiệm xử lý và chỉnh sửa phim tại Công viên Cao nguyên. Bộ phim đầu tiên của họ, Làm thế nào Henry Ford tạo ra một ngàn chiếc xe mỗi ngày , sẽ được phát hành vào mùa hè đó.

Mùa xuân năm 1915
Henry Ford bắt đầu bí mật mua hàng trăm mẫu đất nông nghiệp dọc theo sông Rouge để xây dựng cái được gọi là Nhà máy Rouge.

Ford-timeline-7.jpg

Henry Ford, trước khi ra khơi trên con tàu hòa bình, Oscar II, Courtesy: Corbis

Ngày 24 tháng 11 năm 1915
Henry Ford gọi một cuộc họp báo để thông báo về kế hoạch chấm dứt Thế chiến 1. Được biết đến như là cuộc thám hiểm "Con tàu hòa bình" của Ford, kế hoạch này bao gồm việc thuê một tàu biển và đi thuyền tới châu Âu để thuyết phục các quốc gia tham chiến ngừng chiến đấu. Diễn viên đóng thế cuối cùng là một thất bại.

Tháng 12 năm 1915
Henry và Clara Ford chuyển đến Fair Lane, một khu đất rộng 1.300 mẫu tại Dearborn, Michigan.

Ngày 1 tháng 11 năm 1916
Edsel Ford, 22 tuổi, kết hôn với Eleanor Clay, cháu gái của người sáng lập Hudson's, cửa hàng bách hóa ưu việt của Detroit.

Ngày 2 tháng 11 năm 1916
John và Horace Dodge, hai trong số các nhà đầu tư ban đầu của Ford, đệ đơn kiện các giám đốc của Công ty Ford Motor cho rằng công ty đã vi phạm lợi ích của các cổ đông. Ford nhận được lệnh cấm ông sử dụng tiền của công ty để xây dựng nhà máy mới.

Ngày 30 tháng 12 năm 1918
Henry Ford bất ngờ từ chức chủ tịch của Ford Motor Company. Con trai 25 tuổi của ông, Edsel được bầu vào vai trò này, và đảm nhận chức tổng thống vào ngày đầu năm mới, 1919.

Ford-timeline-8.jpg

Henry và Edsel Ford, Lịch sự: Bảo tàng Henry Ford

Ngày 5 tháng 3 năm 1919
Henry Ford tuyên bố rằng ông đang bắt đầu một công ty ô tô đối thủ sẽ sản xuất một phiên bản rút gọn của Model T để được bán với giá 250 - 300 đô la. Thông báo gây phấn khích cho công chúng nhưng báo động bảy cổ đông còn lại của Ford Motor Company. Trong hoảng loạn vì nghĩ đến việc mất doanh số cho công ty mới của Ford, họ bán cổ phiếu của họ.

Đến tháng 7, thông báo của Ford được tiết lộ là một mánh khóe: các đại lý của ông đã mua tất cả các cổ phiếu và sẽ không có công ty ô tô đối thủ. Lần đầu tiên, gia đình Ford kiểm soát mọi cổ phần cuối cùng trong Công ty Ford Motor. Và trong khi Edsel có thể là chủ tịch, Henry vẫn giữ quyền lực.

Ford-timeline-9.jpg

Henry Ford trên khán đài, Lịch sự: Brown Brothers

Mùa hè năm 1919
Ford có chỗ đứng trong bộ đồ mà anh ta mang theo chống lại Chicago Tribune . Ford đã kiện Tribune vì tội phỉ báng sau khi tờ báo gọi ông là "kẻ theo chủ nghĩa duy tâm dốt nát và là kẻ thù vô chính phủ của quốc gia". Các tờ báo từ khắp đất nước đưa tin về phiên tòa một cách chi tiết đến nghẹt thở khi Ford phải chịu tám ngày thẩm vấn. Mặc dù Ford đã thắng cuộc thử nghiệm, báo chí đã chế giễu nhà sản xuất ô tô vì thiếu kiến thức lịch sử và hiệu suất không chính xác trên bục nhân chứng.

Ford-timeline-10.jpg

Bài viết của Henry Ford trên tờ Dearborn Độc lập, Đại học Harvard, Thư viện Widener

Ngày 22 tháng 5 năm 1920
Ford bắt đầu xuất bản một loạt các bài báo gây tranh cãi trên tờ Dearborn Độc lập , dưới tiêu đề táo bạo "Người Do Thái Quốc tế: Vấn đề Thế giới". Ông đã mua tờ báo một năm rưỡi trước đó.

Ngày 20 tháng 1 năm 1926
Henry Ford nhận được một bản ghi nhớ từ Ernest Kanzler, một người anh em của Ford VP và Edsel, bày tỏ những gì ông, Edsel và hầu hết các giám đốc điều hành của Ford tin rằng: Công ty Ford Motor nên chấm dứt việc sản xuất Model T vì số lượng bán giảm. và xây dựng một mô hình mới, cải tiến.

Bản ghi nhớ đại diện cho sự thất vọng ngày càng tăng giữa các giám đốc điều hành và một thời gian nhiều người sẽ nhớ lại là những năm căng thẳng nhất trong công ty. Đáp lại bản ghi nhớ, Ford, không quen phản đối, làm bẽ mặt Kanzler ở mọi cơ hội và buộc anh ta rời khỏi công ty trong vòng vài tháng.

Ford-timeline-11.jpg

Henry và Edsel lái chiếc Model T thứ 15 triệu, Lịch sự: Bảo tàng Henry Ford

Ngày 26 tháng 5 năm 1927
Model T thứ 15 triệu đã nghi thức tung ra dây chuyền lắp ráp tại Công viên Tây Nguyên khi Henry và Edsel tạo dáng trước máy ảnh.

Cùng ngày, Ford tuyên bố công ty sẽ bắt đầu sản xuất một chiếc xe hoàn toàn mới - Model A. Ford đã chịu áp lực từ Edsel và các giám đốc điều hành khác và đồng ý ngừng Model T sau khi sản xuất hàng loạt chiếc xe trong 15 năm.

Mùa xuân - mùa thu 1927
Công viên cao nguyên đã ngừng hoạt động trong sáu tháng để chuẩn bị sản xuất chiếc xe mới, Model A. Dự án rất lớn: gần 75% tất cả các công cụ hiện có cần phải được loại bỏ, xây dựng lại hoặc tân trang lại cho mẫu mới. Sáu mươi ngàn công nhân bị sa thải. Cuối cùng, nó sẽ có giá gần 250 triệu USD trước khi Model A đầu tiên được lắp ráp vào ngày 21 tháng 10.

Ngày 30 tháng 9 năm 1927
Henry Ford mua đất ở Brazil để thành lập các đồn điền cao su ở nơi được gọi là "Fordlandia".

Ford-timeline-12.jpg

Công nhân tại River Rouge, Lịch sự: Bảo tàng Henry Ford

Cuối năm 1927
Tám năm sau khi bắt đầu xây dựng, tổ hợp nhà máy River Rouge khổng lồ của Ford bắt đầu sản xuất ô tô quy mô đầy đủ. Nhà máy tích hợp theo chiều dọc là tầm nhìn của Henry Ford đã nhận ra: toàn bộ xe thành phẩm có thể được chế tạo từ đầu bằng cách sử dụng nguyên liệu thô do Công ty Ford Motor sở hữu và cung cấp mà không phụ thuộc vào các nhà cung cấp bên ngoài. Ford đã từng nói với một đồng nghiệp rằng anh ta "muốn các nguyên liệu thô được đưa vào một đầu của nhà máy Rouge và những chiếc xe đã hoàn thành đi ra ở đầu kia".

Ford-timeline-13.jpg

Khu phức hợp Menlo Park của Edison tại Greenfield Village, Lịch sự: Bảo tàng Henry Ford

Ngày 21 tháng 10 năm 1929
Thomas Edison và Chủ tịch Herbert Hoover tham dự "Light's Golden Jubilee" của Ford, một buổi lễ công phu đánh dấu kỷ niệm 50 năm của đèn sợi đốt của Edison.

Là một phần của buổi lễ, Ford công bố Viện Thomas Edison (nay là Bảo tàng Henry Ford) và Greenfield Village, nơi sẽ phát triển để trưng bày hàng trăm tòa nhà và cổ vật lịch sử mà Ford đã mua, tháo dỡ và lắp ráp lại một cách tỉ mỉ như một thị trấn nông thôn được tái tạo - - Kỷ niệm sâu sắc hoài cổ của Ford về quá khứ của nước Mỹ.

29 tháng 10 năm 1929
Thị trường chứng khoán sụp đổ và cuộc Đại khủng hoảng xảy ra ở Mỹ

Ngày 1 tháng 12 năm 1929
Henry Ford lập ra 7 ngày với nỗ lực hỗ trợ công nhân của mình và chống lại các tác động của Suy thoái, nhưng không có kết quả: trong khoảng thời gian từ 1929 đến 1932, Ford phải sa thải gần một nửa lực lượng lao động của mình.

Ford-timeline-14.jpg

Bảo mật Ford tấn công một nhà tổ chức UAW, Courtesy: Bảo tàng Henry Ford

Ngày 26 tháng 5 năm 1937
Các nhân viên an ninh của Ford tấn công dữ dội các thành viên của United Auto Worker (UAW) phát tờ rơi ủng hộ liên minh tại Rouge. Sự thay đổi, được chụp bởi các nhiếp ảnh gia, được gọi là "Trận chiến của cầu vượt".

Ngày 29 tháng 7 năm 1938
Một ngày trước sinh nhật lần thứ 75 của Ford vào ngày 30 tháng 7, Henry, Clara và đám đông 40.000 khán giả tham dự một cuộc thi tại Ford Field ở Dearborn, trong đó 700 diễn viên tái hiện những cảnh trong cuộc đời của Ford.

Ford-timeline-15.jpg

Đàn ông chọn bên ngoài Ford trong cuộc đình công, Lịch sự: Thư viện Walter P. Reuther

Tháng 4 năm 1941
Bên ngoài Rouge, 50.000 nhân viên Ford từ chối làm việc cho đến khi Ford đồng ý đáp ứng yêu cầu của công đoàn kêu gọi mức lương cao hơn, tiền làm thêm giờ và bảo đảm công việc. Ford tuyên bố ông thà đóng cửa các nhà máy của mình hơn là nhượng bộ công đoàn.

Tháng 6 năm 1941
Dưới áp lực của Edsel, các công đoàn và chính phủ, có hợp đồng chiến tranh đang bị đe dọa, Ford cuối cùng đã ký một thỏa thuận với các quan chức công đoàn. Anh ta đưa cho UAW mọi thứ nó muốn và hơn thế nữa - một cửa hàng công đoàn, tiền lương bằng với mức cao nhất trong ngành và các khoản phí công đoàn được khấu trừ từ tiền lương của công nhân.

Ngày 26 tháng 5 năm 1943
Edsel Ford qua đời ở tuổi 49 vì căn bệnh ung thư dạ dày không thể chữa được.

Ngày 1 tháng 6 năm 1943
Henry Ford được bầu lại làm chủ tịch của Ford Motor Company.

Ford-timeline-16.jpg

Henry II, Henry và Edsel trong những năm 1940, Coutesy: Getty Images

Đầu năm 1945
Ford bị đột quỵ khi đang trong chuyến đi đến đồi Richmond, khu đất của ông ở Georgia. Sau khi trở lại Fair Lane, Ford vẫn uể oải về tinh thần và thể chất, thường không nhận ra bạn bè và đồng nghiệp cũ, và cẩn thận tránh xa khỏi tầm nhìn của công chúng.

Ngày 5/11/1945
Henry Ford II, con trai lớn của Edsel và chủ tịch của Ford Motor Company chỉ trong sáu tuần, đã bán lại Fordlandia cho chính phủ Brazil với một phần giá trị của nó.

Ngày 7 tháng 4 năm 1947
Henry Ford qua đời tại Fair Lane ở tuổi 83.
 

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
17. John Logie Baird

John Logie Baird
Nhà phát minh người Anh

John Logie Baird , (sinh ngày 13 tháng 8 năm 1888, Helensburgh, Dunbarton , Scot. Nhiệt mất ngày 14 tháng 6 năm 1946, Bexhill-on-Sea , Sussex , Eng.), Kỹ sư người Scotland, người đàn ông đầu tiên hình ảnh truyền hình của các đối tượng trong chuyển động.
Được đào tạo tại Học viện Larchfield, Đại học Kỹ thuật Hoàng gia và Đại học Glasgow , ông đã sản xuất các vật thể được truyền hình trực tuyến vào năm 1924, truyền khuôn mặt người có thể nhận ra vào năm 1925 và trình diễn truyền hình các vật thể chuyển động vào năm 1926 tại Viện Hoàng gia, London. Bưu điện Đức đã cho ông cơ sở để phát triển dịch vụ truyền hình vào năm 1929. Khi dịch vụ truyền hình của Tập đoàn Phát thanh Anh (BBC) bắt đầu vào năm 1936, hệ thống của ông đã cạnh tranh với một công ty được quảng bá bởi Marconi Electric and Music Industries, và vào tháng 2 năm 1937 BBC đã thông qua hệ thống EMI Marconi độc quyền. Baird đã trình diễn truyền hình màu vào năm 1928 và được báo cáo là đã hoàn thành nghiên cứu về truyền hình lập thể vào năm 1946.

Baird, John Logie


Baird, John Logie John Logie Baird (đứng) và trợ lý của ông làm việc cho "Noctovisor" của Baird, ngày 8 tháng 9 năm 1929. Encyclopædia Britannica, Inc.

Bài viết này được sửa đổi và cập nhật gần đây nhất bởi Amy Tikkanen , Correction Manager.
 

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
18. Louis Pasteur

Louis Pasteur (1822 – 1895)







Louis Pasteur (27 tháng 12 năm 1822 – 28 tháng 9 năm 1895), nhà hóa học, nhà vi sinh vật học người Pháp, với những phát hiện về các nguyên tắc của tiêm chủng, lên men vi sinh. Ông thường được biết đến qua những nghiên cứu quan trọng về các nguyên nhân và biện pháp chữa bệnh, và những khám phá đó của ông đã cứu sống vô số người kể từ đó. Ông giảm tỷ lệ tử vong ở người bị bệnh sốt sau đẻ, tạo ra loại vắc-xin đầu tiên cho bệnh dại và bệnh than. Những nghiên cứu của ông góp phần hỗ trợ trực tiếp cho lý thuyết mầm bệnh và các ứng dụng trong y học lâm sàng. Cũng như nổi tiếng trong việc phát minh ra kỹ thuật ảo quản sữa và rượu để ngăn chặn vi khuẩn có hại xâm nhập, một quá trình mà bây giờ gọi là thanh trùng. Ông được xem là một trong 3 người thiết lập nên lĩnh vực vi sinh vật học, cùng với Ferdinand Cohn và Robert Koch, và được gọi là “cha đẻ của vi sinh vật học”.
Wikipedia

Câu nói hay của Louis Pasteur


“Để tôi nói cho bạn biết bí mật dẫn tôi đến đích. Sức mạnh của tôi chỉ nằm trong sự kiên trì.”
“Let me tell you the secret that has led me to my goal. My strength lies solely in my tenacity.”


“Đừng cố quảng bá những gì bạn không thể giải thích, hãy đơn giản hóa và chứng minh nó sớm.”
“Do not promote what you can not explain, simplify and prove early.”


“Cơ hội chỉ ưu ái cho những người có sự chuẩn bị.”
“Chance favors only the prepared mind.”


Câu chuyện hay về Louis Pasteur

Chàng sinh viên và Louis Pasteur
Trên chuyến tầu chạy từ ngoại ô vào trung tâm thủ đô Paris. Trong toa hạng hai có một ông già ngồi bên cạnh một chàng sinh viên trẻ. Khi tầu chạy được một đoạn thì ông già từ tốn lấy ra trong túi một chuỗi hạt và chỉ ít phút sau ông đã chìm vào trong sự cầu nguyện. Anh sinh viên liếc nhìn tỏ ra khó chịu… Thời gian trôi đi lúc lâu sau thấy ông già vẫn im lặng thành kính say mê lần hạt. Anh sinh viên khó chịu quá thốt lên:
– Này ông! Đến bây giờ ông vẫn còn tin vào sự vơ vẩn này ư?
Ông già từ từ nhìn lên và nhè nhẹ gật đầu:
– Vâng… Tôi vẫn tin nhưng còn anh?
Anh sinh viên cười khẩy:
– Kể ra hồi nhỏ tôi cũng có tin nhưng bây giờ làm sao tôi có thể tin được khi khoa học đã mở mắt cho tôi đã khám phá ra những chân trời mới đã cống hiến cho nhân loại…
Ông già giơ tay ngắt lời anh sinh viên:
– Này anh anh vừa nói là khoa học đã khám phá ra những chân trời mới vậy anh có thể cho tôi biết chân trời mới ấy là thế nào không?
Anh sinh viên sôi nổi quả quyết:
– Vâng… Nếu muốn xin cứ cho tôi biết địa chỉ của ông tôi sẽ giử đến cho ông một cuốn sách khi đọc xong cuốn sách ấy ông sẽ tức khắc bỏ những niềm tin vơ vẩn này đi ngay.
Ông già điềm tĩnh lấy ra tấm danh thiếp đưa cho anh sinh viên. Anh sinh viên đọc tấm danh thiếp thoáng nhìn ông bỗng ngượng tái mặt lẳng lặng bỏ sang toa khác. Trên tấm danh thiếp của ông già chỉ ghi vỏn vẹn có mấy chữ:
Louis Pasteur – Viện trưởng Viện Hàn lâm Khoa học Paris
Nguồn sưu tầm
Louis Pasteur, cha đẻ ngành văcxin chưa bao giờ học y
Chưa bao giờ chính thức theo học y khoa, với những đóng góp to lớn, Louis Pasteur vẫn được coi như một thầy thuốc vĩ đại và được tôn vinh thành “ân nhân của nhân loại”.


Hiếm người cứu sống nhiều sinh mạng hơn Louis Pasteur. Những văcxin ông phát triển đã bảo vệ hàng triệu dân. Nghiên cứu của ông về vi trùng đã cách mạng hóa y tế. Ông còn tìm ra cách thức mới giúp thực phẩm an toàn để ăn. Tờ BBC nhận định, Pasteur đã thay đổi hoàn toàn hiểu biết của nhân loại về sinh học, trở thành “cha đẻ ngành vi sinh vật”.

Đến Đại học Strasbourg, Pasteur bắt đầu sự nghiệp hóa học và nhanh chóng gây tiếng vang. Ở tuổi 25, ông mang đến cho nền khoa học cống hiến quan trọng nhất của mình khi chứng minh phân tử giống hệt nhau có thể tồn tại như hình ảnh trong gương.Sinh ngày 27/12/1822 tại Dole, Jura (Pháp), Pasteur vốn là một học sinh bình thường với niềm đam mê dành cho hội họa. Trong khi giáo viên ra sức ủng hộ Pasteur đi theo nghệ thuật, cha ông chỉ coi đó là một thú vui và muốn con chuyên tâm vào việc học tập ở trường. Pasteur từng nói cha ông muốn con “thấm nhuần sự vĩ đại của nước Pháp” ngay từ thuở mới học chữ.

Nghiên cứu hóa học giúp Pasteur giải được một trong những bí ẩn lớn nhất ngành sinh học thế kỷ 19. Suốt 2.000 năm, con người tin rằng sự sống xuất hiện một cách tự nhiên, bọ chét lớn lên từ bụi còn giòi đến từ xác chết. Bằng một thí nghiệm chuẩn mực, Pasteur chứng minh thực phẩm hỏng do nhiễm vi khuẩn trong không khí. Ông đi đến kết luận những vi khuẩn này có thể gây bệnh. Lý thuyết gây nhiều tranh cãi bởi Pasteur là một nhà hóa học chứ không phải bác sĩ, song lại dẫn đến sự phát triển của thuốc khử trùng nhờ đó thay đổi nền y học mãi mãi.

Chú ý đến Pasteur sau lý thuyết mầm bệnh, Napoleon III giao cho ông xử lý một vấn đề mà ngành công nghiệp rượu vang của Pháp khi ấy đối mặt. Rượu vang của Pháp nổi tiếng khắp châu Âu nhưng rất hay bị hỏng trong quá trình vận chuyển. Pasteur nhận thấy hiện tượng này do vi khuẩn gây ra và nếu làm nóng rượu đến 55 độ C, vi khuẩn sẽ bị tiêu diệt mà không phá hỏng mùi vị rượu. Ngày nay, quá trình ấy được gọi là tiệt trùng, ứng dụng để bảo vệ thực phẩm khỏi nhiễm bệnh.

Sau rượu vang, Pasteur ra tay cứu ngành công nghiệp tơ nhờ phát hiện tằm bị bệnh do ký sinh trùng. Lời khuyên cách ly, loại bỏ những cá thể mang bệnh của ông đã tạo nên cú hích cho nền kinh tế Pháp. Tiếng tăm của Pasteur ngày càng được củng cố.

Ở tuổi 45, Pasteur bị đột quỵ dẫn đến liệt một phần nửa cơ thể bên trái. Từ lúc này, ông vùi đầu vào công việc để quên đi những mất mát to lớn. Thời đại ấy, trẻ em thường tử vong do những bệnh truyền nhiễm. Bản thân nhà khoa học đã mất đi 3 con gái vào các năm 1859, 1865, 1866 do bệnh thương hàn và ung thư. Pasteur đau đớn đến mức thốt lên “thứ duy nhất có thể mang lại niềm vui là công việc”. Bi kịch gia đình trở thành động lực để ông bắt đầu cuộc chiến chống lại bệnh truyền nhiễm.

Đầu tiên, Pasteur cùng đội ngũ phát triển nghiên cứu về bệnh tả gà. Ông tiêm vi khuẩn tả vào đàn gà, các con vật bị ốm nhưng không chết như mong đợi rồi sau hình thành khả năng kháng vi khuẩn độc lực mạnh. Pasteur nhận ra mầm bệnh yếu có thể giúp động vật tăng cường miễn dịch, tạo nên bước ngoặt tiếp nối thành tựu của Edward Jenner trước đó một thế kỷ.

Pasteur nảy sinh ý định điều chế văcxin cho các bệnh khác. Ông chuyển hướng quan tâm sang bệnh than và tuyên bố tìm ra văcxin hiệu quả trên 31 loại động vật.

Pasteur tiếp tục với bệnh dại, căn bệnh với các triệu chứng khủng khiếp dẫn đến cái chết đau đớn kéo dài. Ông gặp Joseph Meister, một cậu bé bị chó dại cắn. Khi đó chẳng ai chắc chắn Joseph sẽ mắc bệnh dại nhưng Pasteur vẫn liều lĩnh thử văcxin trên cậu bé dù trước đó chưa từng tiêm cho người. Kết quả, Joseph sống sót. Cuộc thử nghiệm văcxin đầu tiên trên người ngày 6/7/1885 thành công dù vấp phải nhiều phản ứng rằng Pasteur vi phạm đạo đức nghề nghiệp do không có giấy phép hành nghề y.

Thành tựu nổi bật đầu tiên của Viện Pasteur là xác định cơ chế gây bệnh của bệnh bạch hầu. Công trình do Emile Roux cùng Alexandre Yersin thực hiện đã đưa đến phương pháp chữa trị và cuối cùng là văcxin. Ngày nay, 85% trẻ em toàn thế giới được tiêm chủng văcxin bạch hầu. Kết quả nghiên cứu về bệnh dại được Pasteur trình bày trước Viện Hàn lâm Khoa học Pháp vào ngày 1/3/1886. Nhân dịp này, ông đề nghị thành lập cơ sở sản xuất văcxin chống bệnh dại. Năm 1887, Pasteur nhận 2 triệu Franc Pháp tiền quyên góp. Đến năm 1888, Tổng thống Sadi Carnot cho xây dựng Viện Pasteur đầu tiên tại Pháp rồi mở rộng sang các vùng thuộc địa như Senegal, Bờ biển Ngà. Tôn chỉ của Viện Pasteur từ đó đến nay không thay đổi: nghiên cứu chế tạo văcxin và thực hiện tiêm phòng chống lại các bệnh truyền nhiễm.

Pasteur điều hành Viện Pasteur Paris cho đến khi qua đời vào ngày 28/9/1895 ở tuổi 72. Thi hài “anh hùng quốc gia” được chôn cất ở Nhà thờ Đức Bà rồi chuyển sang trụ sở Viện Pasteur. Năm 1940 khi phát xít Đức xâm chiếm Paris, người gác cổng Viện Pasteur chính là cậu bé Joseph ngày trước đã kiên quyết không mở hầm mộ. Joseph đã tự vẫn để không bao giờ xúc phạm đến thi hài ân nhân của mình.

Giờ đây, Louis Pasteur được nhớ đến như một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho y tế phòng ngừa. Các công trình của ông tiếp tục cứu sống hàng triệu người trên thế giới. Ngày 17/2, “cha đẻ ngành vi sinh vật” được UNESCO ghi vào danh sách “Ký ức Thế giới”, trở thành nhà khoa học thứ 4 trên thế giới nhận vinh dự này.
Nguồn sưu tầm
 

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
19. James Watt

Thiên tài James Watt

James Watt là nhà phát minh, kỹ sư người Scotland đã có những cải tiến mạnh mẽ về máy hơi nước, đặt nền tảng cho cuộc cách mạng công nghiệp. Tên của ông Watt (W) được đặt cho đơn vị đo công suất trong hệ đo lường SI.


Ảnh: en.wikipedia.org

James Watt sinh ngày 19/01/1736 tại một thị trấn ven biển Greenock ở Scotland của Vương quốc Anh. Từ bé, James Watt tỏ ra rất khéo tay và có năng khiếu về môn Toán học.

Vào năm James Watt 17 tuổi thì mẹ ông qua đời. Watt đi đến Luân Đôn để học ngành điều khiển đo lường (measuring instrument) trong 1 năm. Sau đó, ông trở lại Glasgow Scotland với dự tính lập một cơ sở kinh doanh sản xuất thiết bị đo lường.

Tuy nhiên, vì không đủ kinh nghiệm ít nhất 7 năm học việc nên theo quy định, cơ quan quản lý thợ thủ công của Glasgow (Glasgow Guild of Hammermen) không cấp phép cho Watt lập cơ sở kinh doanh. May mắn, Watt được các giáo sư của Đại học Glasgow tạo cơ hội để ông mở một xưởng nhỏ trong trường.

Năm 1757 xưởng được thành lập. Một trong những giáo sư của Đại học Glasgow là nhà vật lý, nhà hóa học Joseph Black đã trở thành bạn và cũng là người thầy của Watt.

Năm 1763 vô tình một mô hình động cơ hơi nước đầu tiên của Thomas Newcomen bị hỏng và người được nhờ sửa chữa chính là James Watt. Trong quá trình nghiên cứu các chi tiết bên trong của mô hình, Watt nhận ra đây thực sự là một phát minh khoa học, và ông nghĩ rằng có thể cải tiến một vài chi tiết để nó hoạt động tốt hơn, hiệu quả hơn.

Vào một buổi sáng, Watt đi bách bộ ngoài sân golf, mặt trời từ từ mọc và rọi lên mặt ông. Bỗng nhiên một đám mây đen che khuất mặt trời, trong phút chốc bầu trời như tối lại. Nghĩ về đám mây đen che kín mặt trời, một ý tưởng mới xuất hiện trong đầu Watt: “Thiết kế bộ ngưng tụ hơi nước, làm cho hơi nước trực tiếp trở lại trạng thái nước ngay từ ngoài xi lanh, như vậy xi lanh có thể duy trì được nhiệt độ tương đối cao.”

Để chế tạo được máy hơi nước kiểu mới, Watt và các trợ lý của ông làm việc miệt mài không quản ngày đêm. Không nản lòng sau bao khó khăn, thất bại, cuối cùng năm 1765 ông đã chế tạo thành công chiếc máy hơi nước giảm được 3/4 lượng than tiêu thụ so với máy hơi nước Newcomen.
Năm 1769, Watt nhận bằng độc quyền về cải tiến máy hơi nước. Từ thành quả này, Watt tiếp tục cải tiến một bước nữa để giảm lượng tiêu hao than xuống, nâng hiệu suất cao hơn.

Năm 1782, ông cho ra đời chiếc máy hơi nước mới đúng như ông đã suy nghĩ: Máy tiêu hao than ít, hiệu suất nâng lên gấp ba lần. Thành công từ phát minh đã khiến cho máy hơi nước Newcomen trở nên lạc hậu.

Máy hơi nước do Watt phát minh nhanh chóng được sử dụng rộng rãi trên mọi tàu thuyền, tàu hỏa. Công nghiệp toàn thế giới nhanh chóng bước vào “thời đại máy hơi nước”.

Tháng 6/1775, giữa Boulton và Watt đã ký kết một hợp đồng có giá trị 25 năm, thành lập công ty Boulton-Watt chuyên sản xuất và tiêu thụ loại máy hơi nước mới. Đây chính là tiền đề để Watt sáng tạo ra những cỗ máy hơi nước ngày càng tân tiến hơn. Trong 25 năm sau đó, công ty Boulton-Watt đã sản xuất một số lượng lớn máy hơi nước cung cấp cho thị trường.

Năm 1781, Watt còn phát minh ra một bộ phận bánh xe giúp máy hơi nước chuyển động xoay tròn, mở rộng phạm vi sử dụng. Ông còn phát minh ra bộ phận ly tâm điều chỉnh tốc độ, thông qua đó máy hơi nước có thể tự động khống chế.



Ảnh minh họa động cơ hơi nước của James Watt - Ảnh: asme.org

Năm 1782, cỗ máy hơi nước chuyển động song hướng do Watt nghiên cứu và chế tạo được cấp bằng sáng chế độc quyền. Năm 1784, loại máy hơi nước nằm cũng được xác nhận quyền sáng chế.

Năm 1785, ông được bầu làm hội viên của Học viện Hoàng gia Luân Đôn.

Năm 1790, Watt đã phát minh ra đồng hồ áp lực, đồng hồ chỉ thị, van tiết lưu và nhiều cải tiến có giá trị khác.

Máy hơi nước do Watt cải tiến đã có tác động to lớn trong cuộc cách mạng công nghiệp. Trước khi có máy hơi nước, mặc dù một số địa phương đã biết sử dụng sức gió và sức nước nhưng chủ yếu vẫn sử dụng sức người.

Ngoài việc dùng làm nguồn năng lượng cho các công xưởng, máy hơi nước còn được ứng dụng trong giao thông vận tải. Năm 1814, công trình sư người Anh George Stephenson chế tạo thành công xe lửa chạy bằng máy hơi nước. Ngày 19/8/1807, nhà phát minh người Mỹ Fulton đã thiết kế một chiếc tàu chở khách chạy bằng máy hơi nước chạy thử thành công trên sông Hudson, đồng thời đã mở ra những chuyến chạy định kỳ từ New York đến An-ba-ni.

Năm 1806, Trường Đại học Glasgow đã cấp cho James Watt bằng Tiến sĩ luật danh dự.

Năm 1814, Viện Khoa học Pháp đã công nhận ông là Viện sĩ người nước ngoài của Viện.

Ngày 25/8/1819, James Watt từ trần tại biệt thự riêng của ông ở Heathfield, thọ 85 tuổi. Thi hài ông được an táng tại nhà thờ Handsworth. Hoàng gia Anh đã coi ông như một vị công thần và đã cho dựng tượng tại nhà thờ Westminster.

Để ghi nhớ công ơn to lớn của James Watt đối với loài người, tên ông đã được đặt cho một đơn vị đo công suất (W) trong hệ đo lường SI.

An Nguyễn
(Tổng hợp)
 

trucxinh0505

Hoài niệm chút quá khứ!
Thành viên BQT
Administrator
Mod - Sáng Tác
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,479
Điểm cảm xúc
1,034
Điểm
113
20. Thomas Newcomen

Thomas Newcomen và động cơ hơi nước

Newcomen Figuier.jpg


Fairbottom Bobs, một động cơ hơi nước Newcomen được phục hồi từ một khu mỏ ở Lancashire, Anh, đã được Bảo tàng Henry Ford mua lại vào năm 1930, cho biết đây có thể là động cơ hơi nước lâu đời nhất trên thế giới.
Bài viết này ban đầu được viết bởi Robert Woods, ASME Fellow. Bài viết này chứa tài liệu được xuất bản trên Tạp chí Cơ khí tháng 12 năm 2003. Bản quyền 2003 Hiệp hội kỹ sư cơ khí Hoa Kỳ
Nó thường xảy ra rằng cá nhân nhận được tín dụng cho một phát minh không phải là người đổi mới thực sự, mà là người thành công nhất trong việc giảm ý tưởng để thực hành. Do đó, chúng tôi chưa bao giờ nghe về các nhà thiết kế tàu thuyền đã thực hiện một nghiên cứu sâu rộng về khí động học trước anh em nhà Wright, hoặc số kỹ sư đã suy đoán về động cơ phản lực trước Whittle.
Điều này đúng với sức mạnh hơi nước. Sự khôn ngoan thông thường là James Watt đã phát minh ra động cơ hơi nước. Sự đóng góp của Thomas Newcomen, người đã chết vài năm trước khi Watt ra đời, thường bị bỏ qua.
Mức độ mà danh tiếng của Watt đã làm lu mờ Newcomen có thể được đánh giá bằng cách so sánh các mục của họ ở Britannica. Cuốn bách khoa toàn thư cung cấp cho Watt gần hai trang, trong khi Newcomen chỉ có một đoạn ngắn. Tuy nhiên, chính Newcomen là người đầu tiên biến động cơ hơi nước thành hiện thực.
Niềm đam mê của con người với thực tế là nước có thể được chuyển thành hơi bằng cách áp dụng nhiệt có lẽ có từ thời tiền sử. Nỗ lực đầu tiên được ghi nhận là khai thác hiện tượng này để tạo ra chuyển động cơ học thường được ghi nhận cho Hero of Alexandria, người đã phát minh ra aeolipile của mình trong thế kỷ đầu tiên. Kế hoạch của ông luôn được trích dẫn là ví dụ đầu tiên của động cơ phản lực. Vòng quay của anh hùng chắc chắn là niềm vui lớn để xem nếu bạn chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ thứ gì ngoại trừ bánh xe ngựa, nhưng nó không đi đến đâu.

Galileo và những tên tuổi lớn khác
Động cơ hơi nước thực tế đầu tiên đã không thành hiện thực cho đến những năm 1700 và nó không xuất hiện dưới dạng thành phẩm. Sự tiến hóa của nó có thể được bắt nguồn từ một dòng bắt đầu từ những năm 1640 và liên quan đến một số tên tuổi lớn, bắt đầu với Galileo.
Chìa khóa của năng lượng hơi nước đã được rèn khi hiểu rằng không khí gây áp lực. Đây là một sự mặc khải cho các nhà khoa học thời hậu Phục hưng. Các thế hệ trước đã bị bắt làm nô lệ bởi một sự tuân thủ mù quáng với những lời dạy của Aristotle, người đã làm buồn cho các nhà triết học trị giá gần 2.000 năm với thông tin rằng "thiên nhiên ghét một khoảng trống" và đó thực sự là tất cả những gì họ cần biết về nó.
Evangelista Torricelli đã chỉ ra rằng "sự ghê tởm" của chân không là hoàn toàn dễ hiểu và không phải do ý thích của một thực thể bí ẩn tên là Tự nhiên. Torricelli đã thực hiện các cuộc điều tra của mình theo đề nghị của người cố vấn của mình, Galileo, người đã rất bối rối vì nước không thể được rút ra ngoài 32 feet. Galileo kết luận rằng Thiên nhiên ghê tởm một khoảng trống, nhưng có lẽ nó không ghê tởm nó nhiều như vậy.
Torricelli, với một trong những tia sáng của trực giác tiến bộ khoa học trong một bước nhảy vọt, đã kết luận vào năm 1643 rằng không khí phải có trọng lượng. Giả thuyết của Torricelli đã được Blaise Pascal điều tra vào năm 1647, người đã thực hiện các thí nghiệm leo núi để nghiên cứu sự phân nhánh của khám phá. Pascal lý luận rằng nếu không khí có trọng lượng, áp suất phải giảm theo độ cao và thực hiện các thí nghiệm với áp kế thủy ngân để chứng minh điều đó.
Đồng thời, Otto von Guericke đã độc lập thực hiện các cuộc biểu tình nổi tiếng của mình được gọi là "quả cầu Magdeburg". Ông đã khám phá khả năng của máy bơm chân không nhỏ, hầu như không lớn hơn ống tiêm ngày nay, để sơ tán tàu thuyền và khiến cho việc tháo nắp đậy gần như không thể. Trong một tập phim nổi tiếng vào năm 1654, ông đã chế tạo một tàu gồm hai bán cầu rỗng, sơ tán nó và chứng minh rằng 50 người đàn ông đồng loạt không thể kéo nó ra.
Bây giờ, áp suất khí quyển là một hiện tượng cần phân tích, cảnh được đặt cho công thức số của nó. Robert Boyle đã làm như vậy và sản phẩm là luật mang tên ông. Boyle đã làm việc với Robert Hooke, người nổi tiếng không kém, và đó là người được bảo hộ của họ, Michael Papin, người đầu tiên cố gắng tạo áp lực khí quyển để làm việc.
Vào những năm 1690, Papin đã cố gắng thực hiện công việc hữu ích bằng cách sơ tán các xi lanh và cho phép áp suất khí quyển để lái pít-tông. Các thí nghiệm của ông đã không dẫn đến bất kỳ ứng dụng thực tế nào, có lẽ bởi vì ông đang sử dụng, trong số những thứ khác, vụ nổ thuốc súng để lái một số sản phẩm không khí và đốt từ xi lanh và sau đó cố gắng làm việc với chân không một phần được ghi nhận khi khí làm mát.
Vài năm sau khi Papin làm việc, vào năm 1698, Thomas Savery thực tế đã làm áp lực khí quyển hoạt động. Ông đã nhận được bằng sáng chế cho ứng dụng khả thi thương mại đầu tiên.
Phát minh của ông không liên quan đến các bộ phận chuyển động. Đó là một bài tập trong hệ thống ống nước sáng tạo. Công việc của ông được thúc đẩy bởi thực tế là một số phương tiện bơm nước từ các mỏ đã trở thành vấn đề sống còn đối với ngành khai thác mỏ ở Anh.
'Bạn của thợ mỏ'
Các mỏ nông đã cạn kiệt và các trục phải bị chìm xuống độ sâu ngày càng tăng, nơi rò rỉ trở thành một vấn đề tương đối lớn hơn và nước phải được bơm ra một khoảng cách lớn hơn. Bằng sáng chế của Savery, được gọi là "Người bạn của thợ mỏ", là cho một máy bơm nước có chức năng bằng cách đưa hơi nước vào buồng, ngưng tụ nó bằng cách làm mát bên ngoài buồng, cho phép chân không một phần hút nước vào bình, sau đó nâng nước lên với áp suất hơi.
Điều này liên quan đến rất nhiều thao tác của van. Savery sử dụng áp lực không quá 140 psi, đó là giới hạn của công nghệ tại thời điểm đó. Hơi nước bão hòa trên áp suất đó làm tan chảy các mối nối ống hàn của anh ta.
Nguyên thủy như vậy, máy bơm Savery đã được sử dụng trong nhiều thập kỷ và cạnh tranh một thời gian với động cơ Newcomen.
Thomas Newcomen (1663-1729) phải được ghi nhận, bởi bất kỳ ai nhìn xa hơn Watt, đã bắt đầu cuộc Cách mạng Công nghiệp. Anh ta làm việc với một trợ lý tên là John Calley, người đã làm hầu hết các công việc phần cứng. Tên của Calley là một cái tên khác đã bị lịch sử bỏ qua - cùng với tên của vợ của Newcomen, Hannah, người dường như đã điều hành công việc của mình trong khi anh ta đang thử nghiệm hơi nước.
Động cơ của Newcomen, như Savery, được tạo ra để bơm nước từ các mỏ. Bằng sáng chế của Savery bao trùm bất kỳ "vết thương" nào để tăng nước hoặc cung cấp năng lượng cho xưởng chế tạo "bởi lực lượng vô dụng của lửa." Từ xa vì phát minh của ông là từ Newcomen, bằng sáng chế của ông đã chứng minh không thể phá vỡ. Newcomen và đối tác của mình Calley đã buộc phải thành lập một công ty liên quan đến Savery. Chiến thắng của Savery, lmwever, là ngắn ngủi. Ông chết trong vòng một năm và quyền của ông đã được mua lại bởi những người kế nhiệm.

Hiệu quả hơn ngựa
Động cơ Newcomen hoạt động kém hiệu quả theo tiêu chuẩn ngày nay, nhưng nó đã thành công về mặt thương mại trong một thời gian bởi vì nó là sự thay thế thực tế duy nhất cho máy bơm chạy bằng ngựa.
Quan trọng nhất, nó đã giới thiệu khái niệm về động cơ cơ khí. Sau đó đã chỉ ra rằng đó không phải là một phước lành hoàn toàn không trộn lẫn. Vì sự kém hiệu quả của chúng, động cơ của Newcomen đã đốt một lượng lớn than đá, tạo ra pall, đặc trưng của Cách mạng Công nghiệp ở Anh và làm phát sinh cái mà nhà thơ William Blake sau này gọi là "nhà máy satan đen tối".
Tương đối ít được biết về giáo dục của Newcomen. Ông tự mô tả mình là một "thợ rèn", có lẽ có thể được hiểu là nhà sản xuất phần cứng. Anh ta được biết là đã cung cấp các mặt hàng kim loại cho các mỏ thiếc, nơi sẽ ngày càng tiến sâu hơn, và anh ta chắc chắn nhận thức được sự cần thiết phải bơm ở đó.
Động cơ đầu tiên của Newcomen đi vào hoạt động vào khoảng năm 1710. Phải hơn 50 năm sau, James Watt mới giới thiệu những động cơ hơi nước của mình. Động cơ của Watt không phải là một khái niệm mới về cơ bản, nhưng nó có lợi thế hơn so với Newcomen về hiệu quả được cải thiện rất nhiều.
Watt đã làm cho động cơ hơi nước hấp dẫn về mặt kinh tế và cho phép sử dụng nó trong các ứng dụng mà động cơ Newcomen quá lãng phí để phục vụ. Do đó, Watt nhận được tín dụng.
Mặc dù rất thích than, tuy nhiên, các ví dụ về động cơ Newcomen vẫn hoạt động vào cuối những năm 1900.
Cả hai động cơ của Watt và Newcomen trong giai đoạn đầu tiên của chúng đều sử dụng liên kết "chùm đi bộ", trong đó chuyển động tuyến tính của pít-tông được chuyển thành một chuyển động tuyến tính khác trong bơm pittông. Cả hai nhà phát minh đều hiểu rằng sự sắp xếp này giới hạn các ứng dụng hầu như chỉ dành cho bơm.
Cả hai đã khám phá việc sử dụng bánh xe ratchet để tạo ra một chuyển động quay hữu ích hơn. Sau đó, watt sẽ tạo ra thanh kết nối và trục khuỷu quen thuộc, cuối cùng được áp dụng cho cả hai động cơ. Thật thú vị, khi cần một chuyển động quay trơn tru, một loại ổ chất lỏng thô được phát minh bằng cách cho các máy bơm pittông đưa nước đến một hồ chứa, sau đó phục vụ một bánh xe nước.
Khía cạnh của một động cơ Newcomen điển hình lập dị nhất theo quan điểm hiện đại là nó hoàn toàn không hoạt động khi sử dụng áp suất hơi. Trong chu trình Newcomen, hơi nước được đưa vào một xi lanh và sau đó ngưng tụ bằng cách phun nước.

Đổi mới của Newcomen: Tiêm nước
Lần bơm nước này là sự đổi mới tuyệt vời của Newcomen. Nó cho phép thời gian chu kỳ nhanh hơn và tránh lãng phí nhiệt sẽ bị mất khi sưởi ấm và sau đó làm mát khối nhiệt của chính buồng. Công việc thực tế được thực hiện bằng áp suất khí quyển, buộc piston vào chân không một phần còn lại bằng cách ngưng tụ hơi nước. Các phép đo sau đó phát hiện ra rằng chu trình tạo ra áp suất trung bình hiệu quả là 9,5 psi.
Xylanh, có thể có đường kính vài feet, thường được đặt ngay phía trên nồi hơi mà không có lý do cụ thể nào ngoại trừ việc giảm chiều dài đường ống giữa chúng. Trong các trường hợp sau đó, nhiều hơn một nồi hơi được đặt bên cạnh xi lanh, cho phép hoạt động không bị gián đoạn trong khi một lò hơi đang được sửa chữa.
Một sự lựa chọn vật liệu lò hơi cho phép vĩ độ đáng kể vì nồi hơi hoạt động ở áp suất gần như bằng không. Do đó, một loại đồng và chì chì với các mối hàn được sử dụng trong các mô hình ban đầu. Xi lanh ban đầu được làm bằng đồng thau. Điều này sau đó đã được thay thế bằng gang.
Nghệ thuật nhàm chán hình trụ đã ở giai đoạn sơ khai; do đó, sự phù hợp của một piston và xi lanh có kích thước lớn là vô cùng nghèo nàn theo tiêu chuẩn của chúng tôi. Các máy nhàm chán duy nhất hiện có được sử dụng để sản xuất pháo. Họ gia công nhiều nhất đường kính vài inch.
Các xi lanh lớn hơn phải được tiếp đất và vắt. Đây rõ ràng là một hoạt động rất chính xác. Một thanh tra bày tỏ sự hài lòng khi một pít-tông lắp xylanh có sai số nhỏ hơn chiều rộng ngón tay út của anh ta. Sự phù hợp kém đã được bù đắp bằng cách sử dụng bao bì hình khuyên hình khuyên rộng, được giữ cho bôi trơn và dẻo dai bằng cách cung cấp một giọt nước liên tục lên đỉnh piston. Đó là một tính năng mà một số nhà văn dường như coi là một sự đổi mới đáng kể.
Thiết kế nồi hơi của Newcomen rất ngây thơ từ quan điểm truyền nhiệt. Khu vực truyền nhiệt đó nên được thực hiện càng lớn càng tốt đã không xảy ra với bất cứ ai. Do đó, hình dạng nồi hơi nói chung là rất không hiệu quả. Hiệu quả không được giúp đỡ bởi niềm tin của Newcomen rằng khối lượng hơi được tạo ra tỷ lệ thuận với khối lượng nước trong nồi hơi, thay vì đầu vào nhiệt.

Sân Smeaton trong
Nỗ lực đầu tiên ở bất cứ điều gì giống như một cuộc điều tra khoa học về động cơ đã không diễn ra cho đến những năm 1770, khi nó được thực hiện bởi một kỹ sư là Vannevar Bush thời đó: John Smeaton. Chín mươi chín động cơ đã được chế tạo vào thời điểm đó. Năm mươi bảy đã hoạt động. Con lớn nhất có lỗ khoan 75 inch. Smeaton, hơn ai hết, chịu trách nhiệm thúc đẩy việc sử dụng công cụ Newcomen.
Bằng cách lựa chọn khéo léo để thực hiện các phép đo phù hợp, chẳng hạn, Smeaton nhận thấy rằng một động cơ có pít-tông đường kính 52 inch và hành trình 7 chân, chạy ở 12 chu kỳ ("rung") mỗi phút và 7,5 psi, phát triển 40 mã lực . Bảy psi sau đó đã trở thành áp lực danh nghĩa được sử dụng bởi các nhà thiết kế.
Sau khi Smeaton giới thiệu một vài con số vào cuộc thảo luận, một nghiên cứu đã được thực hiện vì lợi ích của những người hoài nghi. Các động cơ đã hoạt động được một thời gian và có thể chứng minh lợi thế tài chính của chúng so với máy bơm chạy bằng ngựa. Một động cơ có đường kính xi lanh 1 feet và hành trình 5 feet đã được nhìn thấy để bơm 250.560 gallon nước mỗi ngày với chi phí 20 shilling. Hai con ngựa, làm việc theo ca hai giờ, có thể bơm 67.200 gallon cùng một lúc với chi phí cao hơn một chút. Hiệu suất máy bơm thậm chí cho phép sáu giờ một ngày trong bảo trì định kỳ.
Một trong những đóng góp lớn nhất của Newcomen là phát triển các cơ chế để thực hiện chu trình của mình một cách tự động. Phiên bản đầu của động cơ của ông liên quan đến van thao tác bằng tay. Đây là một hoạt động chậm và cung cấp một cơ hội cho các lỗi nghiêm trọng; nó chỉ ra rõ ràng sự cần thiết của bộ truyền động cơ học.
Các thiết bị truyền động sớm nhất là các máy lực, bao gồm các thanh có chốt điều chỉnh, liên kết với chùm và tay cầm van tác động khi chúng di chuyển lên xuống. Các phiên bản sau này có các mối liên kết khá tinh vi giống như sự thoát của đồng hồ.
Rằng một cỗ máy mạnh mẽ có thể tự điều chỉnh là một sự đổi mới đáng kinh ngạc vào những năm 1700, khi những cỗ máy tự trị duy nhất là đồng hồ. Rất nhiều văn hóa dân gian, gần như chắc chắn là tận thế, đã phát sinh về các thiết bị truyền động van.
Câu chuyện ngụ ngôn phổ biến nhất phát sinh khi một nhà văn được thông báo rằng các van được điều chỉnh bởi một chiếc phao - đó là thuật ngữ cho một thiết bị truyền động phao. Trong một số phiên bản của câu chuyện, điều này được giải thích có nghĩa là một "cậu bé" đang thao túng các van và thông tin sai lệch này đã được bất tử. Những câu chuyện vẫn được kể về việc đưa cậu bé không tồn tại này (có lẽ) đến tình trạng giống như Jack trong câu chuyện về cây đậu. Anh ta thậm chí còn được đặt tên là Humphry Potter và chúng tôi được thông báo rằng anh ta đã phát minh ra bộ truyền động van bằng cách buộc dây vào các van vì anh ta quá lười để xoay chúng bằng tay.
ASME tuyên bố động cơ Newcomen là một cột mốc kỹ thuật cơ khí lịch sử quốc tế vào năm 1981.
 
Top