Những nhà phát minh

trucxinh0505

Xóm nhỏ phố núi
Thành viên BQT
Administrator
Chuyển ngữ
Tác giả
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,938
Điểm cảm xúc
1,987
Điểm
113
Để có được cuộc sống đầy đủ, tiện nghi như ngày nay, chúng ta không thể quên những đóng góp to lớn của Các nhà phát mình, chính là là nhân tố quan trọng góp phần tô đẹp cuộc sống này.

1. Thomas Edison

Edison và hơn 10.000 lần thất bại để mang lại ánh sáng cho nhân loại

Từ đứa trẻ bị đuổi học vì "đần độn", Thomas Edison đã trở thành thiên tài thế kỷ nhờ được mẹ dạy dỗ và niềm đam mê khám phá của bản thân.

Thomas Alva Edison (1847-1931) được coi là một trong số ít nhà phát minh giàu ý tưởng nhất lịch sử. Ông là tác giả của nhiều thiết bị có ảnh hưởng lớn tới thế giới hiện đại như bóng đèn dây tóc, máy quay đĩa, máy điện báo.
Cậu bé ốm yếu với những câu hỏi ngớ ngẩn

Theo sách Kể chuyện tấm gương hiếu học, Edison là con thứ 7 trong gia đình bình thường. Ngay từ nhỏ, Edison thường xuyên bị ốm.
Sức khỏe không tốt nên hồi tiểu học, Edison thường xuyên đến lớp muộn, không tập trung học, không chịu trả lời những câu hỏi của thầy cô. Thay vào đó, cậu bé liên tục đặt ra những câu hỏi "Tại sao?", "Thế nào?".

Không chịu nổi cá tính khác thường của Edison, có lần, thầy giáo gọi cha mẹ ông đến trường và phàn nàn rằng: "Edison không chịu học hành, chỉ toàn làm phiền người khác bằng những câu hỏi không đâu. Hôm qua, cậu ta còn hỏi: Tại sao 2 cộng 2 lại bằng 4? 2 cộng 2 thì đương nhiên là bằng 4, lại còn hỏi vớ vẩn gì nữa. Cậu ta chỉ làm ảnh hưởng xấu đến các bạn khác mà thôi!".


Edison va hon 10.000 lan that bai de mang lai anh sang cho nhan loai hinh anh 1
Thomas Edison - người mang ánh sáng đến cho nhân loại. Ảnh: Getty.

Chính bởi những câu hỏi "chẳng đâu vào đâu", cậu bé Edison thường bị xếp hạng "đội sổ", bị các bạn trong lớp chế giễu là đần độn. Edison luôn được bố trí chỗ ngồi cạnh bàn giáo viên, nơi dành cho những đứa trẻ học yếu nhất lớp.
Tuy nhiên, ngoài giờ học ở lớp, lúc ở nhà, Edison cũng tỏ ra là cậu bé thích tìm tòi, suy nghĩ, quan sát, đặt ra những câu hỏi nhiều lúc người lớn không biết trả lời thế nào.
Edison cũng nổi tiếng là cậu bé hiếu kỳ. Cậu để ý thấy rất nhiều điều mới lạ, bí ẩn của thế giới xung quanh và luôn tự mình tìm cách để khám phá những bí mật ẩn chứa trong đó.
Sách Kể chuyện tấm gương hiếu học viết rằng: "Một lần, Edison thấy tổ ong trên hàng rào nhà mình. Tò mò muốn biết trong tổ ong có những gì, Edison liền lấy cây gỗ chọc mạnh vào tổ ong. Kết quả là ông bị cắn cho một trận sưng húp mặt mũi. Lần khác đọc sách về núi lửa, vì muốn trông thấy ngọn lửa lúc cháy rực sẽ thế nào, Edison lén đốt sạch kho thóc của nhà hàng xóm. Sau khi hàng xóm tố cáo với cha mẹ, Edison bị đánh tơi bời".
Dù gặp phải sự cố ngoài ý muốn như vậy, Edison vẫn không từ bỏ sở thích tìm tòi, khám phá của mình. Trong khi bạn bè cùng trang lứa miệt mài với những trò chơi của tuổi học trò, Edison vùi mình vào khám phá để tìm hiểu mọi sự vật, hiện tượng xung quanh.

Hơn 10.000 lần thí nghiệm để phát minh bóng đèn

Do kết quả học tập ở trường không tốt, Edison đã sớm bị đuổi học chỉ sau thời gian ngắn đến trường. Dù rất đau khổ, gia đình Edison đành phải chấp nhận.
Có mẹ là giáo viên, Edison được dạy học riêng ở nhà. Bà thường hướng dẫn, khuyến khích con trai làm một số thực nghiệm đơn giản giống như trong những cuốn sách bà thường đưa cho Edison đọc.
Một lần, mẹ mua cho Edison cuốn sách Nhập môn khoa học thực nghiệm và khoa học tự nhiên, cậu bé lập tức bị cuốn hút bởi phần khoa học thực nghiệm trình bày trong đó. Edison ay sưa nghiên cứu những điều viết trong cuốn sách và dành thời gian làm những thí nghiệm nhỏ.
Edison đã biến căn phòng hầm của gia đình thành phòng thí nghiệm nhỏ với rất nhiều dụng cụ như dây đồng, dây sắt, que thủy tinh, ống nhựa… Đây chính là nơi Edison đã làm những thí nghiệm đầu tiên về điện và hóa học.


Edison va hon 10.000 lan that bai de mang lai anh sang cho nhan loai hinh anh 2
Bên trong bảo tàng trưng bày phát minh về điện của Edison ở Florida. Ảnh: Getty.


Trong cuộc đời nghiên cứu khoa học của Edison, phát minh vĩ đại và nổi tiếng nhất của ông chính là bóng đèn dây tóc, mang lại ánh sáng cho nhân loại.
Để biến điện năng thành ánh sáng, Edison đã làm hàng nghìn thí nghiệm nhằm tìm ra vật liệu thích hợp làm dây tóc bóng đèn. Khi liên tục gặp thất bại, bị công kích là "người hoang tưởng", "quân lừa bịp", Edison vẫn không nản chí. Ông vẫn trung thành với khát vọng của bản thân.
Thomas Edison đã thất bại hơn 10.000 lần trước khi phát minh ra bóng đèn, nhưng ông không bao giờ gọi đó là thất bại, mà xem đó như những cơ hội để học hỏi.
Ông từng nói rằng: "Rất nhiều thất bại trong cuộc sống đều do người ta không nhận ra rằng họ đã gần với sự thành công tới chừng nào và họ chấp nhận từ bỏ công việc của mình".
Sau hàng nghìn lần thất bại, cho đến một ngày, Edison tình cờ sờ vào cái nút tòn ten ở trên khuy áo khoác rồi thốt lên: "Đây rồi! đây chính là cái mà ta sẽ dùng làm dây tóc!".
Tiếp theo, ông cho cái sợi chỉ vào một cái khuôn niken, nung trong lò lửa suốt 5 giờ đồng hồ để sợi chỉ biến thành than. Sau khi để nguội, ông lấy sợi chỉ ra, cho vào một vật chứa bằng thủy tinh đã được tạo chân không ở bên trong, để sợi chỉ không bị đốt cháy rồi cho dòng điện đi qua.
Edison hồi hộp, băn khoăn, không biết dòng điện sẽ chạy được trong bao lâu? Nhưng kết quả thật mỹ mãn, sợi dây tóc sáng liên tục được tới 45 tiếng. Giống như thí nghiệm của mình, mặt Edison cũng sáng lên vì sung sướng.
Nhờ sự nỗ lực không ngừng nghỉ, nhân loại đã có được ánh sáng của đèn điện như ngày hôm nay. Về sau, cùng các cộng sự của mình, Edison còn tạo tạo ra nhiều thiết bị để cải tiến và cách tân công nghệ.
Từ cậu bé sớm phải rời ghế nhà trường vì bị nghi ngờ đần độn đến trở thành nhà phát minh vĩ đại, nhà sáng chế hàng đầu của nhân loại, Edison đã chứng minh rằng "thiên tài không tự sản sinh ra".
Tính tò mò, sự hiếu kỳ, sở thích khám phá để giải đáp những điều xung quanh đã giúp Edison biến ý tưởng có phần không tưởng của ông thành hiện thực để giúp ích cho nhân loại.

Nguồn:Zing.vn
 

trucxinh0505

Xóm nhỏ phố núi
Thành viên BQT
Administrator
Chuyển ngữ
Tác giả
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,938
Điểm cảm xúc
1,987
Điểm
113
2. Nikola Tesla

Nikola Tesla - kẻ điên rồ vĩ đại là một nhà khoa học nối tiếng với các ý tưởng khó tin, điên rồ khiến giới khoa học xa lánh và cho rằng ông bị điên. Nhưng chính ông là nhà phát minh, nhà khoa học vĩ đại góp công lớn trong sự phát triển của nền công nghiệp, xã hội ngày nay.


Nhà khoa học Nikola Tesla



Nikola Tesla là một nhà phát minh, nhà vật lý, kỹ sư cơ khí và kỹ sư điện tử được biết đến với nhiều đóng góp mang tính cách mạng trong các lĩnh vực điện và từ trường trong cuối thế kỷ 19 đầu thế kỉ 20.


Dưới đây là những ý tưởng điên rồ, không thực tế nổi tiếng khiến người ta gán cho ông biệt danh "bác học điên".

1. Khai thác tia vũ trụ

Khai thác tia vũ trụ



Tesla từng nghĩ đến ý tưởng khai thác nguồn năng lượng miễn phí đến từ những hạt nguyên tử, các loài tia đầy rẫy trong vũ trụ. Đây là ý tưởng bị coi là khoa học giả tưởng với hầu hết các nhà nghiên cứu vì nó không thực tế.


Những Tesla lại tin rằng có thể thiết kế một chiếc máy khả thi để khai thác nguồn năng lượng này và chấm dứt vấn đề khan hiếm từ Trái Đất.


Các hạt vũ trụ siêu nhỏ này liên tục rơi xuống mặt đất với tốc độ nhanh hơn ánh sáng và ông nghĩ có thể "bắt" được chúng để chuyển đổi thành năng lượng sử dụng được. Rất tiếc, phát minh của ông chưa từng được sản xuất.

2. Điện cảm ứng

Điện cảm ứng



Tesla mơ ước một thế giới không tồn tại dây điện phức tạp. Ông đề xuất một hệ thống điện không dây bao gồm một tháp truyền điện và năng lượng không dây đến mọi ngõ ngách trên hành tinh. Ông đã chứng minh ý tưởng này qua thí nghiệm về sự truyền dẫn cảm ứng để đốt sáng một cái bóng đèn ở khoảng cách ngắn.


Ông bắt tay xây dựng tháp Wardenclyffe ở New York nhưng sau đó bị rút nguồn tài trợ của JP Morgan vì họ phát hiện ý đồ thật sự của ông chứ không phải xây dựng tháp viễn thông. Đây là bước cuối cùng trong hệ thống điện không dây của Tesla và được kết hợp với phát minh máy thu năng lượng vũ trụ. Nếu thành công, thế giới sẽ được sử dụng điện miễn phí và không giới hạn chỉ bằng một cái ăng-ten.


Phát minh của Tesla bị chính phủ phản đối kịch liệt vì nó không thu được lợi nhuận. Tuy nhiên, mới đây các nhà khoa học đã thắp sáng được bóng đèn bằng điện không dây ở khoảng cách 7 mét.

3. Đốt lạnh

Đốt lạnh



Phát minh này hy vọng sẽ thay thế được xà phòng và nước trong sinh hoạt. Tesla muốn thay thế điện với nước vì điện là kẻ thù lớn nhất của vi trùng.


Sự đốt lạnh nghĩa là đốt cháy nhưng không gây bỏng, người ta sẽ đứng trên một tấm kim loại và được phủ trong nguồn điện luân phiên đến 2,5 triệu volt giống như một ngọn lửa trùm lên cơ thể.


Phương pháp này hiệu quả vì da người có tính dẫn điện. Nó còn có tác dụng chữa bệnh vì nguồn điện mạnh có thể sinh ra lượng lớn khí ozon khử trùng có lợi cho sức khỏe.


Vấn đề chi phí và an toàn cho người sử dụng đã biến ý tưởng "đốt lạnh" thành mơ hồ.

4. Teslascope

Teslascope



Nỗ lực lớn nhất mà Nikola Tesla luôn cố gắng là tạo ra thiết bị giao tiếp với người ngoài hành tinh.


Ông tuyên bố có thể giao tiếp với những nền văn minh xa xôi bằng Teslascope nhưng chưa có ai xác minh những gì ông nói.


Ông đã nghe thấy nhiều âm thanh khác nhau không giống bất cứ thứ gì từng biết và những tiếng click tương tự bộ mã Morse.


Sử dụng chiếc kính Teslascope của mình, ông hy vọng chứng minh sự tồn tại của sự sống trên sao Hỏa.

5. Máy phát tia chết chóc

Máy phát tia chết chóc



Đây là phát minh nguy hiểm của Tesla trong nỗ lực chống lại chiến tranh. Death Ray - Tia chết chóc làm việc như một máy gia tốc hạt có khả năng bắn một chùm tia năng lượng cao tới khoảng cách 250 dặm để làm tan chảy mọi động cơ và máy bay chiến đấu.


Tesla đã đề xuất ý tưởng cho JP Morgan để xin tài trợ và khẳng định với dòng năng lượng 80 triệu volt, chùm tia có thể xuyên thủng bất cứ vật liệu gì.


Lập luận của ông khá thuyết phục nhưng chính phủ Anh và Mỹ đều từ chối. Nước Nga đã ủng hộ Tesla và cho chạy thử nghiệm phát minh này. Nhiều nhà lý thuyết âm mưu cho rằng chính hoạt động chế tạo này đã gây ra vụ nổ Tunguska (30/7/1908).



6. Điều khiển thời tiết

Điều khiển thời tiết



Một trong những thách thức lớn nhất của con người là khả năng kiểm soát thời tiết. Tesla nghĩ rằng ông có thể làm cho đất đai màu mỡ nhờ sử dụng sóng vô tuyến điện để thay đổi từ trường Trái Đất trong tầng điện ly của khí quyển, hình thành các sóng khí quyển cực mạnh điều khiển thời tiết.


Một lần nữa, thuyết âm mưu cho rằng phát minh của ông đã rơi vào tay kẻ xấu và đang được chúng sử dụng để thống trị nhân loại. Bằng chứng là sự thay đổi khí hậu, thời tiết cực đoan ngày một nhiều hiện nay.

7. Súng tia X

Súng tia X



Việc phát hiện ra tia X của William Roentgen thu hút giới khoa học, đặc biệt là Tesla. Ông mở rộng phát mình thành một khẩu sung bắn tia X - quang, lợi hại cùng với Mark Twain - họ trở thành đôi bạn thân sau khi Tesla chữa khỏi bệnh táo bón cho đại thi hào này.


Sử dụng khẩu súng này, 2 ông có thể nhìn xuyên thấu bất cứ vật gì mà chùm tia đi qua ở khoảng cách 12 mét. Sáng chế tưởng chừng bị lãng quên giờ lại trở thành một ứng dụng không thể thiếu trong y học ngày nay.

8. Dòng điện xoay chiều

Dòng điện xoay chiều



Nikola Tesla bắt đầu hợp tác với Thomas Edison năm 1882 khi ông chuyển tới Paris làm việc cho công ty Continetal Edison. Đây là thời gian đầu khi Tesla được giới khoa học công nhận tài năng. Edison đã gợi ý trả 50.000 đô cho Tesla để sửa chữa chiếc máy phát điện của mình mặc dù sau đó không thấy ông trả khoản tiền đó cho cộng sự.


Điều này buộc Tesla tách riêng và lập công ty, nơi ông phát triển loại điện mới gọi là dòng điện xoay chiều có khả năng truyền tải khoảng cách xa và tiết kiệm. Edison đã rất tức giận và kêu gọi mọi người biểu tình, thậm chí dọa đốt nhà xưởng.


Tesla đã chứng minh dòng điện của mình đủ thắp sáng bóng đèn mà không gặp bất cứ nguy hiểm nào ở triển lãm năm 1893.

9. Thắp sáng thế giới

Thắp sáng thế giới



Một lần nữa, Tesla muốn cho cả thế giới thấy tài năng của mình bằng sáng chế ra loại hạt khí loãng nhạy cảm với năng lượng để phát sáng cho cả hành tinh. Ông lên kế hoạch sử dụng một loại tia cực mạnh như tia cực tím bắn vào các hạt này để chúng phát sáng như hiện tượng cực quang. Ông khiến người ta cho rằng nếu thành công, con tàu Titanic sẽ chẳng bao giờ chìm xuống mãi mãi.

10. Máy giao động của Tesla

Máy giao động của Tesla



Tất cả vạn vật đều tạo từ nguyên tử và mỗi nguyên tử lại rung động ở tần số khác nhau. Nếu gặp phải tần số phù hợp thì sẽ cộng hưởng thành tần số rung có biên độ cao hơn. Gần giống như hiện tượng chiếc cầu treo rung lắc theo nhịp của một cơn gió nhẹ cũng đủ để nó sập.


Dựa vào lý thuyết ấy, Tesla phát minh chiếc máy phá hủy bỏ túi tạo ra những tần số rung khác nhau. Ông kể lại là khi bật chiếc máy đó lần đầu tiên, một tiếng động lạ vang lên và những vết nứt đầu tiên xuất hiện. Mọi thứ rung lên bần bật cho tới khi cảnh sát ập tới đạp vỡ cái máy trước khi tòa nhà sụp đổ.


Khi được hỏi về cách cái máy có thể phá hủy được tòa nhà Empire State không. Tesla trả lời rằng chỉ cần có đủ thời gian tìm ra tần số phù hợp, chiếc máy sẽ truyền một lượng lớn năng lượng cơ học để phá hủy bất cứ thứ gì.


Phát minh của ông được nhiều người ủng hộ vì chứa một sức mạnh to lớn trong chữa bệnh nếu nó tìm đúng tần số rung của khối u, của căn bệnh trong cơ thể để phá hủy hoàn toàn mà không ảnh hưởng đến những bộ phận khác.
 

trucxinh0505

Xóm nhỏ phố núi
Thành viên BQT
Administrator
Chuyển ngữ
Tác giả
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,938
Điểm cảm xúc
1,987
Điểm
113
3. Alexander Graham Bell

Alexander Graham Bell và đường dây điện thoại đầu tiên trên thế giới


ANTĐ Phát minh điện thoại của Alexander Graham Bell đã khơi nguồn cho một cuộc cách mạng viễn thông thay đổi thế giới.

Trước đó, công nghệ hiện đại nhất chính là bảng mã điện báo Morse. Từ niềm đam mê công việc dạy cho người khiếm thính và sự am hiểu bảng mã Morse, Alex đã phát minh ra ‘máy điện báo âm thanh’ và sau này đổi tên thành ‘điện thoại’.

Gia đình nhà Bell

Alexander Graham Bell sinh ngày 3-3-1847 tại Edinburgh, Scotland. Cha của ông là Alexander Melville Bell và mẹ là Eliza Grace Symonds Bell. Cậu bé Aleck là con thứ hai trong gia đình và tên của cậu được đặt theo tên ông nội và bố theo truyền thống thời đó. Không may là hai người anh em của Alex đều mất vì dịch viêm phổi làm cho hàng loạt trẻ em chết yểu vào thời đó.

Edinburgh, thủ đô của Scotland thời đó được mệnh danh là “Athen phương Bắc” vì đây là một thành phố của văn hóa, giáo dục và học tập. Sống trong không gian đó, cậu bé Aleck bắt đầu hình thành niềm đam mê khám phá khoa học và nghệ thuật. Aleck cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ ông mình- một giáo sư khả kính dạy môn diễn thuyết trước công chúng.

ảnh 1

Alexander Graham Bell

Mẹ của ông là một người khiếm thính nhưng bà vẫn là một nhạc công dương cầm rất thành công. Chính Alexander đã lấy người mẹ của mình làm động lực vượt qua khó khăn cũng như tìm ra phương thức chữa bệnh khiếm thính cho mẹ bằng cách phát minh ra điện thoại.

Alexander Graham Bell không đi học mà được mẹ dạy dỗ tại nhà. Họ cùng nhau khám phá và tìm tòi bất cứ điều gì hấp dẫn họ. Vì thế, từ nhỏ cậu bé Aleck đã có kiên thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực cũng như niềm đam mê tìm hiểu thế giới không ngừng. Sau này, ông có đi học trường tư trong vòng 1 năm để chuẩn bị cho khóa học chính quy hai năm tại trường trung học hoàng gia.

Năm 12 tuổi khi đang theo học tại trường hoàng gia, ông có phá minh đầu tiên. Khi đó Alex và một người bạn đang quan sát hoạt động của một nhà máy xay bột và ông nhận thấy quá trình tách trấu khỏi bột rất khó khăn. Alex đã phát triển thành công một hệ thống các mái chèo và đinh ốc hoạt động tự động để tách trấu một cách hiệu quả.


Nghiên cứu về sự truyền âm

Năm 16 tuổi, Alex bắt đầu những nghiên cứu đầu tiên về "cơ chế truyền âm". Ông cũng có được một vị trí giảng viên tại học viện Weston với môn âm nhạc và nghệ thuật diễn thuyết.

Ông tiếp tục phát triển công nghệ “Lời nói khả kiến” giúp người khiếm thính có thể học được vị trí của các cơ quan liên quan tới lời nói như môi, lưỡi và ngạc để tạo âm thanh dù họ không thể nghe được những gì mình vừa nói.

ảnh 2

Bản thiết kế điện thoại


Năm 1870, Alex cùng gia đình vượt đại dương để bắt đầu cuộc sống mới tại Canada. Một năm sau đó, ông chuyển tới Mỹ dạy học và tận hưởng bầu không khí bác học tại thành phố Boston. Tới năm 1872, Alex tìm thấy một trường dạy cho người khiếm thính sử dụng những công nghệ ông đã phát triển trước đó cho các giáo viên dạy người khiếm thính. Trường đào tạo sau đó được hợp nhất với đại học Boston. Vào thời điểm đó, học vị giáo sư bắt đầu được công nhận và Alexander Graham Bell trở thành giáo sư đầu tiên của bộ môn Sinh lý học lời nói năm 1873. Đến năm 1882, ông trở thành công dân vĩnh viễn hợp pháp của Hoa Kỳ.

Từ điện báo tới viễn thông

Phát minh điện thoại của Alex đã khơi nguồn cho một cuộc cách mạng viễn thông thay đổi thế giới. Trước đó, công nghệ hiện đại nhất chính là bảng mã điện báo Morse. Từ niềm đam mê công việc dạy cho người khiếm thính và sự am hiểu bảng mã Morse, Alex đã phát minh ra ‘máy điện báo âm thanh’ và sau này đổi tên thành ‘điện thoại’.

Ý tưởng thực sự truyền tiếng nói điện tử trong một khoảng cách xa luôn luôn là một khái niệm cuốn hút Alex. Từ công nghệ điện báo, ông đã suy nghĩ rất nhiều để phát triển điện thoại.

Năm 1875 ông sản xuất máy thu đơn giản đầu tiên của mình có khả năng chuyển các xung điện thành âm thanh. Alex cuối cùng tạo ra một máy tính mà có thể cả truyền và nhận âm thanh. Phát minh đáng chú ý và thay đổi thế giới này đã được ông đăng ký bằng sáng chế vào năm 1876.

ảnh 3

Gia đình nhà Bell năm 1885
Không giống như nhiều phát minh mới khác, điện thoại đã được thông qua một cách nhanh chóng. Chỉ sau một năm trạm trao đổi điện thoại đầu tiên đã được xây dựng ở Connecticut và Công ty Bell Telephone được thành lập. Alexander Graham Bell nhanh chóng trở thành một người đàn ông rất giàu có. Ông đã được trao một số giải thưởng uy tín và tiếp tục phát triển hơn nữa các thí nghiệm trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là công nghệ để giúp người khiếm thính.

Ông cũng thành lập The National Geographic Society và là một trong những chủ tịch và biên tập viên đầu tiên của tạp chí. Ông qua đời trong yên bình vào mùa xuân năm 1922.

Chiếc điện thoại đầu tiên

ảnh 4

Cuộc điện thoại đường dài đầu tiên được thực hiện.
Alex không bao giờ gọi được cho mẹ hay vợ ông vì họ đều là những người khiếm thính


Chiếc điện thoại đầu tiên do Alexander Graham Bell chế tạo gồm một nam châm điện đôi có màng căng phía trước như mặt trống. Giữa màng chắn là một dây làm bằng sắt. Có thêm một ống nghe hình như cái phễu tương tự như trong các máy hát thời xưa. Khi nói vào ống nghe, một chuỗi các rung động sẽ được tạo ra ở màng chắn, truyền tới dây sắt và tạo ra dòng điện dao động chạy qua dây dẫn. Thiết bị nhận ở đầu dây bên kia là một đĩa kim loại được nối với một đường ống và một nam châm điện khác. Các xung điện từ được truyền tới sẽ làm đĩa rung và tạo sóng âm tương ứng với những gì người gọi đã nói. Alexander đã gọi thiết bị của mình là “Máy điện báo âm thanh”.

Cuộc điện thoại đầu tiên cũng là do Alex tự tay thực hiện. Ông đã gọi cho trợ lý cơ điện của mình là Thomas Watson ở phòng bên cạnh và nói đơn giản “Anh Watson, sang đây đi, tôi muốn gặp anh!”. Nhiều năm sau, đường điện thoại đường dài đầu tiên được thiết lập giữa New York và Chicago.

 

trucxinh0505

Xóm nhỏ phố núi
Thành viên BQT
Administrator
Chuyển ngữ
Tác giả
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,938
Điểm cảm xúc
1,987
Điểm
113
4. Albert Einstein

Albert Einstein
(14/3/1879 – 18/4/1955)
www.tudiendanhngon.vn - Danh nhân - Albert Einstein

Albert Einstein (14/3/1879 – 18/4/1955) là nhà vật lý lý thuyết người Đức đoạt giải Nobel Vật lý năm 1921 cho "những cống hiến đối với vật lý lý thuyết", đặc biệt về việc khám phá định luật của hiệu ứng quang điện, một bước ngoặt quan trọng đối với lý thuyết lượng tử. Ông được biết tới nhiều nhất với phương trình E = mc2 về sự tương đương khối lượng – năng lượng, được coi là phương trình nổi tiếng nhất thế giới. Các công trình của Einstein cũng được biết đến vì ảnh hưởng của chúng lên nền triết lý khoa học.
Einstein là một người phản đối chiến tranh và đã gây được 6 triệu đô la tiền quỹ bằng việc bán đấu giá bản viết tay về thuyết tương đối hẹp của mình vào năm 1944. Khi Thế chiến II bắt đầu, ông viết thư gửi tới Tổng thống Franklin D. Roosevelt cảnh báo về khả năng phát triển "bom loại mới cực kỳ có sức tàn phá" và khuyến nghị Hoa Kỳ bắt đầu nghiên cứu tương tự. Điều này cuối cùng dẫn tới Dự án Manhattan, dự án đã tạo ra vũ khí hạt nhân đầu tiên trong Thế chiến II. Einstein ủng hộ việc bảo vệ Quân Đồng Minh, nhưng phản đối việc sử dụng phát kiến mới về phân hạch hạt nhân để làm vũ khí. Sau này, cùng với triết gia Bertrand Russell người Anh, Einstein ký Tuyên ngôn Russell–Einstein cảnh báo về sự nguy hiểm của vũ khí hạt nhân.
Einstein đã công bố hơn 300 báo cáo khoa học, cùng hơn 150 bài viết về các chủ đề khác. Vào ngày 5/12/2014, các trường đại học và thư viện cùng công bố các bài viết của Einstein với tập hợp lên tới hơn 30,000 tài liệu. Những thành tựu tri thức của ông khiến từ "Einstein" trở nên đồng nghĩa với "thiên tài".
Trong cuộc đời cống hiến nghiên cứu khoa học, Albert Einstein nhận được nhiều giải thưởng quốc tế như Giải Nobel Vật lý (1921), Huân chương Matteucci Medal của Ý (1921), Huân chương Copley của Hiệp hội Khoa học Hoàng gia (1925), Huân chương Max Planck của Hiệp hội Vật lý Đức (1929), Franklin Medal của Viện Franklin (1936).

Nguồn: www.tudiendanhngon.vn
Danh ngôn của Albert Einstein

Chỉ có hai điều là vô hạn: Vũ trụ và sự ngu xuẩn của con người và tôi không chắc lắm về điều đầu tiên.
Only two things are infinite, the universe and human stupidity, and I'm not sure about the former.

Người đọc quá nhiều và với bộ óc quá ít sẽ rơi vào thói quen suy nghĩ lười biếng.
Any man who reads too much and uses his own brain too little falls into lazy habits of thinking.

Không phải là tôi quá thông minh, chỉ là tôi chịu bỏ nhiều thời gian hơn với rắc rối.
It's not that I'm so smart, it's just that I stay with problems longer.

Sự khác biệt giữa quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là một ảo tưởng dai dẳng đến ngoan cố.
The distinction between the past, present and future is only a stubbornly persistent illusion.

Học từ ngày hôm qua, sống ngày hôm nay, hi vọng cho ngày mai. Điều quan trọng nhất là không ngừng đặt câu hỏi.
Learn from yesterday, live for today, hope for tomorrow. The important thing is not to stop questioning.

Đừng phấn đấu để thành công mà hãy phấn đấu để mình có ích.
Strive not to be a success, but rather to be of value.

Sự đơn điệu và cô độc của một cuộc sống yên lặng kích thích trí sáng tạo.
The monotony and solitude of a quiet life stimulates the creative mind.

Có một câu hỏi đôi khi khiến tôi thấy mơ hồ: Tôi điên hay người khác điên?
A question that sometimes drives me hazy: am I or are the others crazy?

Tôi không biết chiến tranh thế giới thứ 3 sẽ sử dụng vũ khí nào nhưng tôi biết rằng chiến tranh thế giới thứ 4 sẽ sử dụng gậy gộc và đá!
I know not with what weapons World War III will be fought, but World War IV will be fought with sticks and stones.

Kẻ ngu xuẩn nào cũng có thể khiến mọi thứ trở nên to hơn, phức tạp hơn và bạo lực hơn. Chỉ bàn tay của thiên tài - và thật nhiều dũng khí - để biến chuyển ngược lại.
Any fool can make things bigger, more complex, and more violent. It takes a touch of genius - and a lot of courage - to move in the opposite direction.

Logic sẽ đưa anh từ điểm A tới điểm B. Trí tưởng tượng sẽ đưa anh tới mọi nơi.
Logic will get you from A to B. Imagination will take you everywhere.

Sự khác biệt giữa thiên tài và kẻ ngu dốt là ở chỗ thiên tài luôn có giới hạn.
The difference between stupidity and genius is that genius has its limits.

Tôi nghĩ và nghĩ hàng năm hàng tháng. Chín mươi chín lần tôi đi tới kết luận sai lầm. Lần thứ một trăm tôi đúng.
I think and think for months and years. Ninety-nine times, the conclusion is false. The hundredth time I am right.

Tôi sống với sự cô đơn đau đớn trong tuổi trẻ nhưng lại ngọt ngào trong những năm tháng trưởng thành.
I live in that solitude which is painful in youth, but delicious in the years of maturity.
Chúa luôn chọn cách đơn giản nhất.
God always takes the simplest way.

Kẻ nào chưa từng mắc phải lỗi lầm cũng là kẻ chưa bao giờ thử làm việc gì cả.
A person who never made a mistake never tried anything new.
Nếu anh không thể giải thích đơn giản thì anh chưa hiểu đủ rõ.
If you can't explain it simply, you don't understand it well enough.

Quyền lực luôn luôn thu hút những kẻ không có đạo đức.
Force always attracts men of low morality.

Anh càng đi nhanh, anh càng đi được ít.
The faster you go, the shorter you are.

Trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức.
Imagination is more important than knowledge.

Không thể gìn giữ hòa bình bằng bạo lực. Nó chỉ có thể đạt được bằng sự thông hiểu lẫn nhau.
Peace cannot be kept by force; it can only be achieved by understanding.

Trước Chúa chúng ta đều thông thái và ngu xuẩn như nhau.
Before God we are all equally wise - and equally foolish.

Lực hấp dẫn không chịu trách nhiệm cho việc con người ta yêu nhau.
Gravitation is not responsible for people falling in love.

Đừng làm gì trái với lương tâm, ngay cả khi chính quyền yêu cầu bạn.
Never do anything against conscience even if the state demands it.

Sợ chết là nỗi sợ hãi phi lý nhất, vì người đã chết chẳng có nguy cơ bị tai nạn.
The fear of death is the most unjustified of all fears, for there's no risk of accident for someone who's dead.

Chính trị chỉ cho hiện tại, nhưng phương trình là mãi mãi.
Politics is for the present, but an equation is for eternity.

Tôi không những chỉ là một người chuộc hòa bình mà còn là một người chuộc hòa bình máu chiến. Tôi sẵn sàng chiến đấu vì hòa bình. Không gì có thể kết thúc chiến tranh nếu bản thân con người không từ chối tham gia chiến tranh.
I am not only a pacifist but a militant pacifist. I am willing to fight for peace. Nothing will end war unless the people themselves refuse to go to war.

Tôi không có tài năng đặc biệt nào, tôi chỉ có sự tò mò đầy nhiệt huyết.
I have no special talent. I am only passionately curious.

Tôi là người vô đạo tới sâu sắc - điều này có phần như là một thứ tôn giáo mới.
I am a deeply religious nonbeliever - this is a somewhat new kind of religion.

Khoa học mà thiếu tôn giáo thì khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng.
Science without religion is lame, religion without science is blind.

Đừng lo lắng về khó khăn của bạn trong toán học, tôi đảm bảo với bạn rằng những khó khăn toán học của tôi còn gấp bội.
Do not worry about your difficulties in Mathematics. I can assure you mine are still greater.

Thông tin không phải là kiến thức.
Information is not knowledge.

Môi trường là tất cả những gì không phải là tôi.
The environment is everything that isn't me.

Nếu thực tế không vừa với học thuyết, hãy thay đổi thực tế.
If the facts don't fit the theory, change the facts.

Tôi không bao giờ tin vào vị Chúa chơi xúc xắc với thế gian này.
I shall never believe that God plays dice with the world.

Nhiệm vụ của chúng ta là tự giải phóng bản thân bằng cách làm rộng vòng tròn của lòng trắc ẩn để ôm lấy mọi sinh vật sống và tất cả sắc đẹp của thiên nhiên.
Our task must be to free ourselves by widening our circle of compassion to embrace all living creatures and the whole of nature and its beauty.

Chúa trời rất khó hiểu, nhưng không ma mãnh.
God may be subtle, but he isn't plain mean.

Nỗ lực kết hợp giữa trí tuệ và quyền lực hiếm khi thành công, mà có thành công cũng chỉ trong chốc lát.
The attempt to combine wisdom and power has only rarely been successful and then only for a short while.

Tất cả những điều có giá trị trong xã hội con người đều dựa vào cơ hội phát triển hòa hợp trong mỗi cá nhân.
All that is valuable in human society depends upon the opportunity for development accorded the individual.

Chính là trải nghiệm về những điều bí ẩn - thậm chí ngay cả khi lẫn trong niềm kính sợ - đã sản sinh ra tôn giáo.
It was the experience of mystery - even if mixed with fear - that engendered religion.

25 câu nói của Albert Einstein cho thấy tư duy một thiên tài

Trong nhiều năm qua, tên tuổi của Albert Einstein đã trở thành một từ đồng nghĩa với thiên tài.
Trong cuộc đời mình, Einstein đã thay đổi cả thế giới, mô tả sự vận hành của thực tại tốt hơn bất cứ ai kể từ thời Isaac Newton, và hé mở tiềm năng của công nghệ bom nguyên tử. Vào năm 1999, ông được báo Time vinh danh là Con người của Thế Kỷ.
Sau đây là 25 câu nói của Einstein được nhiều người trích lại nhất, mỗi một câu đều cho bạn hiểu rõ thêm về tư duy của huyền thoại này.

Về quyền thế
(ảnh: Flickr/jeffmcneill)
(ảnh: Flickr/jeffmcneill)

Về quy mô


“Thiên nhiên chỉ cho chúng ta thấy cái đuôi của con sư tử. Nhưng tâm trí tôi không hề nghi ngờ rằng có con sư tử ở đó, ngay cả khi nó không thể xuất hiện toàn thân thể trước con mắt thịt của tôi bởi vì kích thước quá to lớn.” – Trích "Smithonian, 02/1979"

Về chính trị
(ảnh: Wikimedia)(ảnh: Wikimedia)
“Tôi thừa hưởng di sản của người Do thái, là công dân của Thụy Sĩ, và trưng diện như một con người, và chỉ một con người, không hề có gắn kết bất kỳ với nhà nước hay tổ chức quốc gia nào.” – Trích “The Yale Book of Quotations”

Về sự chắc chắn

“Quy luật của toán học càng liên hệ tới thực tế càng không chắc chắn, và càng chắc chắn thì càng ít liên hệ tới thực tế.” – Phát biểu tại Viện Khoa học Prussian, 01/1921

Về sự khiêm nhường


“Là con người, người ta được ban cho chỉ vừa đủ trí tuệ để có thể thấy rõ ràng trí tuệ ấy nhỏ bé thảm hại thế nào khi đứng trước thế giới này.” – Trích Thư gửi Nữ Hoàng Elisabeth tại Bỉ, 09/1932.

Thuyết tương đối
einstein-on-relativity
“Khi người đàn ông ngồi với một cô gái xinh đẹp trong một giờ, dường như đó chỉ là một phút. Nhưng nếu anh ta ngồi trên một cái bếp lò nóng trong một phút, thời gian đó còn dài hơn cả một giờ. Đấy là thuyết tương đối.” – Trích “The Yale Book of Quotations”

Về sự phát triển của bản thân
(ảnh: Wikipedia)
(ảnh: Wikipedia)

“Đúng là cha mẹ tôi đã rất lo lắng bởi tôi biết nói khá trễ, đến mức họ phải đi tư vấn bác sĩ. Tôi không thể khẳng định lúc đó mình bao nhiêu tuổi – nhưng chắc chắn là không dưới ba tuổi.” – Trích Thư năm 1954.

Về lẽ thường

“Lẽ thường chẳng khác nào một khoản định kiến đã nằm sẵn trong tâm trí từ trước khi bạn đủ 18 tuổi.” – Trích “The Universe and Dr. Einstein”

Về sự thành công

“Nếu đặt A là một sự thành công trong cuộc sống, vậy thì A bằng X cộng với Y cộng với Z. Làm việc chính là X, vui chơi chính là Y, còn biết giữ mồm giữ miệng chính là Z.” – Trích “The Yale Book of Quotations”

Về chủ nghĩa quốc gia
(ảnh qua imgur.com)
(ảnh qua imgur.com)

“Chủ nghĩa quốc gia là căn bệnh của trẻ con. Nó là bệnh sởi của loài người.” – Trích từ sách “Albert Einstein, the Human Side”

Về những điều huyền bí
(ảnh: Baby Boomer Talk)
(ảnh: Baby Boomer Talk)

“Trải nghiệm tươi đẹp nhất mà chúng ta có chính là những điều huyền bí. Nó là cảm xúc cơ bản đứng trong cái nôi của nghệ thuật và khoa học chân chính. Những ai không biết nó và cũng chẳng còn tự hỏi, chẳng còn lấy làm ngạc nhiên, thì cũng bằng như đã chết, và mắt họ đã bị mờ đi.” – Trích “The World As I See It,” 1930.

Về sự đơn độc
(ảnh: Apple)
(ảnh: Apple)

“Ý thức đam mê của tôi về trách nhiệm và công lý xã hội luôn luôn tương phản một cách kỳ quái với sự thiếu vắng nhu cầu phải tiếp xúc trực tiếp với người khác và cộng đồng. Tôi thực sự là “kẻ độc hành” và chưa bao giờ, với cả trái tim mình, thuộc về đất nước, tổ ấm, bạn bè của mình, thậm chí cả người thân ngay trong gia đình; khi đối diện với các mối ràng buộc này, tôi chưa bao giờ mất đi cảm giác cần có một khoảng cách và nhu cầu được đơn độc.” – Trích “The World As I See It,” 1930.

Về vẻ bề ngoài
(ảnh: Wikimedia)
(ảnh: Wikimedia)

“Nếu tôi bắt đầu quan tâm đến việc chải chuốt, tôi sẽ không còn là chính mình nữa.” – Trích Thư, 12/1913.

Về trí tưởng tượng
(ảnh: Getty)
(ảnh: Getty)

“Trí tưởng tượng còn quan trọng hơn cả kiến thức. Kiến thức thì hạn chế. Trí tưởng tượng lại bao quanh cả thế giới.” – Trích Smithsonian, 02/1979.

Về động lực
(ảnh: ebravolosada / Flickr)
(ảnh: ebravolosada / Flickr)

“Lý tưởng thắp sáng con đường của tôi, và nhiều lần cho tôi dũng khí mới để có thể đối diện cuộc sống một cách vui tươi, đó chính là Chân, Thiện, Mỹ. Nếu không có cảm giác thân hữu với những người cùng tư duy, không có sự hiện hữu với thế giới khách quan, sự bất tận vĩnh hằng trong lĩnh vực nghệ thuật và khoa học, thế giới sẽ dường như trống rỗng đối với tôi. Những mục tiêu nhàm chán của loài người – của cải, thành công bề ngoài, sự xa hoa – tôi luôn xem là đáng khinh thường.” – Trích “The World As I See It,” 1930.

Về giáo dục

“Mục đích [của giáo dục] phải là sự đào tạo ra những cá nhân biết hành động và tư duy một cách độc lập, tuy nhiên lại là những người xem việc phục vụ cộng đồng là vấn đề lớn nhất trong cuộc đời.” – 10/1936.

Về tham vọng
einstein-on-ambition
“Điều có giá trị thực sự sẽ không bao giờ phát sinh từ tham vọng hoặc từ ý thức bổn phận đơn thuần, nó bắt nguồn từ tình yêu và sự tận tâm đối với con người và những điều khách quan.” – Trích Thư, 07/1947.

Về sự học hỏi
(ảnh: Flickr/recuerdosdepandora)
(ảnh: Flickr/recuerdosdepandora)

“Hầu hết các giáo viên phí hoài thời gian bằng việc đặt những câu hỏi nhằm tìm những điều học sinh không biết, trong khi nghệ thuật đặt câu hỏi chính là để khám phá xem học sinh thực sự biết và có khả năng biết những gì.” – Trích trong một buổi đối thoại năm 1920..

Về việc suy nghĩ
(ảnh: Wikimedia commons)
(ảnh: Wikimedia commons)

“Tôi rất ít khi suy nghĩ bằng câu từ. Khi một ý nghĩ đến, về sau tôi mới cố gắng thể hiện nó ra thành lời nói.” – Trích “Productive Thinking,” 1959.

 

trucxinh0505

Xóm nhỏ phố núi
Thành viên BQT
Administrator
Chuyển ngữ
Tác giả
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,938
Điểm cảm xúc
1,987
Điểm
113
5. Alexander Fleming

Ngày này đúng 90 năm về trước: có phải Alexander Fleming đã mở ra kỷ nguyên kháng sinh?


Fleming không phải người đầu tiên khám phá ra đặc tính kháng khuẩn của nấm Penicillium.
Sự kiện Alexander Fleming phát hiện penicillin, vào đúng ngày này 90 năm trước, thường được kể lại như một may mắn tình cờ. Trước một kỳ nghỉ, Fleming quá mệt nên đã lười không rửa những đĩa thí nghiệm. Và sau khi trở về vào ngày 28 tháng 9 năm 1928, ông thấy một đĩa petri sạch bóng vi khuẩn.
Thì ra chủng nấm Penicillium sinh sôi trong đĩa thí nghiệm đó đã tiết ra kháng sinh, giết chết tất cả vi khuẩn xung quanh nó. Và nhờ sự lười biếng của chính mình – eureka - Fleming đã may mắn cứu cả thế giới.

Câu chuyện về nhà khoa học Scotland và đĩa petri bẩn đã được kể đi kể lại tới hàng ngàn lần. Đến nỗi năm 1985, chuyên gia bệnh truyền nhiễm Harold Neu phải tự hỏi trên tạp chí JAMA rằng: "Liệu chúng ta có thực sự cần viết một cuốn sách khác về Alexander Fleming hay không?".

Trên thực tế, cuốn sách mà Neu đề cập chứa một sự thật trái với câu chuyện thú vị mà mọi người được kể. "Alexander Fleming: Người đàn ông và huyền thoại" của nhà huyết học Robert Gwyn Macfarlane (nhà xuất bản Hogarth Press năm 1984) đưa ra một phiên bản xét lại, trong đó giới hạn những thành tựu của Fleming cũng như hình ảnh anh hùng của ông.

Trái với câu chuyện bắt đầu với Fleming và đĩa petri nổi tiếng, bức tranh lớn hơn về kháng sinh thực sự đã được vẽ lên từ rất lâu trước ngày 28 tháng 9 năm 1928. Nhiều tài liệu trích dẫn cho thấy nấm đã được sử dụng từ thời cổ đại để chữa lành vết thương.

Quan sát khoa học đầu tiên ghi nhận vi khuẩn không phát triển với sự hiện diện của nấm Penicillium cũng được thực hiện từ năm 1870, bởi nhà sinh lý học người Anh John Scott Burdon-Sanderson. Đó là khoảng gần 60 năm trước khi Fleming quên rửa những đĩa thí nghiệm của ông ấy.
Trong khoảng 6 thập kỷ tiếp theo, nhiều nhà khoa học như Joseph Lister, John Tyndall, Louis Pasteur và những đồng nghiệp khác của họ ở Ý, Pháp và Bỉ, cũng đã quan sát và nghiên cứu hiện tượng ức chế phát triển vi khuẩn tương tự.

Vậy là, Fleming không phải người đầu tiên khám phá ra đặc tính kháng khuẩn của nấm Penicillium. Mặc dù người ta có thể lập luận rằng, không ai trong số những nhà quan sát tiên phong trước đó thiết lập được một nghiên cứu liên tục và hiệu quả đưa đến thành công cuối cùng, về cơ bản điều đó cũng đúng với nghiên cứu của Fleming.

Xuất bản kết quả lần đầu vào năm 1929, Fleming gọi hỗn hợp kháng khuẩn ông tìm ra là "nước ép nấm mốc", một cách nói khiêm tốn về tính ứng dụng rất thấp của nó bởi sự bất ổn định của penicillin.

Fleming có đề cập đến "khả năng ứng dụng trong điều trị nhiễm khuẩn", nhưng trên hết, ông chỉ dám nhấn mạnh rằng thứ "nước ép" của mình "chắc chắn hữu ích" trong vai trò một công cụ kỹ thuật đơn thuần, dùng để tách vi khuẩn kháng thuốc khỏi những vi khuẩn nhạy cảm với penicillin.

Bất chấp mọi thứ, sẽ không công bằng khi công việc của Fleming chỉ được nhìn nhận như một may mắn ngẫu nhiên. Đúng hơn, đó là một phần thưởng từ cơ hội, thứ chỉ có được sau một nỗ lực kiên trì và bền bỉ.

Là một nhà vi trùng học, Fleming đã dành nhiều thập kỷ tìm kiếm các chất kháng khuẩn để khắc phục điểm yếu của các chất khử trùng ở thời điểm đó [thường có độc tính cao và nguy hiểm cho con người]. Trong công trình trước đây của mình, ông đã xác định được lysozyme, một loại enzyme có trong dịch tiết mũi của một bệnh nhân cảm lạnh, dường như ức chế được sự phát triển của vi khuẩn.

"Ngay cả khi không gắn tên tuổi của mình với penicillin, Fleming cũng sẽ không xuất hiện trong lịch sử ngành y vi sinh học chỉ như một chú thích dưới chân trang", Kevin Brown, người phụ trách Bảo tàng Phòng thí nghiệm Alexander Fleming ở St. Mary, cho biết. "Bên dưới sự kiện penicillin là một nền tảng vững chắc trong tư tưởng khoa học và phương pháp nghiên cứu của Fleming".

Mặc dù vậy, việc không đi đến thành công cuối cùng với penicillin [Fleming không phân lập và ổn định được nó ra khỏi thứ "nước ép" của mình, điều cần thiết để biến nó thành thuốc điều trị nhiễm trùng] đã khiến ông không nhận được sự chú ý của cộng đồng khoa học nữa.

Mặc dù nhiều nghiên cứu tiếp theo về penicillin đã được công bố bởi chính cha đẻ của nó suốt 10 năm, gần như không ai còn để ý đến Fleming. Và penicillin bị bỏ rơi. Trong một đánh giá cho cuốn sách của Macfarlane, được xuất bản vào năm 1984 trên Medical History, Norman Heatley tự hỏi liệu Fleming có phải là một nhà khoa học vĩ đại hay không?

"Theo quan điểm của người đánh giá hiện tại, câu trả lời phải là Không", ông ấy viết. Nhưng điều quan trọng cần lưu ý trong nhận định này là ai là người viết ra nó: Heatley là một thành viên của nhóm nghiên cứu đến từ Bệnh viện Bệnh viện Radcliffe, Oxford, những người đã thành công trong việc thanh lọc penicillin, biến nó thành thuốc để cứu sống hàng triệu người sau này.

Để khách quan hơn, hãy hỏi María Jesús Santesmases, một sử gia khoa học đến từ Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Tây Ban Nha. Bà đồng thời là tác giả của một số tác phẩm về lịch sử của penicillin, bao gồm cuốn "Lưu hành Penicillin ở Tây Ban Nha: Sức khỏe, Sự giàu có và Quyền lực" (nhà xuất bản Palgrave Macmillan, 2018).

Santesmases cho biết: "Fleming là một nhà khoa học giỏi". Thế nhưng, vai trò của ông ấy chỉ giới hạn trong việc "phát hiện hoạt tính của một tác nhân mà ông không thể cô lập được".

Cũng là tình cờ mà nhóm các nhà khoa học Oxford, dẫn đầu bởi Howard Florey và Ernst Boris Chain, lục lại các tài liệu từ một thập kỷ trước để tìm hiểu về công trình của Fleming. Nhưng cũng chính từ đây, mọi sự tình cờ với penicillin đã chấm dứt để bắt đầu một quá trình khoa học thực thụ.

Sử gia y học Bill Bynum viết trên tạp chí The Lancet năm 2007: "Sự khám phá đã đến từ khoa học cũ, nhưng bản thân thuốc [penicillin muốn ra đời] phải có những cách làm khoa học mới".

Khoa học mới đó sử dụng các phương pháp làm mới, và ý tưởng làm việc nhóm ra đời để lại phía sau hình ảnh quen thuộc của những nhà khoa học luôn đơn độc làm việc một mình. Nhà sử học Santesmases cũng nhận định:

"Nhóm Oxford là cần thiết [cho sự ra đời của thuốc kháng sinh], cả chuyên môn hóa sinh của Chain và sự khôn ngoan tích lũy được của Florey, cùng với công việc của nhiều người nữa [cũng đã góp phần vào đó]".

Người ta nói rằng vào năm 1940, khi Fleming đọc các bài báo khoa học đầu tiên công bố bởi nhóm Oxford, ông gọi điện cho Florey để sắp xếp một cuộc họp. Khi Chain biết về chuyến thăm của Fleming, ông phải thốt lên rằng: "Chúa ơi! Tôi nghĩ rằng ông ấy đã chết".

Quá trình thanh lọc và sản xuất penicillin diễn ra trong một thời gian dài và mất rất nhiều thời gian. Năm 1941, lần đầu tiên nó được sử dụng cho một bệnh nhân. Đó là viên cảnh sát Oxford Albert Alexander, bị nhiễm trùng nghiêm trọng trên mặt - dường như không phải bởi một đầu gai hoa hồng, mà là vì một vụ ném bom của quân đội Đức tại Southampton, nơi ông ấy đóng quân vào tháng 11 năm 1940.

Với một lượng penicillin ít ỏi và bị đào thải nhanh qua nước tiểu, Florey than thở rằng việc điều trị cho Alexander giống như "cố gắng đổ đầy một bồn tắm mà không có nút đậy nắp". Các nhà nghiên cứu thậm chí đã phải thu thập nước tiểu của Alexander, đạp xe qua lại phòng thí nghiệm và bệnh viện để chiết xuất lại thuốc. Nhưng cuộc đua bằng xe đạp chống lại nhiễm trùng máu đã kết thúc trong thất bại. Alexander tử vong.

Mặc dù vậy, sự hồi phục tạm thời của Alexander đã thuyết phục được các nhà khoa học, rằng trong trường hợp họ có đủ penicillin, Alexander sẽ được chữa khỏi hoàn toàn.

Cùng với Heatley, Florey đã tới Hoa Kỳ. Ở đây, ông đã thuyết phục được một số công ty dược phẩm lớn (bao gồm Merck, E R Squibb & Sons, Charles Pfizer & Co. và Lederle Laboratories) mở rộng quy mô sản xuất penicillin.

Một sự kiện quan trọng nữa, Thế chiến thứ 2 đã đặt ra cho chính phủ Anh và Mỹ một chiến lược, họ cần phải sản xuất kháng sinh để cứu sống các binh sĩ. Vậy là với sự thúc đẩy của cả khoa học và những toan tính chính trị, kỷ nguyên kháng sinh mới thực sự bắt đầu.

Năm 1945, chỉ có Fleming, Chain và Florey nhận giải Nobel Y học, những thành viên khác góp phần vào quá trình tạo ra kháng sinh penicillin đều không được công nhận. Hơn nữa, trong trí nhớ của tất cả công chúng, câu chuyện hấp dẫn kể về may mắn tình cờ của Fleming đã biến ông trở thành anh hùng, vị anh hùng duy nhất.
Nói vậy không phải để phủ nhận những đóng góp của Fleming, mà để tiết lộ một bức tranh lịch sử thực tế và toàn diện. Rằng với một mình Fleming thì không thể bắt đầu một kỷ nguyên kháng sinh rực rỡ của y học.

Thay cho lời kết, đây là một trích dẫn của sử gia khoa học Santesmases: "Những ảo tưởng về anh hùng giúp ích rất ít trong việc tìm hiểu lịch sử khoa học và bản thân khoa học". Trong mắt nhiều người, Fleming có thể vẫn là một anh hùng, nhưng chắc chắn ông không phải là anh hùng duy nhất giúp chúng ta có được kháng sinh ngày hôm nay.

Tham khảo Openmind, Mosaic, Wikipedia.
 

trucxinh0505

Xóm nhỏ phố núi
Thành viên BQT
Administrator
Chuyển ngữ
Tác giả
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,938
Điểm cảm xúc
1,987
Điểm
113
6. Leonardo da Vinci

Leonardo da Vinci, Cuộc đời và tác phẩm nghệ thuật của ông

Chân dung Leonardo Da Vinci


Leonardo da Vincilà một thiên tài thực sự, người đã tạo ra thế giới này với sự hiện diện của ông từ ngày 15 tháng 4 năm 1452 đến ngày 2 tháng 5 năm 1519. Ông là một trong những nghệ sĩ có ảnh hưởng nhất trong lịch sử, đã để lại một di sản đáng kể không chỉ trong lĩnh vực nghệ thuật mà còn trong khoa học cũng như, mỗi kỷ luật thông báo sự thông thạo của mình về người khác. Da Vinci sống trong một thời đại hoàng kim của sự sáng tạo giữa những người đương thời như Raphael và Michaelangelo, và đóng góp thiên tài độc đáo của mình cho hầu hết mọi thứ anh chạm vào. Giống như Athens trong thời đại của Pericles, Ý thời Phục hưng là một đỉnh cao trong lịch sử loài người. Ngày nay, không có cái tên nào có vẻ tượng trưng cho thời đại Phục hưng hơn Leonardo da Vinci.

Đầu năm: 1452 đến 1476
Leonardo da Vinci sinh ra ở một làng Tuscan gần Vinci. Ông bắt đầu học nghề 9 năm ở tuổi 14 cho Andrea del Verrocchio, một nhà điêu khắc, họa sĩ và thợ kim hoàn nổi tiếng, một nhân vật quan trọng trong thế giới nghệ thuật thời đó. Tại xưởng vẽ Florence bận rộn của Verrocchio, Leonardo trẻ tuổi có thể đã gặp những bậc thầy như Sandro Botticelli khi làm việc bên cạnh những người học việc Domenico Ghirlandaio, Pietro Perugino và Lorenzo di Credi.

Verrocchio, người đã học nghề của mình dưới thời bậc thầy Donatello, là nhà điêu khắc được công nhận chính thức cho gia đình Medici, những người cai trị nước Ý trong thời kỳ này. Dưới sự giám hộ của Verrocchio, da Vinci có lẽ đã tiến bộ từ thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau quanh xưởng vẽ đến pha trộn sơn và chuẩn bị bề mặt. Sau đó, anh ta đã tốt nghiệp để nghiên cứu và sao chép các tác phẩm của chủ mình. Cuối cùng, anh ta đã hỗ trợ Verrocchio, cùng với những người học việc khác, sản xuất các tác phẩm nghệ thuật của bậc thầy.

Da Vinci không chỉ phát triển kỹ năng vẽ, vẽ và điêu khắc trong thời gian học nghề, mà thông qua những người khác làm việc trong và xung quanh xưởng vẽ, anh đã tiếp thu kiến thức trong các lĩnh vực đa dạng như cơ khí, mộc, luyện kim, phác thảo kiến trúc và hóa học. Vào năm 1473, khi anh học được hơn nửa chừng với Verrocchio, anh đã hoàn thành Bản vẽ phong cảnh cho Santa Maria della Neve, một cây bút và mực miêu tả về thung lũng sông Arno. Đó là công việc sớm nhất rõ ràng là do da Vinci.

Những bức vẽ của Leonardo da Vinci sẽ trở thành một phần thiết yếu trong di sản của ông. Da Vinci đã phác thảo một cách sinh sôi nảy nở, lên kế hoạch phát minh, khám phá giải phẫu người, vẽ phong cảnh và ngăn chặn các kế hoạch cho các bức tranh như The Virgin of the Rocks và bức tranh tường duy nhất còn sót lại của ông, The Last Supper.

Phần lớn sản phẩm sáng tạo khác của anh ấy trong thời gian làm việc với Verrocchio đã được ghi nhận cho chủ nhân của xưởng vẽ mặc dù các bức tranh là những nỗ lực hợp tác. Trong những năm qua, các nhà sử học đã kiểm tra chặt chẽ những kiệt tác Verrocchio như Bí tích Rửa tội của Chúa Kitô và Truyền tin để cân nhắc về những nhân vật cụ thể mà da Vinci chịu trách nhiệm. Trong "Phép rửa của Chúa Kitô", xuất hiện từ năm 1475, các chuyên gia suy đoán rằng một trong những thiên thần là tác phẩm của da Vinci, trong khi trong "Truyền tin", được sản xuất trong cùng khoảng thời gian, các chuyên gia phát hiện ra tác phẩm của nghệ sĩ tập sự trong đôi cánh của thiên thần và nền. Trên thực tế, các nhà sử học đã chụp x-quang "Truyền tin" để phân biệt dứt khoát giữa những nét cọ nặng hơn của Verrocchio với sơn dựa trên chì từ những nét vẽ nhẹ hơn, dựa trên nước của da Vinci.

Mặc dù là thành viên của hội họa sĩ Florence vào năm 1472, họa sĩ vẫn tiếp tục nghiên cứu với Verrocchio với tư cách là trợ lý cho đến năm 1476. Những ảnh hưởng của chủ nhân của ông thể hiện rõ ở sức sống vượt trội và tính chính xác về mặt giải phẫu của các bức tranh và bản vẽ của Leonardo.

Trung niên: 1477-1499

Sau khi rời xưởng phim Verrocchio để thành lập công ty của riêng mình, da Vinci bắt đầu đặt nền móng cho di sản nghệ thuật của mình. Giống như những người cùng thời, ông tập trung vào các chủ đề tôn giáo, nhưng ông cũng lấy hoa hồng chân dung khi chúng xuất hiện. Trong khoảng 5 năm tiếp theo, ông đã sản xuất một số bức tranh đáng chú ý, bao gồm Madonna of the Carnation, Ginevra de 'Benci, Benois Madonna, Adanda of the Magi và St. Jerome in the Wild wild. Hai ảnh sau còn dang dở.

Leonardo da Vinci đã nhận được một ủy ban để vẽ "Chầu thánh pháp sư" của mình từ những người lớn tuổi trong nhà thờ Florence, người dự định sử dụng nó như một bàn thờ. Tác phẩm nghệ thuật này có ý nghĩa lịch sử nhờ vào sự đổi mới mà da Vinci đã tạo ra là duy nhất trong số các công ước nghệ thuật của những năm 1480. Anh ta tập trung đứa trẻ Trinh và Chúa Kitô trong cảnh trong khi các nghệ sĩ trước đó đã đặt chúng sang một bên. Da Vinci đã cải thiện các thực tiễn tiêu chuẩn về phối cảnh bằng cách thay đổi độ rõ nét và màu sắc khi các vật thể ngày càng trở nên xa vời. Thật không may, anh ta đã không hoàn thành hoa hồng do lời đề nghị tốt hơn từ Công tước Milan để trở thành nghệ sĩ thường trú tại tòa án của anh ta.

Khi ở Milan, nghệ sĩ đã kêu gọi những sở thích và kiến thức đa dạng của mình để tạo ra các bộ sân khấu và thiết kế quân sự cho Công tước cũng như các bức tranh. Đầu nhiệm kỳ tại tòa, da Vinci đã sản xuất phiên bản đầu tiên của Virgin of the Rocks, một bàn thờ cao sáu feet còn được gọi là "Madonna of the Rocks". Trong bức tranh này, xuất hiện từ năm 1483, họa sĩ thử nghiệm pha trộn các cạnh của vật thể trong ánh sáng không rõ ràng để tạo ra một hiệu ứng khói được gọi là sfumato, một kỹ thuật mà nghệ sĩ sẽ tiếp tục phát triển trong các tác phẩm tương lai của mình.

Có lẽ vì mong muốn điều chỉnh kỹ thuật này mà bức tranh còn sót lại khác của ông từ những năm ở Milan, Bữa ăn tối cuối cùng, đã xuống cấp rất nhanh. Nghệ sĩ đã sử dụng sơn gốc dầu trên thạch cao cho cảnh này của Chúa Jesus và các tông đồ của ông tại bàn vì sơn bích họa thông thường dựa trên nước của ông rất khó pha trộn cho hiệu ứng sfumato mà ông tìm kiếm. Chỉ trong vài thập kỷ, phần lớn bức tranh đã bong ra khỏi bức tường ở vị trí của nó tại tu viện Santa Maria del Grazie. Bức tranh vẽ "Bữa tối cuối cùng" của Leonardo da Vinci hiện đang treo ở Louvre, phần lớn, là một bản tái tạo của bức bích họa thất bại.

Những năm sau: 1500-1519
Khi Pháp xâm chiếm Milan, nghệ sĩ trở về nhà, qua Venice và Mantua, đến Florence. Danh tiếng của anh ấy đi trước anh ấy, và anh ấy đã được những người bạn cũ và những nghệ sĩ mới nổi say đắm với những sáng tạo trong nghệ thuật. Trong kỷ nguyên cuối cùng của cuộc đời, da Vinci đã hoàn thành số lượng tranh nhiều hơn so với trước đây. Khi ông tái định cư ở Florence vào năm 1500, họa sĩ đã đạt được tiến bộ sơ bộ về bức tranh của ông, Trinh nữ và trẻ em với Saint Anne , "ông sẽ gác lại những điều còn dang dở, không được hoàn thành trong 10 năm nữa.

Leonardo bắt đầu tạo ra tác phẩm nổi tiếng và được nhân rộng nhất của mình, Mona Lisa , một vài năm sau đó khi anh nhận được hoa hồng từ Francesco del Giocondo để vẽ vợ. Ngày hoàn thành chính xác cho "Mona Lisa" vẫn còn trong câu hỏi, nhưng nhiều nhà sử học đồng ý rằng da Vinci bắt đầu kiệt tác vào năm 1503.

Leonardo da Vinci cũng chấp nhận một ủy ban cho một bức tranh tường sẽ được lắp đặt trong Hội trường 500 tại Palazzo Vecchio ở Florence. Chủ đề là một cảnh chiến đấu tại Anghiari , và bức tranh mô tả một mớ ngựa và chiến binh cơ bắp. Đó là, tuy nhiên, định mệnh là chưa hoàn thành. Bậc thầy đương đại Michelangelo đã nhận được một ủy ban để vẽ Trận chiến Cascina trên bức tường đối diện, cũng là một công việc còn dang dở. Không có gì trong cảnh chiến đấu của da Vinci tồn tại, ngoại trừ một bản sao của họa sĩ Peter Paul Rubens và bản phác thảo sơ bộ của Leonardo.

Trong cùng khoảng thời gian đó, họa sĩ đã tạo ra phiên bản thứ hai của bức tranh, "Virgin of the Rocks", có khả năng là một ủy ban để lắp đặt trong một nhà nguyện tại nhà thờ San Francesco Maggiore của Milan. Sự khác biệt chính giữa hai phiên bản bao gồm lựa chọn màu sắc, ánh sáng và chi tiết về bố cục.

Trang web mộ Leonardo Da Vinci

Leonardo trở lại Milan vào năm 1506 để chấp nhận một ủy ban chính thức cho một bức tượng cưỡi ngựa. Trong quá trình cư trú bảy năm trong thành phố này, nghệ sĩ sẽ tạo ra một cơ thể các bản vẽ về các chủ đề từ giải phẫu người đến thực vật học, cộng với các bản phác thảo về phát minh vũ khí và nghiên cứu về chim trong chuyến bay. Sau này sẽ dẫn đến bản vẽ khám phá của ông về máy bay của con người. Tất cả các bản vẽ của ông trong thời gian này phản ánh sự quan tâm của da Vinci về cách mọi thứ được kết hợp với nhau và cách chúng hoạt động.

Khi rời Milan năm 1513, Leonardo dành thời gian ở Rome. Vào tháng 10 năm 1515, Vua Francis I của Pháp đã chiếm lại Milan. Quốc vương đã phong cho ông danh hiệu kiến trúc sư, nghệ sĩ và thợ cơ khí hàng đầu cho nhà vua. Năm 1516, ông tham gia phục vụ của Đức Phanxicô, và sau đó đi đến nơi cư trú cuối cùng gần tòa án Fontainebleau của Vua Pháp Francis I. Nhiều nhà sử học tin rằng Leonardo đã hoàn thành bức tranh cuối cùng của mình, Thánh John the Baptist , tại nhà ở vùng nông thôn của ông ở Cloux, Pháp. Kiệt tác này thể hiện sự hoàn hảo của mình về kỹ thuật sfumato. Leonardo qua đời tại Clos Lucé, vào ngày 2 tháng 5 năm 1519 ở tuổi 67. Nguyên nhân thường được cho là do đột quỵ tái phát. Francis I đã trở thành một người bạn thân thiết. Nó đã được ghi lại rằng nhà vua ôm đầu Leonardo khi chết, mặc dù câu chuyện này, được người Pháp yêu quý và được Ingres miêu tả trong những bức tranh lãng mạn, có thể là truyền thuyết hơn là thực tế. Ông được chôn cất tại Nhà nguyện Saint-Hubert, Amboise, Pháp.

Ảnh hưởng của Da Vinci đối với cuộc sống và nghệ thuật
Trong các tác phẩm nghệ thuật được tạo ra bởi chính đồng nghiệp của mình, ảnh hưởng của các tác phẩm của Leonardo da Vinci là điều hiển nhiên. Raphael và thậm chí đôi khi là đối thủ của Michaelangelo đã áp dụng các kỹ thuật đặc trưng của da Vinci để tạo ra các nhân vật hoạt động tương tự, thực tế về mặt giải phẫu.

Sự phá cách sáng tạo của anh ấy từ các tiêu chuẩn nghệ thuật trong thời đại của anh ấy sẽ hướng dẫn các thế hệ nghệ sĩ đi theo. Mặc dù da Vinci đã vẽ nên những khung cảnh tôn giáo thông thường trong thời đại của ông, như Magi và Madonna và trẻ em, vị trí độc nhất của ông về các nhân vật quan trọng, kỹ thuật chữ ký và những cải tiến của ông về viễn cảnh đều chưa từng thấy trước đây. Trong Bữa ăn tối cuối cùng, cách anh ta cô lập Chúa Kitô tại tâm chấn của cảnh và biến mỗi sứ đồ thành một thực thể riêng biệt, nhưng đồng thời hợp nhất tất cả họ trong lúc này, là một nét vẽ thiên tài mà các nghệ sĩ tiếp theo trong lịch sử sẽ phấn đấu để nhân rộng.

Cho đến ngày nay, những người đam mê nghệ thuật trên toàn thế giới coi "Mona Lisa" mang tính biểu tượng là một trong những bức tranh vĩ đại nhất mọi thời đại. Hình ảnh của cô tiếp tục xuất hiện trên các mặt hàng từ áo phông đến nam châm tủ lạnh, và thay vì tầm thường hóa việc nhập khẩu kiệt tác, sự phổ biến này phục vụ để bất tử các bức tranh và bản vẽ của Leonardo. Họ vẫn luôn đi đầu trong trái tim và khối óc của mọi người trong nhiều thế kỷ sau khi ông qua đời.

Giống như William Shakespeare về văn học và Sigmund Freud về tâm lý học, tác động của Leonardo đối với nghệ thuật là rất lớn. Trong suốt cuộc đời của mình, Leonardo da Vinci tránh được những mưu mô của tham vọng trần tục và phù phiếm. Ông là một người đàn ông dè dặt và thu mình, không quan tâm đến vinh quang, và hoàn toàn chắc chắn về giá trị của khả năng của mình. Cùng với một nhóm nhỏ gồm các nhân vật thời Phục hưng đương đại, Leonardo da Vinci trở thành trung tâm của một phong trào nghệ sĩ đã làm phong phú vĩnh viễn nền văn hóa phương Tây.
 

trucxinh0505

Xóm nhỏ phố núi
Thành viên BQT
Administrator
Chuyển ngữ
Tác giả
Tham gia
14/4/19
Bài viết
10,938
Điểm cảm xúc
1,987
Điểm
113
7. Thomas Newcomen

Thomas Newcomen
Kỹ sư và nhà phát minh người Anh

Thomas Newcomen , (báp têm ngày 28 tháng 2 năm 1664, Dartmouth , Devon , Eng. Đã chết ngày 5 tháng 8 năm 1729, Luân Đôn), kỹ sư người Anh và nhà phát minh động cơ hơi nước trong khí quyển, tiền thân của động cơ James Watt .
Là một thợ rèn sắt ở Dartmouth, Newcomen nhận thức được chi phí cao khi sử dụng sức mạnh của ngựa để bơm nước ra khỏi mỏ thiếc Cornish. Với trợ lý John Calley (hoặc Cawley), một thợ sửa ống nước, anh đã thử nghiệm hơn 10 năm với một bơm hơi. Nó vượt trội so với máy bơm thô Thomas Savery . Trong động cơ của Newcomen, cường độ áp suất không bị giới hạn bởi áp suất của hơi nước. Thay vào đó, áp suất khí quyển đẩy pít-tông xuống sau khi hơi nước ngưng tụ tạo ra chân không trong xi lanh.
Vì Savery đã có được bằng sáng chế rộng rãi cho máy bơm của mình vào năm 1698, Newcomen không thể cấp bằng sáng chế cho động cơ của mình. Do đó, anh đã hợp tác với Savery. Động cơ Newcomen được ghi nhận đầu tiên được dựng gần Lâu đài Dudley, Staffordshire, vào năm 1712.

Động cơ hơi nước mới, 1747.

Động cơ hơi nước mới, 1747. © Photos.com/Jupiterimages

Newcomen đã phát minh ra máy bay phản lực ngưng tụ bên trong để thu được chân không trong xi lanh và thiết bị van tự động. Bằng cách sử dụng hơi nước ở áp suất khí quyển, anh ta giữ trong giới hạn làm việc của vật liệu của mình. Trong một số năm, động cơ của Newcomen đã được sử dụng trong việc rút mìn và trong việc nâng nước để cung cấp năng lượng cho vòi nước.

Mô hình động cơ hơi nước Newcomen, 1856.

Mô hình động cơ hơi nước Newcomen, 1856. © Photos.com/Jupiterimages

Bài viết này được sửa đổi và cập nhật gần đây nhất bởi Amy Tikkanen, Correction Manager.
 
Top